Chúa Nhật XXXIV TN/C Lễ Chúa Kitô Vua - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thứ năm - 20/11/2025 00:45  304
Chúa Nhật XXXIV TN/C Lễ Chúa Kitô Vua
Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến con khi Ngài vào Nước Ngài
Lễ trọng kính Chúa Kitô, Vua Vũ Trụ, kết thúc năm phụng vụ. Tin Mừng trình bày cho chúng ta vương quyền "nghịch lý" của Người: ngai vàng của Người là thập giá, vương miện của Người là một bó gai, đồ trang sức của Người là đinh sắt; Người không mặc y phục lộng lẫy, mà thậm chí còn bị lột cả áo choàng. Tuy nhiên, chính trong sự hủy diệt này, một tên tội phạm đã thoáng thấy một vương quyền không thuộc về thế gian này, một vương quyền chỉ về một vương quốc "khác". Phải, chính trong Chúa Giêsu, trong con người vẫn tiếp tục cầu nguyện, chịu đựng, chuyển cầu cho những kẻ giết mình, chính trong con người bị biến dạng ấy, vẻ đẹp của một tình yêu cao cả hơn tỏa sáng, phẩm giá của một vương quốc không thuộc về thế gian này (x. Ga 18:36). “Vì sự vĩ đại của vương quốc Ngài không phải là quyền lực trần gian, nhưng là tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu có khả năng vươn tới và chữa lành mọi sự. Vì tình yêu này, Chúa Kitô đã hạ mình xuống với chúng ta, Ngài đã sống trong cảnh khốn cùng của con người, Ngài đã trải qua tình trạng thấp kém nhất của chúng ta: bất công, phản bội, bị bỏ rơi; Ngài đã trải qua cái chết, nấm mồ, địa phủ. Bằng cách này, Vua của chúng ta đã đi đến tận cùng vũ trụ để ôm ấp và cứu rỗi mọi sinh linh. Ngài không lên án chúng ta, Ngài thậm chí không chiến thắng chúng ta, Ngài không bao giờ xâm phạm quyền tự do của chúng ta, nhưng Ngài đã bước đi với tình yêu khiêm nhường, tha thứ mọi sự, hy vọng mọi sự, chịu đựng mọi sự (x. 1 Cr 13:7)” (Đức Phanxicô).
Tuy nhiên, sẽ rất ít khi nhận ra Chúa Giêsu là Vua và tuyên xưng Ngài như vậy nếu Ngài không trở thành Vua của cuộc đời chúng ta, nếu chúng ta không dành cho Ngài quyền tối thượng, quyết định theo Ngài! Chính người được gọi là “kẻ trộm lành” đã chỉ cho chúng ta một con đường gồm ba bước: nhận biết, tuyên xưng, và phó thác.
Bước thứ nhất: nhận biết . Trong khi mọi người cám dỗ Chúa Giêsu, "hãy tự cứu mình đi", và tên tội phạm kia thúc giục Người chứng minh mình là Đấng Kitô bằng cách tự cứu mình và cứu họ, thì "kẻ trộm lành" nhận ra cả sự vô tội của Chúa Giêsu lẫn tội lỗi của chính mình. Anh ta không để mình bị choáng ngợp bởi những lời đàm tiếu, không để mình bị hoang mang bởi những lời đồn đại và sỉ nhục, nhưng anh ta biết cách nhận ra sự vô tội của Chúa Giêsu và đồng thời, anh ta biết cách thừa nhận tình trạng của chính mình, mà không tìm kiếm lời bào chữa hay vật tế thần. Biết cách thừa nhận những thất bại của chính mình và xưng thú tội lỗi của chính mình - nói tóm lại, biết cách hạ mình xuống - chính là cách để Thiên Chúa ngự trị. Không phải ngẫu nhiên mà mối phúc đầu tiên là: "Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ" (Mt 5:3). Nếu "cái tôi" của chúng ta quá cồng kềnh, nếu chúng ta không thể thừa nhận điều gì sai trái, thì Thiên Chúa không còn chỗ cho...
