Chúa Nhật 2 Mùa Vọng - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thứ năm - 04/12/2025 04:29  187
Chúa Nhật II MV/A
Tiếng Kêu Trong Sa Mạc

Chúa Nhật này, chúng ta có một nơi chốn, một chứng nhân và một cam kết.
Nơi chốn ấy là sa mạc, nổi tiếng với môi trường sống khắc nghiệt. Trời rất nóng, và nếu không được cung cấp đầy đủ, trước hết, bạn có thể chết vì khát. Nước trở thành một yếu tố thiết yếu.
Trong sa mạc của cuộc sống, nơi chúng ta chắc chắn sẽ tìm thấy chính mình, chúng ta lấy đâu ra những thứ cần thiết để duy trì bản thân?
Sa mạc trở thành nơi mà, bằng cách so sánh bản thân với sự mong manh của mình, chúng ta biết cách tiến về đúng hướng để tránh cái chết và bị cát nhấn chìm.
Dân Israel đã trải qua một trải nghiệm rất dài, trước khi vào Đất Hứa, trong những cồn cát, và họ đã đối mặt với những khó khăn dẫn họ đến sự bất trung nghiêm trọng.
Trong sa mạc, chính Chúa dẫn dắt chúng ta để chúng ta có thể thực sự khám phá ra điều thiết yếu: mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa.
Vì lý do này, Chúa Giêsu sẽ chỉ cho chúng ta thấy trong một số đoạn văn tiếp theo - chúng ta sẽ đọc vào Chúa Nhật đầu tiên của Mùa Chay - tầm quan trọng của việc có được loại trải nghiệm này.
Bằng cách hướng chúng ta đến sa mạc ngay từ đầu hành trình chuẩn bị cho Giáng Sinh và Phục Sinh, phụng vụ cho chúng ta biết rằng chúng ta phải đi qua nơi này để trải nghiệm trọn vẹn hai khoảnh khắc trung tâm này của đức tin, và từ đó cảm nhận rằng chúng ta được mời gọi đến với sự thân mật đích thực với Thiên Chúa, loại bỏ mọi thứ ngăn cản chúng ta đến với Ngài.
Hô-sê cho chúng ta biết chính Thiên Chúa muốn dẫn dắt vợ Ngài là Gôm-sê, một gái điếm, hình ảnh của dân được chọn đã bị ô uế bởi ngẫu tượng, đến với trái tim nàng, bởi vì chính Thiên Chúa biết rằng ở đây dễ nghe tiếng Ngài hơn.
Nguy cơ ngược lại tồn tại khi chúng ta có thể lạc lối ở nơi này và rồi tạo ra ngẫu tượng của riêng mình, nghĩ rằng mình được che chở, như dân Israel đã làm ở Sinai, với con bê vàng, hoặc chúng ta có thể càu nhàu vì thiếu nước và thức ăn.
Sa mạc khi đó trở thành thước đo sự tự do của chúng ta trước Thiên Chúa.
Chúng ta có thể trải nghiệm sa mạc ở đâu trong Mùa Vọng này? Với Lời Chúa, bằng cách đặt mình hoàn toàn trước Lời Chúa và thực sự tự vấn, chúng ta sẽ gặp phải những khó khăn không thể tránh khỏi, nhưng cũng sẽ cảm nhận được sự nhẹ nhõm từ chính sự âu yếm của Chúa, như một giọt nước làm ẩm đôi môi khô nứt của chúng ta.
Những giọt nước này dẫn chúng ta đến đời sống bí tích và gặp gỡ anh chị em mình.
Giữa sa mạc, có một chứng nhân đầy uy quyền, đó là Gioan Tẩy Giả. "Tiếng kêu trong hoang địa." Ngài được miêu tả với những nét vẽ khó hiểu. Một người mặc da lạc đà, sống bằng châu chấu và mật ong rừng.
Điều này giúp chúng ta hiểu được sự khắc khổ trong lời chứng của ngài. Một người, hơn cả một người thầy, thực sự là một chứng nhân, đó là điều mà Đức Phaolô VI đã nói rằng thế giới cần.
Chắc chắn, ý tưởng của Gioan Tẩy Giả về Đấng Messia đặc biệt mạnh mẽ bởi vì nó truyền tải rõ ràng hàm ý của một vị thẩm phán không khoan nhượng.
Tuy nhiên, lời rao giảng của ngài trở thành một động lực cho sự hoán cải.
Chúng ta cũng vậy, trong sa mạc của mình, có những chứng nhân nói với chúng ta về Đấng Messia, người mang khuôn mặt của Chúa Kitô, điều mà Gioan Tẩy Giả không rõ ràng vì không thấy Người hành động.
Nhìn thấy khuôn mặt dịu dàng của Chúa Giêsu, chúng ta hiểu rằng Đấng Messia vừa là Đấng thương xót vừa là một vị thẩm phán.
Vì vậy, trong Chúa Kitô, công lý và lòng thương xót đan xen vào nhau. Không có lòng thương xót nếu không có công lý, nhưng không có công lý nếu không có lòng thương xót.
Những chứng nhân của chúng ta, những người xuất hiện ở chân trời hôm nay, khác với Gioan Tẩy Giả vì họ đã trải nghiệm sự dịu dàng của Chúa Giêsu. Trong khi đó, bổn phận của tất cả các Kitô hữu là phải làm chứng. Mùa Vọng là thời điểm mà các môn đệ phải chỉ ra thiên đàng là thực tại.
Chúng ta cũng được thúc đẩy bởi giáo huấn của Đức Lêô, người đang bước những bước đầu tiên trong triều đại giáo hoàng của mình, và vì vậy, khi lắng nghe bài giáo lý của ngài, chúng ta nhận được những lời mời gọi chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu.
Những nơi chúng ta có thể nghe thấy lời mời gọi chuẩn bị cho Lễ Giáng Sinh bao gồm Thánh Lễ, các bài giáo lý và nghi thức sám hối.
Trong sa mạc, được sự hỗ trợ của các chứng nhân, chúng ta nhận được lời mời gọi hoán cải, nghĩa là trở về với tình yêu đầu tiên của đức tin, khi Thiên Chúa gọi chúng ta theo Ngài trong đời sống linh mục, tu sĩ và hôn nhân, và tái khám phá rằng trong mỗi lựa chọn của cuộc đời, chính Ngài đã đóng ấn nó trong đức tin và làm cho chúng bất khả phân ly bằng các bí tích.
Gioan Tẩy Giả, sa mạc và lời mời gọi hoán cải là những điểm chính của hành trình Mùa Vọng này.
Sa mạc đòi hỏi sự hiện diện của một người hướng dẫn, người có thể hướng dẫn cụ thể chúng ta trên những bước đường chúng ta phải đi và, đến lượt mình, trở thành người phát ngôn của Thiên Chúa, thúc giục chúng ta hoán cải, giúp chúng ta luôn tỉnh thức với mục tiêu của mình.
Không còn điểm nào khác để bắt đầu hành trình này.
Chúc bạn có một hành trình tốt đẹp qua sa mạc, lắng nghe các nhân chứng và đặc biệt được khích lệ bởi lời mời gọi của Chúa Nhật này: Hãy sám hối, vì Nước Thiên Chúa đã gần đến.

Hãy sám hối và dọn đường cho Chúa, vì Nước Trời đã đến gần!
Vào Chúa Nhật II Mùa Vọng này, Phúc Âm trình bày cho chúng ta hình ảnh của Gioan Tẩy Giả. Sứ mệnh của Gioan Tẩy Giả là chuẩn bị và dọn đường cho Đấng Messia, kêu gọi dân Israel sám hối tội lỗi và sửa chữa mọi điều gian ác. Với những lời lẽ đầy thách thức, Gioan Tẩy Giả đã loan báo về cuộc phán xét sắp xảy ra: " Bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa ." Hơn nữa, ông cảnh báo về sự giả hình của những người cảm thấy an toàn chỉ vì họ thuộc về dân được chọn: trước mặt Thiên Chúa, ông nói, không ai có quyền khoe khoang—" Ai đã khiến ngươi nghĩ rằng ngươi có thể thoát khỏi cơn thịnh nộ sắp đến? "—nhưng phải sinh " hoa trái xứng đáng với sự hoán cải ."
Vâng, khi hành trình Mùa Vọng tiếp tục, khi chúng ta chuẩn bị mừng lễ Chúa Kitô giáng sinh, lời kêu gọi hoán cải này của Gioan Tẩy Giả vang vọng trong cộng đồng của chúng ta. Đó là một lời mời gọi khẩn thiết để mở lòng và chào đón Con Thiên Chúa, Đấng đến giữa chúng ta để thực hiện sự phán xét của Thiên Chúa. "Chúa Cha," thánh sử Gioan viết, "không xét đoán ai cả, nhưng đã trao phó mọi quyền xét đoán cho Chúa Con, và ban cho Người quyền xét đoán, vì Người là Con Người" (x. Ga 5:22, 27).
Và chính hôm nay, trong hiện tại, vận mệnh tương lai của chúng ta được định đoạt; chính qua hành vi cụ thể của chúng ta trong cuộc sống này, chúng ta quyết định số phận vĩnh cửu của mình. Vào cuối những ngày trên trần gian, vào lúc lâm chung, chúng ta sẽ bị phán xét dựa trên sự giống nhau hay khác biệt của mình với Hài Nhi sắp chào đời trong hang đá Bêlem khiêm nhường, bởi vì Người là thước đo mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại. Cha trên trời, Đấng đã biểu lộ tình yêu thương xót của Người cho chúng ta qua việc Chúa Con giáng sinh, kêu gọi chúng ta bước theo dấu chân Người, biến cuộc đời chúng ta thành một món quà tình yêu giống như Người. Và hoa trái của tình yêu chính là những " hoa trái xứng đáng hoán cải " mà Gioan Tẩy Giả đã nhắc đến, khi dùng những lời lẽ gay gắt - " nòi rắn độc " - để nói với những người Pharisêu và Sađốc tụ tập trong đám đông khi ông làm phép rửa.
Qua Phúc Âm, Gioan Tẩy Giả tiếp tục lên tiếng qua nhiều thế kỷ, cho mọi thế hệ. Những lời lẽ rõ ràng và gay gắt của ông đặc biệt có sức chữa lành cho chúng ta, những người nam và nữ của thời đại chúng ta, khi mà ngay cả cách chúng ta trải nghiệm và cảm nhận Giáng Sinh, thật không may, thường bị ảnh hưởng bởi một tâm lý duy vật.
Gioan ưa thích sa mạc và ở lại đó để thực hiện công việc của mình, chờ đợi những ai đến với ông và bày tỏ lòng khao khát hoán cải. Ngay cả ngày nay, chúng ta cũng phải tách mình ra khỏi môi trường xung quanh, khỏi sự hỗn loạn của cuộc sống thường nhật, trở về với chiều sâu nội tâm, tự vấn và để mình được chất vấn. Sa mạc là môi trường thích hợp nhất để đón nhận một thế giới khác, để quyết định một cuộc sống mới. Ở đây, Gioan, vị tiền hô vĩ đại, đã diễn tả rõ ràng những suy nghĩ của mình về Chúa Giêsu, nhận ra nơi Người những nét đặc trưng không thể nhầm lẫn của Đấng Messia. Do đó, sự vĩ đại của Gioan nằm ở việc hướng dẫn đám đông đến với Chúa Giêsu. Thật vậy, thánh sử Mát-thêu đã viết rằng Gioan, khi nói với đám đông, đã nói: " Tôi rửa anh em bằng nước để anh em sám hối; nhưng Đấng đến sau tôi thì quyền năng hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người; Người sẽ rửa anh em bằng Chúa Thánh Thần và lửa. Người cầm nia trong tay, và Người sẽ rê sạch sân lúa của mình và thu lúa mì vào kho lẫm, còn rơm rạ thì đốt trong lửa không hề tắt ." Qua những lời này, điều đáng chú ý là Gioan Tẩy Giả nhận ra sự vĩ đại của Đấng sẽ đến sau ông, tức là Chúa Kitô. Nhưng ông không chỉ nhận ra sự vĩ đại này, mà còn tôn vinh nó. Thực tế, ông sẽ dần dần bước sang một bên khi Chúa Giêsu tiến bước.
Hãy bước sang một bên! Không gì khó khăn hơn đối với một người là biết cách rút lui vào bóng tối khi sứ mệnh của mình đã hoàn thành. Trong hầu hết các trường hợp, các vị tiền hô muốn sống lâu hơn sứ mệnh của mình. Nhưng Gioan thì không! Ông đi theo một con đường trái ngược với Chúa Giêsu: từ vinh quang đến tăm tối.