Thứ hai: xưng thú tội. Tên tội phạm này tuyên xưng Chúa Giêsu vô tội và đồng thời thú nhận tội lỗi của chính mình."Ngay khi chúng ta cho Ngài cơ hội, Thiên Chúa nhớ đến chúng ta. Ngài sẵn sàng xóa bỏ tội lỗi hoàn toàn và mãi mãi, bởi vì ký ức của Ngài không ghi lại những điều ác đã làm và không phải lúc nào cũng ghi nhận những sai lầm đã chịu, như ký ức của chúng ta. Thiên Chúa không nhớ đến tội lỗi, nhưng nhớ đến chúng ta, mỗi người chúng ta, những người con yêu dấu của Ngài. Và Ngài tin rằng luôn có thể bắt đầu lại, để đứng dậy" (Đức Giáo hoàng Phanxicô).
Thứ ba: tin tưởng. Người trộm lành không khép kín mình nhưng tin tưởng hướng về Chúa Giêsu. Ông xin Chúa Giêsu nhớ đến ông và trải nghiệm lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đảm bảo với ông rằng Ngài không chỉ nhớ đến ông mà còn đưa ông đi cùng: "Hôm nay, con sẽ ở với Ta trên Thiên Đàng" (c. 43). Đây chính là Đấng chúng ta đặt trọn niềm tin! Chúng ta còn sợ gì nữa? Để Chúa Giêsu cai trị có nghĩa là trao cho Ngài quyền điều khiển cuộc đời chúng ta, có nghĩa là tin tưởng vào Lời Ngài, tin chắc rằng Ngài quan tâm đến chúng ta và Ngài dẫn dắt cuộc đời chúng ta đến sự viên mãn. Trong ánh sáng quan phòng này, chúng ta có thể tin chắc rằng mọi sự, tuyệt đối mọi sự, đều góp phần vào một điều tốt đẹp hơn.
Đối diện với tất cả những điều này: "Chúng ta cũng cầu xin món quà của ký ức cởi mở và sống động này. Chúng ta cầu xin ơn không bao giờ đóng chặt cánh cửa hòa giải và tha thứ, nhưng biết cách vượt qua sự dữ và bất đồng, mở ra mọi con đường hy vọng. Cũng như Thiên Chúa tin tưởng chúng ta, vượt xa công trạng của chúng ta, chúng ta cũng được kêu gọi gieo rắc hy vọng và mang đến cơ hội cho người khác" (Đức Giáo hoàng Phanxicô).

2 Sam 5:1-3; Tv 121; Cl 1:12-20; Lc 23:35-43
Phụng vụ hôm nay kỷ niệm hai sự kiện: kết thúc năm phụng vụ, trong đó chúng ta đã lắng nghe và suy niệm Tin Mừng Luca, và lễ trọng kính Chúa Kitô Vua Vũ Trụ. Chúng ta được giới thiệu với chủ đề "vương quyền". Gần đây, các phương tiện truyền thông đại chúng đã tái hiện qua hình ảnh, phóng sự và bình luận về cái chết của Nữ hoàng Elizabeth II của Anh, những khía cạnh uy nghi của cuộc sống vương giả trần thế: đoàn kỵ binh diễu hành, hàng dài thần dân tỏ lòng tôn kính nữ hoàng, vương miện hoàng gia trên quan tài, sự tôn kính và tham dự tang lễ của những người quyền lực trên thế giới... Tuy nhiên, hôm nay, Thánh Luca mô tả hình ảnh của một vị vua khác, Chúa Giêsu: vương miện của Người được làm bằng gai, những người quyền lực thời bấy giờ và đám đông không tôn kính Người, mà chỉ chế giễu Người, và điều đáng kinh ngạc nhất là ngai vàng của Người là một cây thập tự. Từ "Vua" gợi lên hình ảnh thống trị, hoàn toàn trái ngược với những gì được trình bày cho chúng ta trong Tin Mừng hôm nay: cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá, sự thất bại của Người trên vũ đài thế gian này.
Bài đọc thứ nhất, trích từ sách Samuel, kể về việc Đavít được tấn phong làm vua Israel. Ông là hình ảnh tiên báo về Chúa Kitô, nhưng không giống Người: một vị vua phàm trần và khát máu, trong khi Chúa Kitô đã đổ máu mình để cứu độ chúng ta bằng cái chết trên thập giá. Đó là hình ảnh một vị vua phàm trần, được dân Israel mong muốn, ngay cả khi chống lại ý muốn của Chúa, bởi vì họ muốn ngang hàng với các dân tộc khác, bất chấp điều đó bao hàm điều gì: khuất phục quyền lực con người và những trò chơi quyền lực của nó.
Thánh Phaolô, trong thư gửi tín hữu Côlôsê, nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu, ngoài việc là Khởi Nguyên, còn là cùng đích của muôn vật, bởi vì "được tạo dựng nhờ Người và cho Người... hữu hình và vô hình, dù là ngai vàng, quyền lực, vương quyền hay bậc quyền năng." Vì vậy, Người xứng đáng với danh hiệu vua của vũ trụ.
Trong Phúc Âm của mình, Luca thuật lại, theo phong cách báo chí, một viễn kiến ​​rất khác về Vua Israel, Chúa Giêsu, và ở một khía cạnh nào đó, gợi lại những gì Người đã nói với chúng ta về những cám dỗ trong hoang địa: rằng ma quỷ sẽ trở lại vào đúng thời điểm đã định (Lc 4:13). "Thời điểm đã định" đó dường như đã đến; Chúa Giêsu đang ở trên thập giá, bị mọi người bỏ rơi, bị tước đoạt mọi phẩm giá và bị giết chết, và được mọi người thúc giục chỉ nghĩ đến bản thân mình. Chúa Giêsu là vua của một vương quốc đang tìm cách chinh phục toàn thế giới, không phải bằng vũ khí và bạo lực mà bằng tình yêu và lòng thương xót. Ai ở trong cùng hoàn cảnh với Người, người tội phạm trên thập giá với Người, người không có danh hiệu hay quyền lực, nhưng có trái tim rộng mở để hiểu rằng nơi con người chịu thập giá, một vị vua đích thực đã được tỏ lộ.
Nhưng Tin Mừng hôm nay mang đến cho chúng ta những dấu chỉ nào cho cuộc sống? Dấu chỉ đầu tiên là mầu nhiệm thập giá là sự mặc khải về một vị vua khác với vị vua mà chúng ta thường mơ ước. Ngài là một vị vua không nghĩ đến bản thân và không nhượng bộ trước những khiêu khích của kẻ thù. Thiên Chúa được mặc khải cho chúng ta nơi Chúa Giêsu không phải là Thiên Chúa toàn năng mà chúng ta mong đợi, nhưng là Thiên Chúa của tình yêu, Đấng dường như cũng đồng nghĩa với sự yếu đuối. Thập giá là cuộc cách mạng tai tiếng nhân danh tình yêu và chân lý, có thể thay đổi thế giới. Chúa Giêsu, trong giây phút thất bại, khẳng định rằng Ngài sở hữu quyền năng tối cao, quyền năng giải thoát khỏi tội lỗi và hứa ban ơn cứu độ cho những kẻ bị ruồng bỏ khỏi thế gian. Trong Cuộc Khổ Nạn, chúng ta hiểu được bản chất vương quyền của Chúa Kitô: bị tranh chấp, bị chế giễu, bị nhạo báng. Vì vậy, lễ hôm nay là một lễ mừng đức tin, đức tin vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng là vua của tình yêu và lòng thương xót, chứ không phải vua của quyền lực.