Chấp nhận sự lột trần này cho phép ông bước vào một trải nghiệm về tình yêu, một khám phá về mầu nhiệm Chúa Kitô. Điều mà ở bình diện bên ngoài có vẻ như là sự từ bỏ bản thân, ở bình diện bên trong, tương ứng với một sự tăng trưởng phi thường trong tình yêu, mà Gioan trải nghiệm bởi vì ông có khả năng kết nối với Chúa Kitô và duy trì chiều kích này mà không đầu hàng trước cám dỗ muốn chiếm vị trí trung tâm.
" Tiếng nói " của vị tiên tri vĩ đại kêu gọi chúng ta dọn đường cho Chúa, Đấng sẽ đến, trong sa mạc hôm nay, sa mạc bên ngoài và bên trong, khao khát nước hằng sống là Chúa Kitô. Vậy chúng ta hãy tự hỏi: Liệu chúng ta có dọn đường cho Chúa và uốn nắn những nẻo đường của Người khi chúng ta xét mình, khi chúng ta xem xét lại thái độ của mình không?
Nguyện xin Đức Trinh Nữ Maria giúp chúng ta thoát khỏi con vi-rút tự đề cao mình và dành chỗ cho Đấng duy nhất quan trọng, và hướng dẫn chúng ta đến một sự hoán cải tâm hồn đích thực, để chúng ta có thể đưa ra những lựa chọn cần thiết nhằm điều chỉnh tư duy của mình cho phù hợp với Tin Mừng. Amen!

Chúa Nhật II MV/C
Hãy dọn đường cho Chúa!
Điểm nổi bật của Chúa Nhật thứ hai Mùa Vọng này là lời mời gọi hãy tỉnh thức và hoán cải.
Sự tỉnh thức mà Mùa Vọng kêu gọi chúng ta bao hàm một sự hoán cải chân thành, sâu sắc và triệt để. Vấn đề không phải là thay đổi nghề nghiệp hay quốc tịch mà là tâm hồn của chúng ta. Sự hoán cải hệ tại ở việc chào đón Thiên Chúa là Cha một cách chân thành và nhất quán; trong việc thực hành những gì Chúa Giêsu đã loan báo; trong việc chấp nhận lời mời cống hiến hết mình cho người khác một cách quảng đại. Mọi hoán cải đều đòi phải cố gắng. Chúng ta không biến đổi một lần cho mãi mãi mà ngày này qua ngày khác. Chúng ta hãy để cho mình được Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn để lời Chúa ngự xuống trên chúng ta để biến đổi chúng ta, giống như Lời Chúa đã ngự xuống trên vị tiền hô là Gioan Tẩy Giả, người đã mời gọi hoán cải. Gioan bắt đầu rao giảng từ năm 27 đến 28 sau Công nguyên. Lời Chúa đến với ông trong sa mạc. Sa mạc là nơi thử thách, nhưng cũng là nơi diễn ra cuộc hành trình mệt mỏi và đầy hy vọng mà dân Chúa đã thực hiện để đến được miền đất hứa. Có một con đường mới để đi và có một miền đất hứa mới để đến: ơn cứu độ chạm đến mọi người và Đấng Messia sẽ thực hiện. Chúng ta phải dọn đường cho Chúa đến. Thật vậy, Thánh sử Luca đã trích dẫn một lời tiên tri của tiên tri Isaia: "Có tiếng kêu trong hoang địa: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi; con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng. Và mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa». Đây là những lời an ủi lớn lao. Tuy nhiên, đồng thời, chúng tạo thành một lời cảnh báo: theo gương Gioan, người Kitô hữu được mời gọi dọn đường mỗi ngày trên bãi cát của tâm hồn mình, hạ thấp những ngọn núi kiêu căng, ngạo mạn, ích kỷ của mình và lấp đầy khe núi của lòng tin bé nhỏ, hời hợt.
Thánh vịnh đáp ca nhắc nhở rằng cuộc hành hương của chúng ta phải hướng về Thiên Chúa - Đấng muốn mọi người được cứu độ - vừa là nước mắt vừa là niềm hân hoan, bởi vì chúng ta luôn bước đi “mang theo hạt giống được gieo” và chúng ta luôn trở về “mang theo bó lúa của mình”.
Vì thế, các bài đọc mở rộng tâm hồn để ta hy vọng. Tiên tri Ba-rúc (Bài đọc 1) mời gọi Giê-ru-sa-lem, biểu tượng của toàn thể dân tộc Israel, cởi bỏ “áo tang và phiền muộn” để “mặc lấy vinh quang rực rỡ đến từ Thiên Chúa vĩnh cữu”. Thánh sử Luca (Tin Mừng), khi nói về Thánh Gioan Tẩy Giả, muốn chúng ta hiểu rằng tất cả chúng ta phải đón nhận Chúa Kitô bằng cách chuẩn bị tâm hồn mình trở nên đơn sơ, khiêm nhường. Thánh Tông đồ Phaolô (Bài đọc thứ hai) mời gọi các tín hữu của Cộng đoàn Philipphê “cộng tác loan truyền Tin Mừng”.
Trong thế giới của chúng ta cần phải hoán cải và thanh lọc. Đức Thánh Cha Phanxicô, trong nhiều trường hợp, đã nói rằng chúng ta không được tìm kiếm của cải, danh vọng, đặc quyền, quyền lực, bởi vì hạnh phúc đích thực không bao gồm của cải trần gian này. Niềm vui đích thực, đối với người Kitô hữu, là đón nhận Chúa Kitô vào lòng mình. Nhưng chúng ta có thực sự sẵn sàng chào đón Chúa Giêsu không?
Chúng ta thường cảm thấy chán nản, chán nản trước bao khó khăn gặp phải trên đường đi, nhưng Thiên Chúa cao cả hơn chúng ta và hướng dẫn chúng ta hướng tới vương quốc của Người.
Chúng ta hãy cầu xin ơn hoán cải từ Thiên Chúa, cam kết điều chỉnh các nẻo đường đời mình để sẵn sàng chào đón Chúa đến.
Lễ Trọng Kính Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội
Nói Không với tội và thưa Vâng với Chúa!
Hôm nay chúng ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Tin Mừng thuật lại cảnh Truyền Tin giúp chúng ta hiểu điều chúng ta đang cử hành, đặc biệt qua lời chào của thiên thần. Ngài nói với Đức Maria những lời này: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng: Chúa ở cùng bà”. Trước khi gọi cô là Maria, tổng lãnh thiên thần Gabriel gọi cô là “Đấng đầy ân sủng”, và đây chính là tên mới mà Thiên Chúa đã ban cho cô và phù hợp với cô hơn tên mà cha mẹ cô đặt cho. Chúng ta cũng gọi như vậy mỗi khi đọc Kinh Kính Mừng.
Đầy ân sủng nghĩa là gì? Đức Maria tràn đầy sự hiện diện của Thiên Chúa và nếu Mẹ hoàn toàn được Thiên Chúa ngự vào, thì trong Mẹ không có chỗ cho tội lỗi. Đó là một điều phi thường, bởi vì thật không may, mọi thứ trên thế giới đều bị ô nhiễm bởi sự ác. Mỗi chúng ta khi nhìn vào bên trong mình sẽ thấy những mặt tối. Ngay cả những vị thánh vĩ đại nhất cũng là những người tội lỗi và mọi thực tại, ngay cả những thực tại đẹp đẽ nhất, đều bị ảnh hưởng bởi sự ác: tất cả, ngoại trừ Đức Maria. Mẹ là “ốc đảo xanh tươi” duy nhất của nhân loại, là ốc đảo duy nhất không bị ô nhiễm, được tạo dựng tinh khiết để hoàn toàn chào đón, cùng với tiếng “xin vâng” của Mẹ, Thiên Chúa đã đến thế gian và do đó bắt đầu một lịch sử mới.
Mỗi khi chúng ta nhận ra Mẹ là người đầy ân sủng, chúng ta dành cho Mẹ lời khen ngợi lớn nhất, giống như lời khen mà Chúa dành cho Mẹ. Một lời khen tốt đẹp dành cho một người phụ nữ là nói với cô ấy một cách duyên dáng rằng cô ấy trông trẻ trung. Khi chúng ta nói Đức Maria đầy ân sủng, theo một nghĩa nào đó, chúng ta cũng nói với Mẹ điều này ở mức độ cao nhất. Thực ra, chúng ta luôn nhìn nhận Mẹ là người trẻ, vì Mẹ chưa bao giờ già đi vì tội lỗi. Chỉ có một điều thực sự khiến bạn già đi, già đi từ bên trong: không phải tuổi tác mà là tội lỗi. Tội lỗi làm cho bạn già đi, vì nó làm cho trái tim trở nên xơ cứng. Nó đóng lại, làm cho nó trơ ra, làm cho nó khô héo. Nhưng sự tràn đầy ân sủng thì không có tội lỗi. Thế thì Mẹ luôn trẻ trung, Mẹ “trẻ hơn tội lỗi”, Mẹ là “người trẻ nhất của nhân loại” (x. G. Bernanos, Nhật ký của một linh mục nhà quê , II, 1988, tr. 175).
Giáo hội ngày nay khen ngợi Đức Maria bằng cách gọi Mẹ là đấng hoàn toàn xinh đẹp, tota pulchra. Giống như tuổi trẻ của mẹ không nằm ở tuổi tác, vẻ đẹp của mẹ không nằm ở vẻ bề ngoài. Đức Maria, như Tin Mừng hôm nay cho thấy, không có ngoại hình nổi bật: xuất thân từ một gia đình giản dị, ngài sống khiêm tốn ở Nazareth, một ngôi làng hầu như không được biết đến. Và mẹ không nổi tiếng: ngay cả khi thiên thần đến thăm mẹ cũng không ai biết, không có phóng viên nào ở đó ngày hôm đó. Đức Mẹ thậm chí không có được một cuộc sống thoải mái. Cuộc đời của mẹ là một cuộc đời đầy lo lắng và sợ hãi: bà “rất bối rối”, thánh sử Luca viết, và khi thiên thần “ tạm biệt mẹ”, các vấn đề ngày càng gia tăng. Chúng ta đừng quên rằng Giuse muốn bỏ đi một cách bí mật: «Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng:: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.”
Tuy nhiên, người đầy ân sủng đã sống một cuộc đời tươi đẹp. Bí quyết của mẹ là gì? Chúng ta có thể hiểu được điều này bằng cách nhìn lại cảnh Truyền Tin. Trong nhiều bức tranh, Đức Maria được miêu tả đang ngồi trước thiên thần với một cuốn sách nhỏ trên tay. Cuốn sách này là Kinh thánh. Vì vậy, Mẹ Maria thường lắng nghe Thiên Chúa và trò chuyện với Người. Lời Chúa là bí quyết của Mẹ: và Lời này gần gũi với trái tim Mẹ hằng ngày để rồi đã nhập thể vào lòng Mẹ. Bằng cách ở lại với Chúa, giao tiếp với Ngài trong mọi hoàn cảnh, Đức Maria đã làm cho cuộc đời của Mẹ trở nên tươi đẹp. Không phải vẻ bề ngoài, không phải những gì trải qua, nhưng trái tim hướng về Thiên Chúa làm cho cuộc sống trở nên tươi đẹp. Hôm nay chúng ta vui mừng nhìn vào sự viên mãn của ân sủng. Chúng ta hãy xin Mẹ giúp chúng ta luôn trẻ trung, nói “không” với tội lỗi và sống một cuộc sống tươi đẹp, nói “có” với Thiên Chúa bằng cách thực thi thánh ý Người mỗi ngày. Amen!

Thứ Hai Tuần II MV
Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội
Ápraham cưu mang Isaác nhờ niềm tin vào lời hứa của Thiên Chúa ‘và ông đã trở nên cha của nhiều dân tộc’ (x. Rm 4,18-22). Cũng thế, Đức Maria cưu mang Đức Giêsu nhờ đức tin. Việc mang thai trinh khiết Đức Giêsu là công trình của Thánh Thần, nhưng nhờ đức tin của Đức Maria. Thiên Chúa luôn là đấng thực hiện, nhưng qua sự cộng tác của con người. Vì thế, tin là đáp trả với lòng tín thác vào lời của Thiên Chúa, đón nhận những dự tính của Người làm của mình và hoàn toàn vâng phục thánh ý Người. Đức tin luôn đòi hỏi: 1) Tín thác vào Thiên Chúa 2) Tuyên xưng điều mình tin, bởi lẽ ‘có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ’ (Rm 10,10). Một khi đã nhận biết lời của Thiên Chúa, Đức Maria tin sự cưu mang trinh khiết Đức Giêsu và tin vào thánh ý Người muốn cứu mọi kẻ tội lỗi, mẹ muốn gắn bó với chương trình ấy, nên thưa: ‘Này tôi đây là tớ nữ Chúa, xin hãy thành sự cho tôi như lời sứ thần truyền’ (Lc 1,38). Bà Elisabét đã lên tiếng ca ngợi mẹ: ‘Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em’ (Lc 1,45). ‘Từ đây muôn đời sẽ khen tôi có phúc’ (Lc 1,48).