Lễ này cũng có thể gợi nhắc chúng ta suy ngẫm về cách chúng ta quản lý "quyền lực" của mình trong các mối quan hệ gia đình, nơi làm việc, trong giáo xứ và ngoài xã hội: chúng ta thiên về phong cách của Vua Đavít hay phong cách của Chúa Giêsu, vị vua của tình yêu và lòng thương xót? Tiếc thay, chúng ta phải thừa nhận rằng thái độ của Chúa Giêsu, đặc biệt là khi trải nghiệm trong những hoàn cảnh mà Luca mô tả, rất khó để chúng ta đạt được. Chúng ta phải giải thoát tâm hồn mình khỏi mọi thứ rác rưởi mà chúng ta bám víu, để có thể chào đón Vua vũ trụ được giới thiệu cho chúng ta trong phụng vụ hôm nay.
Suy Tư
- Đau khổ và cái chết gợi lên trong chúng ta thái độ nào: thái độ của vua trộm lành hay thái độ của vua đám đông?
- Phúc âm Luca, đã đồng hành cùng chúng ta trong hành trình năm nay, trong đoạn văn được trình bày cho chúng ta, đã giúp chúng ta phát triển thái độ tin tưởng và phó thác (tên trộm) như thế nào?
- Đức Kitô Vua có ý nghĩa gì đối với chúng ta?

Chúa Nhật XXXIV  TN/B
Đn 7,13-14; Tv 92; Kh 1,5-8; Ga 18,33-37
Lễ trọng Chúa Kitô, Vua vũ trụ
Giáo hội khép lại năm phụng vụ bằng lễ trọng Chúa Kitô Vua. Năm phụng vụ, trước mắt Thiên Chúa, là một thời gian không bao giờ kết thúc, trong đó có cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa và con người chúng ta đan xen nhau. Một cuộc đối thoại trong đó Thiên Chúa không nhượng bộ trước tiếng ‘không’ của con người, nhưng còn đi xa hơn, cố gắng vượt qua sự kháng cự của chúng ta bằng một tình yêu thực sự cao cả vô cùng: Chúa Cha không muốn bất cứ ai lạc lối! Chúa Giêsu đến giữa chúng ta, làm người, cố gắng mang lại không chỉ sự thật mà cả tình yêu, mời gọi chúng ta bước vào Vương quốc của Người.
Vì vậy, trong năm phụng vụ, bắt đầu bằng Mùa Vọng, chúng ta ‘nhớ’ – bằng cách sống lại – cuộc thương khó của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Sự sống của Chúa Con được trình bày cho chúng ta một lần nữa, để chúng ta có thể tham gia và nhờ đó đạt được mục tiêu: bước vào ơn cứu độ.
Chúng ta phải luôn nhớ rằng mỗi chúng ta, như một số người đã định nghĩa, con người không phải là 'là sản phẩm may rủi của tự nhiên'. Thiên Chúa biết chúng ta lớn lao như thế nào trước mắt Ngài: và không thể khác được, nếu chúng ta nghĩ chỉ trong giây lát về tình yêu bao la của người cha đã sinh ra một người con. Và thật đúng như vậy khi hôm nay chúng ta tôn vinh Chúa Giêsu, VUA của chúng ta, vì những gì Ngài không chỉ đã làm mà còn liên tục hoạt động giữa chúng ta và trong chúng ta.
Chỉ cần nghĩ đến sự hiện diện của Ngài trong Bí tích Thánh Thể, trở thành lương thực cho cuộc đời chúng ta, thậm chí là thường trú trong mỗi người chúng ta, tham gia vào cuộc sống của chúng ta ở đây, dù chúng ta có muốn hay không. Đây là sự thánh thiện và ý nghĩa đích thực của một cuộc sống được sống với Thiên Chúa: 'sống Chúa Giêsu', hay như Thánh Phaolô nói: 'Sống trong Chúa Giêsu'.