Giáo Hội có nhiệm vụ tiếp nối sứ vụ làm mẹ của Đức Maria, ban tặng cho thế giới Đấng Cứu Thế. Người kitô hữu ngày nay cần phải tiếp nhận chương trình của Thiên Chúa làm của mình ‘Đấng muốn mọi người được cứu độ’ ( 1Tm 2,4) bằng cách loan báo ơn cứu độ và sẵn sàng mang ơn ấy đến cho tha nhân, bởi lẽ ‘điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy’ (Ga 15,8).
+++
Chính Thiên Chúa sẽ đến cứu anh em
‘Hãy nói với những kẻ nhát gan: Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi; sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em’. Những lời của ngôn sứ trong cả đoạn trích hôm nay làm vang lên một niềm vui tiên báo Lễ Giáng Sinh.  Và cả tác giả thánh vịnh (Đáp ca) cũng gợi lên âm vang của lời sấm ngôn: Ơn cứu độ gần bên ai kính sợ Chúa, vì vinh quang Ngài cai trị mặt đất. Tình yêu và chân lý gặp nhau, công lý và hoà bình hôn nhau. Chân lý mọc lên từ mặt đất và công lý nhìn xuống từ trời cao’. Bài tin mừng là một giáo huấn tốt đẹp cho mọi người chúng ta. Một gương mẫu của tình liên đới kitô giáo: Người bại liệt hoàn toàn bất lực không thể tự mình di chuyển, nhưng chắc chắn khao khát được chữa lành, đã được người ta khiêng tới trên một chiếc giường; và vì đám đông dân chúng họ đã dỡ mái nhà và thả người bại liệt xuống trước mặt Đức Giêsu. Đức Giêsu luôn là đấng cứu chữa, tha thứ bằng quyền năng Thiên Chúa nhưng tất cả những điều đó cũng xảy ra nhờ vào niềm tin của những người mang người bại liệt đến. Thấy họ có lòng tin như vậy, Người bảo: ‘Này anh, tội anh được tha rồi’… để chứng tỏ mình là Đấng Chúa Cha sai đến có quyền tha tội; Người nói: ‘Đứng dậy, vác giường mà đi về nhà’.
Cần xác quyết rằng trong cuộc đời ta cần nâng đỡ những ai không tự mình đi được, những kẻ bại liệt phần linh hồn, để mang họ đến hang đá, đến bàn thờ, đến toà cáo giải để họ được cứu chữa và tha thứ. Chúa Giêsu vác thánh giá là vì tội lỗi của mọi người chúng ta, đã chịu đau khổ và đã chết để mang lại cho ta sự sống. Công việc ấy cũng được trao cho các môn đệ của Người, cho mỗi người chúng ta.
+++
Cách thức Đức Giêsu ban ơn tha tội cho anh bại liệt khiến những người quan sát tự hỏi Ngài là ai. Đối với họ Ngài là một kẻ phạm thượng dám cả gan cho mình ngang hàng với Thiên Chúa.
Đức Giêsu không trả lời họ bằng những giải thích lý thuyết, nhưng bằng hành động chữa lành bệnh bại liệt cho anh. Ngài giải thoát khỏi những đau khổ, khỏi sự cô độc và khỏi tật bại liệt cho những ai tin Ngài. Ngài đưa họ ra khỏi bóng tối cuộc đời để dẫn đưa họ vào trong ánh sáng. Ngài ban cho họ sức khỏe và một can đảm mới để hòa nhập với cộng đoàn. Nhờ Ngài mà ta trở nên một con người mới.
Những dấu chỉ của Đức Giêsu hôm nay đang cần cho thời đại chúng ta để nhận ra Nước Thiên Chúa đang đến.
Thứ Ba Tuần II MV
Qua dụ ngôn hôm nay, Đức Giêsu mạc khải vài tình cảnh trong cộng đoàn: xảy ra là một trong những kẻ bé mọn lầm lạc và hư mất do những người khác.
Lời chỉ trích của ngài nhằm vào các cộng đoàn của một thời cũng như các cộng đoàn của ngày hôm nay, lãng quên những nhóm người bền lề, những người ít được ưu đãi, những kẻ nghèo hoặc khách lạ, không hòa nhập.
Nên chẳng có gì lạ khi họ lầm đường và lầm lạc, mất định hướng và mất đức tin.
Trong dụ ngôn Đức Giêsu đưa ra những tiêu chuẩn liên hệ công bình hơn, đáp ứng cho cung cách này hơn: người bé nhỏ hư mất có tầm quan trọng đến độ ngài để tất cả những người khác lại để đi tìm bởi lẽ Thiên Chúa thực sự đứng về phía những người bị loại bỏ bên lề xã hội và bị quên lãng. Nước của Ngài ngược lại với xã hội chúng ta: những giá trị là lòng khoan dung, lòng kính trọng và sự giúp đỡ. Đó là lý do vì sao sứ vụ của các cộng đoàn là quan tâm đến những vấn đề của những người có hoàn cảnh khó khăn, và bảo vệ những lợi ích của họ để họ khỏi rơi vào những con đường nguy hiểm.
+++
Bấy giờ vinh quang Đức Chúa sẽ tỏ hiện, và mọi người phàm sẽ cùng được thấy rằng miệng Đức Chúa đã tuyên phán.
Hôm nay Isaia mang đến một sứ điệp an ủi và vui mừng: Đây Thiên Chúa các ngươi đang đến. Đây Đức Chúa đến với quyền năng như mục tử chăn dắt đoàn chiên. Và đoạn sách tiếp tục với hai hình ảnh thật đẹp: Thiên Chúa đấng cứu độ chúng ta là vị chiến thắng quyền uy và đồng thời cũng là vị mục tử khiêm nhu ấp ủ các con chiên. Ngỏ lời cho dân do thái lưu đày, lời loan báo thật là một nâng đỡ làm cháy lên niềm tin yêu hy vọng vào những lời hứa của Chúa. Đối với chúng ta ngày nay, đây là lời mời gọi phó thác vào Chúa, đấng điều khiển mọi biến cố lịch sử và dẫn đưa chúng nhằm đến ơn cứu độ. Đứng trước Lời Chúa, dân do thái ngày xưa cũng như chúng ta ngày nay, được mời gọi đừng đối đầu lại với ân sủng của Thiên Chúa và ý định cứu độ của Người. Sự đối nghịch giữa hai hình ảnh mà vị ngôn sứ nêu ra, có ý làm sáng tỏ, vào thời điểm cuối năm phụng vụ, điều này là nước Thiên Chúa không thuộc về thế gian này nhưng lại thấm đẫm bằng tình yêu thương vô bờ trong toàn bộ những gì thuộc về con người, vì chương trình cứu độ của Người dành cho tất cả mọi người không trừ ai. ‘Kìa Thiên Chúa các ngươi đang đến! Người đã phán và Lời của Người luôn luôn được thực hiện.
Lạy Chúa, con có biết bao tư tưởng sai lạc, lầm lẫn về Chúa. Con nhìn Chúa với đôi mắt của thế gian chứa đầy những chọn lựa sai lạc của những kẻ kết án Người là nguyên do của mọi sự dữ, đau khổ cho con người. Con đã không biết nghe điều Người nói qua miệng các ngôn sứ và nhất là qua Đức Giêsu và Giáo hội của Người. Lạy Chúa xin tha thứ cho con, xin soi sáng con bằng lời chân lý của Chúa, xin nâng đỡ sự mỏng giòn của con để con ý thức sự hiện diện của Chúa trong lịch sử đời con và trong thế giới này. Amen.
Thứ Tư Tuần II MV
Thanh niên thì mệt mỏi, nhọc nhằn, trai tráng cũng ngả nghiêng, lảo đảo. Nhưng những người cậy trông Đức Chúa thì được thêm sức mạnh. Như thể chim bằng họ tung cánh. Họ chạy hoài mà không mỏi mệt, và đi mãi mà không chùn chân.
Thế nào là cậy trông vào Chúa? Có ý nghĩa gì? Hay chỉ là một cách nói để không phải giải quyết vấn đề ngay bây giờ, dường như cái hiện tại chẳng có ý nghĩa gì.
Hy vọng (cậy trông) là ‘đã’ thấy trước điều chưa xảy ra. Hy vọng là tìm thấy cách để kiên vững giữa cái ‘đã’ và cái ‘chưa’ tới. Tạo nên những năng lực để tiến tới trước. Hy vọng là cảm thấy trước sẽ kết thúc thế nào và học cách đánh giá đúng đắn gánh nặng của những chán chường và sai lạc. Bởi vì ngay cả những người thanh niên cũng mệt mỏi, những người trưởng thành cũng sai lạc. Hy vọng là biết chờ đợi điều mình cảm thấy trước được thực hiện. Hy vọng là chia sẻ cùng với Thiên Chúa mỗi ngày điều ấy và cùng Người biệt phân trong những điều đang xảy ra cái ‘thế nào’ và cái ‘nếu’điều ấy có thể được thực hiện. Với lòng nhẫn nại, với sự can đảm, không sợ hãi, không loại trừ. Điều này giúp ta có được sức mạnh để đối diện ngay cả điều vô nghĩa.
Lạy Chúa, con cầu xin Chúa cho những người chán nản thất vọng, cho những người giận dữ vì bị xử cách bất công, cho ai không còn muốn tin vào lòng tốt của con người.
Hãy đưa mắt cao mà nhìn
Sống trên mặt đất, con người nhìn thấy những điều xung quanh, dừng lại nơi những sự cố xảy ra bên trong và bên ngoài ta. Ta đang sống trong kỷ nguyên truyền thông; hình ảnh, lời nói và tiếng động dội vào đầu ta. Hôm nay ta được mời gọi để đưa mắt lên cao, để chú ý nhìn, để có giây phút suy tư, cầu nguyện. Ngôn sứ Isaia nói: ‘Người ban sức mạnh cho ai mệt mỏi, kẻ kiệt lực Người làm cho nên cường tráng….những người cậy trông Đức Chúa, thì được thêm sức mạnh. Như thể chim bằng, họ tung cánh. Họ chạy hoài mà không mệt mỏi và đi mãi mà không chùn chân’. Chúa Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta: ‘Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học cùng tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng’. Chỉ cần ý thức tình trạng mệt mỏi của mình và đôi lúc bị đàn áp nữa để với lòng khiêm tốn và hăng hái đến gặp Đấng sắp đến một lần nữa giữa chúng ta. Người đến bẻ gãy sự cô độc nặng nề của ta, làm triển nở sự sống và mang lại niềm vui. Đó là điều ta mong chờ trong lễ hội Giáng sinh. Tất cả những gì còn lại chỉ là những đốm sáng có lẽ cũng đem đến một nụ cười thoáng qua nhưng không có khả năng mang lại hạnh phúc đích thực.
Thứ Năm Tuần II MV
Israel mong đợi Ngôn sứ Êlia trở lại trước khi Con Người đến, để chuẩn bị cho Người con đường. Chính Gioan Tẩy Giả đã thực hiện công việc này cho Đức Giêsu. Gioan đã chuẩn bị cho Chúa đến bằng cách mời gọi dân chúng sám hối và đoan hứa ơn cứu độ trong Nước Trời tương lai dành cho những ai đáp lại mời gọi của ông. Vì thế nên Đức Giêsu nói về Gioan: ‘Gioan chính là Êlia, người phải đến’.
Bởi vì Gioan đã nhận ra những dấu chỉ của thời đại nên ông đã được ban cho một vai trò đặc biệt giữa muôn người. Nước Thiên Chúa thuộc bình diện khác. Trong khi Gioan chỉ giới hạn trong việc loan báo ơn cứu độ, thì Đức Giêsu làm cho ơn cứu độ ấy sống động nơi mọi người: khi người ta đến với Người, họ được biến đổi, được giải thoát khỏi đau khổ, khỏi cảnh cô độc và bần cùng. Ta mới hiểu được vì sao những con người này phấn khởi vì Nước Thiên Chúa đến và dấn thân tiến bước trong cuộc đời.
+++
Đừng sợ, hỡi Giacóp, loài sâu bọ, hỡi Israel, kẻ mọn hèn
Giả như có ai bảo ta là đồ sâu bọ hoặc kẻ mọn hèn, chắc ta cảm thấy bị xúc phạm lắm vì chạm đến phẩm giá của ta.
Trong bài đọc sách Isaia thì ngược lại chính Thiên Chúa đã gọi người đối thoại với mình như thế và hai từ chỉ định ấy không gây ra một hậu quả giống như vậy.