Quá nhiều người thậm chí không biết hoặc nghĩ rằng Chúa đóng một vai trò như vậy trong cuộc sống của chúng ta. Thật là một sự đáng tiếc! Chúng ta hãy được soi sáng bởi những lời mà Sách Khải Huyền nói với chúng ta hôm nay: “Chúa Giêsu Kitô là chứng tá trung thành, là trưởng tử kẻ chết, là thủ lãnh các vua trần thế, là Ðấng đã yêu thương chúng ta, Người đã dùng máu Người mà rửa chúng ta sạch mọi tội lỗi, và đã làm cho chúng ta trở nên vương quốc và tư tế của Thiên Chúa, Cha của Người. Nguyện chúc Người được vinh quang và quyền lực muôn đời. Amen.  Kìa, Người đến trong đám mây, mọi con mắt đã nhìn thấy Người, và cả những kẻ đã đâm Người cũng nhìn thấy Người, các chủng tộc trên địa cầu sẽ than khóc Người. Thật như vậy. Amen”. Kh 1,5-8).
Đọc Tin Mừng, dường như Chúa Giêsu đã chọn những thời điểm kịch tính nhất để khẳng định những chân lý cao cả, không cho phép có việc hiểu sai. Trước mặt Philatô, người có quyền phán xét và lên án, Chúa Giêsu có thể tự bảo vệ mình trước một lời buộc tội cụ thể: 'Ông có phải là vua dân Do Thái không?'. Lời buộc tội đó, trong mắt Philatô, có thể là một bịa đặt lố bịch của những kẻ thù của Chúa Giêsu. Làm sao trên thực tế Ngài có thể trở thành vua mà không đăng quang, không có lãnh thổ để cai trị, nhất là không có quyền lực? Trong khi Philatô, là người có Đế chế La Mã đằng sau, sẵn sàng can thiệp bằng lực lượng quân sự, thì Chúa Giêsu lại đơn độc, bị mọi người bỏ rơi, mạnh mẽ chỉ vì Ngài là Con Thiên Chúa, dứt khoát không liên quan với bất kỳ quyền lực trần thế nào.
Quyền năng của Người là Tình Yêu của Chúa Cha. Trước mặt Philatô là một con người chẳng có gì đáng sợ, một người đáng thương mà ông có thể nghiền nát bất cứ lúc nào ông muốn. Chúa Giêsu biết mình hoàn toàn nằm trong tay một quyền lực quái ác như thế, vẫn sẵn lòng chấp nhận cái Logích của Tình Yêu, đã trả lời một cách rõ ràng đến bất ngờ: "Quan tự ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về tôi? Philatô trả lời: "Ta đâu phải là người Do-thái. Nhân dân ông cùng các thượng tế đã trao nộp ông cho ta. Ông đã làm gì?" Chúa Giêsu đáp: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do-thái, nhưng mà nước tôi không thuộc chốn này" Philatô hỏi lại: "Vậy ông là Vua ư?" Chúa Giêsu đáp: "Quan nói đúng. Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi" (Ga 16:33-37).
Chúng ta biết rằng trước lời tuyên bố về sự thật này, Philatô đã hỏi: "Nhưng sự thật là gì? Và ông ta không có câu trả lời. Hai cách khác nhau, đối lập nhau để thực thi vương quyền và quyền lực.
Cách thứ nhất, của Philatô, cũng giống như cách của thế gian qua mọi thời đại, quyền lực trở nên tuyệt đối, hủy bỏ quyền tự do của con người, như trong các chế độ độc tài và trở thành người làm chủ con người và vạn vật. Đó là một quyền lực đôi khi được thực thi một cách độc ác đến mức gây ra nỗi kinh hoàng.
Ít nhất, chúng ta cảm thấy bị xúc phạm bởi cuộc đấu tranh giữa các đảng phái để giành các quyền lực khác nhau trong chính phủ, từ quốc gia đến địa phương: một cuộc chiến mà đôi khi được định nghĩa là 'bằng dao, vì nó không tiếc một đòn nào'.
Chúng ta sẽ không bao giờ có những từ ngữ thích hợp để lên án những kẻ hèn hạ leo lên nắm quyền, dù họ đến từ đâu, những hành vi phỉ báng 'phục vụ cộng đồng' đáng xấu hổ.
Tuy nhiên, Chúa Giêsu - và cùng với Người là tất cả các tín hữu theo Người, với những gương mẫu của nhiều vị Thánh - vẫn tiếp tục xưng mình là Vua, trước Philatô và trước chúng ta, trong sự trần trụi và sự yếu đuối rõ ràng của Người, vốn phớt lờ mọi hình thức quyền lực sai trái.
Chúa Giêsu tiếp tục khẳng định rằng sức mạnh của Người là tình yêu: một tình yêu không xấu hổ khi phục vụ, đến mức quỳ xuống rửa chân, như đã xảy ra trong Bữa Tiệc Ly, cho các môn đệ Người, gương mẫu cho các Tông đồ. Một quyền năng trở thành món quà, đến mức hiến mạng sống mình trên thập giá, để những người được Người cai trị, là chúng ta, có được sự sống và có sự sống dồi dào. Một sức mạnh ca tụng niềm vui của Người khi biến mình thành lương thực trong Bí tích Thánh Thể. Tuy nhiên, Ngài, không giống như con người chúng ta, thực sự có quyền năng đối với chúng ta, Ngài là Vua của chúng ta, Ngài và chỉ có Ngài mới có thể được gọi là Đường, Chân lý và Sự sống.
Đối với Ngài, mọi sự đều được tạo thành và với Ngài, nếu họ chấp nhận vương quyền của Ngài, họ sẽ được chia sẻ vinh quang. Chỉ về Ngài, chúng ta mới có thể nói trọn vẹn: 'Ngài là cuộc sống của tôi, tôi không có gì khác nữa'.
Và rồi nếu việc trị vì của Chúa Giêsu là yêu thương, chúng ta có thể thưa với Ngài bằng cả trái tim mình, như bản chất của tình yêu. Hãy nói với Ngài 'Cảm ơn vì Ngài yêu con'; được ôm trong vòng tay, ngay cả khi đôi khi, theo Ngài, đôi cánh tay của chúng ta, với Ngài, sẽ thấy mình bị dang rộng trên thập giá, nhưng điều đó luôn có nghĩa là an nghỉ trong Chúa.
Chúng ta hãy đọc những lời của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI viết bằng trái tim và cảm xúc:
“Ngày nay, niềm khao khát Chúa Kitô cũng tràn ngập thế giới của những người ở xa, khi một phong trào tâm linh đích thực nào đó rung động trong họ. Thế giới, sau khi đã quên và chối bỏ Chúa Kitô, lại đi tìm kiếm Ngài.” Nhưng nó không muốn tìm kiếm Ngài là ai và ở đâu. Họ tìm Ngài giữa những kẻ chết.
Từ chối thờ lạy Thiên Chúa làm người mà lại bái thờ cách nô lệ những con người tự cho mình là Thiên Chúa. Từ những sai lệch của những kinh nghiệm đau đớn của con người, một lời thú nhận vang lên với Chúa Kitô ẩn mặt: ‘Chúng con cần Ngài’, ngày nay có rất nhiều tiếng nói biệt lập khác cũng vang lên tạo thành một dàn đồng ca. Đó là một bản giao hưởng kỳ lạ của nỗi tiếc nuối Chúa Kitô đã mất; của những con người quảng đại học được chủ nghĩa anh hùng thực sự từ Ngài; của những người đau khổ cảm thông với người đang đau khổ; của những người lương thiện nhận ra trí tuệ của bậc thầy chân chính; của những người thất vọng tìm kiếm một lời nói chắc chắn, một nền hòa bình chắc chắn; của những người sẵn sàng hy vọng gặp được Ngài trên những con đường ngay thẳng hướng thiện.
Ôi Chúa Kitô, Đấng trung gian duy nhất của chúng con, Chúa thật cần thiết để chúng con hiệp thông với Thiên Chúa Cha, trở nên một với Chúa, Đấng là Con Một và là Chúa của chúng con, là nghĩa tử của Ngài, được tái sinh bởi Chúa Thánh Thần.