Không phải chỉ vì trước mặt Chúa mọi kẻ khôn ngoan đều cảm thấy bé nhỏ, là kẻ mọn hèn nhưng nhất là vì cả hai từ ấy được sử dụng trong một bối cảnh rõ ràng: có những từ ‘đừng sợ’, ‘chính Ta phù trợ ngươi’, ‘Ta sẽ biến ngươi thành một cái bừa vừa sắc vừa mới và đầy mũi nhọn’.
Đàng sau hai từ ngữ ấy là một vị Thiên Chúa yêu thương luôn hiện diện, là đấng ‘cầm lấy tay phải ngươi’, là Đấng trong khi nhìn thấy những giới hạn và sự nghèo hèn cũng đồng thời nhìn thấy những khả năng: ‘Còn ngươi, vì Đức Chúa, sẽ mừng vui hoan hỷ, vì Đức Thánh của Israel, sẽ hãnh diện, tự hào’.
Lời Chúa không bao giờ làm tổn thương, cho dẫu nói sự thật về chúng ta. Không hạ bệ, nhưng cách khôn ngoan kết hợp việc sửa dạy với sự an ủi. Tỏ cho thấy sự mỏng giòn nhưng không cắt đứt chân.
Ta nên để cho mình ‘bị tổn thương’ theo nghĩa nêu trên. Ai làm điều này trở nên giống Gioan Tẩy Giả mà tin mừng hôm nay nhắc đến, đón nhận sự thật từ Thiên Chúa, trở nên người có khả năng nói sự thật và cảm nghiệm Tình yêu biến đổi mình thế nào.
Cảm tạ Chúa vì đã cho con biết con là ai, cho con biết tất cả phẩm giá của con. Cảm tạ Chúa vì đã quý mến con và những khốn cùng của con thay vì làm con xa cách Chúa, lại kéo Chúa đến gần con hơn.
Thứ Sáu Tuần II MV
Trong dụ ngôn Đức Giêsu trình bày một gương mẫu cho người đương thời. Họ giống như những đứa trẻ bướng bỉnh, cứng đầu: những kẻ khác phải nhảy múa như chúng muốn. Tất cả phải làm theo ý chúng muốn. Và vô phúc cho ai không đáp lại ý muốn của chúng, hoặc ai không nằm trong số những đặc loại mà chúng quy định sẵn, chẳng hạn như Đức Giêsu. Chúng dán cho Người cái ‘mác’ của người bệnh hoạn, chẳng làm tích sự gì, và loại trừ Người khỏi xã hội của chúng.
Thực ra, họ bị thiệt hại trong chính sự cứng đầu của họ. Bọn trẻ này không có khả năng vui chơi,  tự mình làm hỏng cuộc chơi. Trái lại, Đức Giêsu đến chỉ cho ta biết rằng trong Nước Thiên Chúa, người ta được xét xử theo những tiêu chuẩn khác: hành động chính trực, dấn thân cho những ai sống bên lề xã hội, liên đới với những người tội lỗi và những người thu thuế, đó là điều phân biệt giữa Đức Giêsu với những kẻ đương thời. Đức Giêsu khuyến khích những người đương thời và cả chúng ta ngày nay, hãy bỏ những thành kiến sẵn có, xét lại cách suy nghĩ của mình, hướng chúng ta đi theo nguyên tắc tình yêu của Người.
Như thế những đứa trẻ bướng bỉnh kia sẽ được giải thoát và gặp được niềm vui.
+++
Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, Đấng dạy ngươi những điều bổ ích, Đấng hướng dẫn ngươi trên đường ngươi đi
Hôm nay ngôn sứ Isaia nhấn mạnh rằng Thiên Chúa chỉ muốn điều tốt lành cho dân Người, và do đó chính Người đích thân dạy họ con đường phải đi. Nhưng sự thường, con người hành động như một đứa trẻ hay thay đổi, không để mình bị lôi vào trong dự tính của người khác, cho dầu người khác ấy là Thiên Chúa. Đức Giêsu so sánh thế hệ của ngài như thế và mời gọi ta, thế hệ hôm nay, hãy giũ bỏ một lối sống buồn chán chỉ quan tâm gia tăng của cải cho mình trong ảo tưởng đạt đến mức sống hạnh phúc. Thiên Chúa, trái lại, mời gọi ta chọn lựa những con đường của chia sẻ, của sự quan tâm đến người kém hơn mình. Đây không phải là kỹ năng của chúng ta dẫn đưa chúng ta đến hạnh phúc đích thực. Cần phải lưu tâm đến những lệnh truyền của Chúa để cảm nếm điều thiện hảo, sự công bình và một dòng dõi đông đúc, để hưởng ơn cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô.
Lạy Chúa, xin hãy kiên nhẫn trước tính hờ hững của con khi con để mình bị lừa dối bởi bao điều thực sự không mang lại điều tốt lành cho con, cũng chẳng mang lại lợi ích gì cho tha nhân. Xin dạy con biết con đường con phải đi, con đường đưa con đến với Chúa. Xin ban cho con can đảm và ý chí bắt đầu cuộc hành trình và không quay lại đàng sau. Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến!

Thứ Bảy Tuần II MV
Thánh nữ Lucia
Lucia, sinh ra ở Syracuse [Italia] vào cuối thế kỷ thứ 3, là một phụ nữ trẻ xinh đẹp, giàu có và tốt bụng. Sau khi mất cha, cô đã đính hôn với một người ngoại giáo trẻ tuổi, nhưng cô khao khát được theo Chúa Giêsu.
Mẹ của cô, Eutychia, đã được chữa lành một cách kỳ diệu sau khi cầu nguyện với Thánh Agatha. Lucia biết ơn đã thề nguyện sống khiết tịnh và nghèo khó, từ bỏ hôn nhân và hiến tặng của hồi môn của mình cho người nghèo. Cô bắt đầu chăm sóc những người nghèo khổ và trẻ mồ côi, nhưng vị hôn phu cũ ghen tuông và oán giận của cô đã báo cáo cô với lãnh sự Pascasio. Lucia bị bắt và bị kết án phải phơi bày với gái mại dâm, nhưng thật kỳ diệu là thân xác cô trở nên nặng, không ai di chuyển được. Những nỗ lực thiêu sống cô đã thất bại, và cuối cùng cô đã bị giết vào ngày 13 tháng 12 năm 304.