Chúa cần thiết đối với chúng con, hỡi vị Thầy duy nhất đích thực của những sự thật ẩn giấu của cuộc sống, để biết bản thể và số phận của chúng con, con đường để đạt được nó.
Lạy Đấng Cứu Chuộc của chúng con, Ngài cần thiết để chúng con khám phá ra nỗi khốn cùng của chúng con và chữa lành nó; có quan niệm về thiện và ác về niềm hy vọng và sự thánh thiện; để ăn năn tội lỗi của chúng con và được tha thứ.
Ôi Người Anh Cả của nhân loại, chúng con cần Chúa khám phá lại lý do thực sự của tình huynh đệ giữa con người, những nền tảng của công lý, những kho tàng bác ái, thiện ích tối cao của hòa bình. Chúa cần thiết đối với chúng con, chia sẻ với nỗi đau của chúng con, để biết ý nghĩa của đau khổ và mang lại cho nó giá trị đền tội và cứu chuộc.
Chúa cần thiết đối với chúng con, ôi Chúa Kitô, ôi Chúa ở cùng chúng con, để học biết tình yêu đích thực và bước đi trong niềm vui và sức mạnh của lòng bác ái của Chúa dọc theo con đường mệt nhọc của chúng con, cho đến cuộc gặp gỡ cuối cùng với Chúa, được chờ đợi với Chúa, Chúa được chúc tụng đến muôn đời” (Mùa Chay 1955).
Tất cả chúng ta đều mong muốn có được, dù chỉ là một phần nhỏ của ‘niềm đam mê đối với Chúa Giêsu’ này, những cảm xúc giống như Đức Phaolô VI, đó là những cảm xúc của các Kitô hữu yêu mến và để mình được Chúa Giêsu yêu thương.
Xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta từ bỏ chính mình cho trọn vẹn tình yêu.
Thứ hai tuần XXXIV Tn
Thánh Anrê Dũng Lạc và Các Bạn Tử Đạo Việt Nam
Vào thế kỷ XVI tại Đàng Ngoài, Annam và Đàng Trong – Việt Nam ngày nay –Tin mừng lần đầu tiên được rao giảng, công trình của những vị thừa sai trung kiên. Tử đạo càng làm cho mùa gặt được bội thu, trên mãnh đất bé nhỏ Á châu này. Từ 1625 đến 1886, trừ một ít thời gian yên lành, là giai đoạn những cuộc bách hại mà các vua quan đã thực hiện bằng mọi hình thức xảo trá và tinh ranh để đè bẹp giáo hội non trẻ. Số các vị tử đạo, trong vòng ba thế kỷ lên đến 130.000 người. Sự tàn ác của các lý hình không khuất phục được sự kiên cường của các vị chứng nhân đức tin: chém đầu, đóng đinh, thắt cổ, cưa chặt thân thể, chịu nhiều cực hình khủng khiếp trong ngục tù và trong những việc nặng nhọc, họ làm sáng tỏa vinh quang của Chúa, ‘Đấng biểu tỏ quyền năng trong những điều yếu hèn và ban cho những người yếu đuối sức mạnh tử đạo’. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vào ngày Chúa Nhật 19.06.1988 đã tuyên phong hiển thánh 117 vị tử đạo thuộc nhiều quốc gia và hoàn cảnh xã hội khác nhau: linh mục, chủng sinh, giáo lý viên, giáo dân trong số đó có một người mẹ và nhiều người cha gia đình, lính, nông dân…Anrê Dũng Lạc, linh mục, tử đạo năm 1839 và được Đức Giáo Hoàng Lêô XIII phong chân phúc năm thánh 1900. Ngoài ra, chúng ta cũng không quên Chân Phúc Anrê Phú Yên, vị tử đạo tiên khởi.
+++
Sự mẫn cảm của Đức Giêsu trong tin mừng hôm nay gợi lên trong ta lòng kính phục và niềm khích lệ lớn.
Thật vậy bà goá nghèo đã không kiêu hãnh về của dâng cúng của mình, chỉ muốn ẩn mình đi khi bỏ mấy đồng xu vào thùng tiền đền thờ: có đáng là gì so với những của dâng của những người giàu có! Những kẻ này ắt hẳn kiêu hãnh lắm: vì họ cho nhiều mà! Đức Giêsu lật ngược tình thế: ‘Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết’. Chúa không nhìn vẻ bên ngoài, ngài nhìn tấm lòng và biết đâu là lòng quảng đại đích thực.
Điều này khích lệ chúng ta khi ta ở trong cùng hoàn cảnh ấy, nhưng cũng khuyến khích chúng ta khiêm tốn, nếu ta có khả năng để cho đi nhiều; chúng ta đừng nên kiêu căng, vì tất cả đều là của Chúa ban. Thứ đến, khiêm tốn khi ta cho đi ít, khi ta thấy mình nghèo trong mọi phương diện: nghèo về mặt thể lý, về khả năng sánh với kẻ khác. Trong những trường hợp ấy, thật khó mà quảng đại, vì ta ngã lòng và thường bị cám dỗ không cho gì cả, dù một ít cũng không: vì có đáng gì đâu! Chúa nói với ta rằng, đáng giá, đáng giá hơn điều mà người khác làm với khả năng dư thừa, nếu với khả năng ít ỏi của mình, ta cho đi tất cả những gì có được: những lễ dâng này đẹp lòng Chúa hơn nhiều.
Nếu với khiêm tốn và tình yêu chúng ta phục vụ Chúa chỉ một chút điều ta có, ta làm một điều lớn lao và gần gũi Chúa hơn khi ta có khả năng cho đi cách vui vẻ những điều lớn lao bên ngoài.
Cám tạ Đức Giêsu về ánh sáng Chúa ban cho ta và xin Chúa cho ta và cho những ai thật lòng quảng đại khiêm tốn và bác ái đích thực.
+++
(Đanien 1:19)
Trong tuần cuối cùng của năm nay, phụng vụ giới thiệu sách Đa-ni-ên. Đây là một trong những sách gần đây nhất của Cựu Ước, và nhân vật chính của sách, Đa-ni-ên, được kể vào hàng các tiên tri vĩ đại. Nhưng không giống như Ê-sai, Giê-rê-mia và Ê-zê-chi-ên, những người thực sự là các tiên tri và nhân vật lịch sử, Đa-ni-ên rõ ràng là một nhân vật hư cấu, một dạng siêu anh hùng trẻ mãi qua nhiều thế hệ, một bằng chứng đáng kinh ngạc về lòng trung thành của nhóm nhỏ còn sót lại của Israen đối với Đức Chúa. Với những câu chuyện, giấc mơ và khải tượng đầy màu sắc, sách Đa-ni-ên bình luận về những bi kịch của thời đại mà sách được viết ra (thời kỳ bách hại vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên), giống như sách Ma-ca-bê đã cho chúng ta trải nghiệm trong phụng vụ tuần trước. Ngoại trừ việc Đa-ni-ên sử dụng lối kể chuyện để kể lại những nỗi kinh hoàng đó bằng ngôn ngữ khải huyền, đặt chúng trước đó bốn thế kỷ, trong thời kỳ lưu đày ở Babylon. Không chút bận tâm về lịch sử, tên tuổi của các vị vua vĩ đại trong quá khứ được tái hiện, và Đa-ni-ên sống giữa họ như một Giuse mới - đúng là một nô lệ, nhưng được công nhận về sự khôn ngoan và thông minh, được tôn vinh giữa những người khác, đến mức trở thành người được lắng nghe nhiều nhất. Nghệ thuật của Đa-ni-ên đã dẫn dắt những vị vua ngoại giáo này đến với sự tôn kính Thiên Chúa mà ông yêu mến và phụng sự.
Trong chương đầu tiên này, Đa-ni-ên tự giới thiệu mình là một người Do Thái trung thành, biết cách tồn tại trong một nền văn hóa mới mẻ và khác biệt, mà không để mình bị ô nhiễm hay bị đè bẹp bởi