Theo truyền thống, mắt của cô đã bị móc ra, nhưng một cách kỳ diệu đã trở lại vị trí ban đầu của chúng. Sự sùng kính Thánh Lucia lan rộng nhanh chóng, đặc biệt là ở Sicily và Bắc Ý. Hài cốt của cô hiện đang ở Venice, trong Nhà thờ Thánh Geremia và Lucia. Bà được cầu nguyện để chống lại các bệnh về mắt và mù lòa, bảo vệ thị lực, trí óc và trái tim.
+++
Xử với ông theo ý họ muốn
Qua câu hỏi, các môn đệ diễn tả những dè chừng của các tiến sĩ luật đối với Đức Giêsu. Nếu Ngài là Đấng Messia mọi người mong đợi, thì ngôn sứ Êlia đã phải đến trước từ lâu để dọn đường rồi. Và giả như Êlia đến rồi thì đã bắt đầu đổi mới biết bao điều rồi: sẽ không còn đàn áp chính trị, không còn người thống trị người, không còn đối nghịch giữa người giàu kẻ nghèo, một thời đại hòa bình sẽ ngự trị.
Đức Giêsu giải thích cho các môn đệ biết thời đại hòa bình đã bắt đầu ngay bây giờ, cho những những ai biết tận dụng đáp lại lời mời gọi sám hối và tái tạo an bình trong tâm hồn họ.
Nhưng nỗi mong chờ của con người lại nằm ở chỗ khác: họ cậy dựa vào một vị quyền thế có thể giúp họ thiết lập hòa bình. Vì thế mà những lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả rơi vào trong khoảng không. Và còn tệ hơn nữa, bạo lực đe dọa những con người mang lại hòa bình: Gioan bị chém đầu, Đức Giêsu cảm thấy trước Ngài cũng sẽ bị đối xử giống như vậy.
+++
Để đưa tâm hồn cha ông trở lại với con cháu
Những lời liên quan đến sứ vụ của ngôn sứ Êlia được thánh sử Luca lập lại đễ diễn tả sứ vụ của Gioan Tẩy Giả: ‘Em sẽ đi trước mặt Chúa, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa’ (Lc 1,17).
Nhiều lúc chúng ta quên mất khía cạnh này của công việc các ngôn sứ. Ta nghĩ rằng công việc của họ là một việc mang tính thần học, loan báo ý định của Thiên Chúa, ‘hình phạt’ của Người như sự tha thứ, giúp cho những người đương thời nhận biết sự hiện diện của Chúa trong mọi nghịch cảnh của lịch sử.
Hơn thế nữa, còn là một công việc rất bình thường nhưng không kém quan trọng: tái lập lại những mối tương quan, liên kết những tình cảm, dẫn đưa lòng cha ông về với con cháu.
Ta không nên quên điều này là Lời Chúa đâm rễ hết sức dễ dàng nơi mà những vết thương lòng được lắng nghe và chữa lành.
Chuẩn bị một đoàn dân không có nghĩa chỉ là dâng cho Người những con người công chính nhưng còn là làm vơi đi gánh nặng cho những tâm hồn do sự chia rẽ, gánh nặng của sự cách xa tình cảm, còn là an ủi, làm dịu đi những cứng cỏi tâm hồn.
Con người ngôn sứ của chúng ta đòi hỏi nhiều: không chỉ là ‘tôi tớ phục vụ Lời’ mà còn biết quan tâm đến mảnh đất mà ta đang gieo để nó không còn bị bỏ hoang, nhưng được đào xới, cất đi những khoảng trống của sự cô độc, loại trừ những viên đá của những xung đột, xây dựng lên những hàng rào tình cảm thân thiết, mến yêu.
Lạy Chúa, xin làm cho con nên khí cụ hòa giải và hòa bình, xin thúc đẩy con phục vụ các tâm hồn đang đau khổ vì chia rẽ, vì cô độc vì xa cách.
+++
Ngôn sứ Êlia
Hai đoạn kinh thánh trong phụng vụ hôm nay gặp nhau nơi hình ảnh của ngôn sứ Êlia. Nhắc lại những ảnh hưởng và cá tính mạnh mẽ của ông hơn hết các ngôn sứ làm cho tác giả sách Huấn ca hết lòng thán phục, qua việc liệt kê những việc lạ lùng ông đã thực hiện để bảo vệ việc thờ phượng Thiên Chúa đích thực trong lòng con người và lòng xã hội lúc bấy giờ. Vị ngôn sứ kết thúc cuộc đời của mình bằng việc lên trời với một chiếc xe bằng lửa và mong đợi thời Đấng thiên sai. Tình yêu của ngài dành cho việc thờ phượng chân chính Thiên Chúa là cho ngài xứng đáng hiện diện trong thời viên mãn, khi mà chính Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, khẳng định rằng tinh thần của Êlia đã được sống lại nơi Gioan Tẩy Giả. Êlia được biết đến như vị ngôn sứ của lửa, vì lời của ngài đốt cháy, nóng bỏng như lửa, nhưng cũng vì ngài đã xin lửa từ trời xuống đốt cháy lễ vật trên núi Carmel, trên đám lính được sai đi bắt ngài...Lòng nhiệt thành của ông vì vinh quang Thiên Chúa, vì sự trung thành của dân đối với giao ước, sự tức giận của ông chống lại mọi tục hóa danh Chúa nhắc ta đến sứ vụ của Đức Giêsu, đấng đến mang lửa tình yêu cho mọi người và mong muốn cho lửa ấy bừng cháy lên.
Tiếc thay, Êlia đã bị bách hại, Đức Giêsu cũng thế, bị khước từ bởi các lãnh đạo dân chúng, họ hài lòng khi thấy Ngài bị treo trên thập giá.
Lạy Chúa, ước chi ngọn lửa tình yêu, lòng trung thành và biết ơn đối với Đấng Cứu Độ cũng cháy lên trong lòng chúng con. Lời Chúa phán: ‘Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta’. Trong thánh lễ tạ ơn, lòng chúng ta mở ra cho Chúa Giêsu, nhưng chỉ lãnh nhận Ngài trong bí tích chưa đủ. Cần phải để cho ta được biến đổi nhờ tinh thần của Ngài và nuôi dưỡng trong ta những tâm tình của Ngài. Như vậy mới là sự hiệp thông (hiệp lễ) đích thực.
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

ducchasi
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập216
  • Máy chủ tìm kiếm14
  • Khách viếng thăm202
  • Hôm nay10,966
  • Tháng hiện tại10,966
  • Tổng lượt truy cập63,996,980

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây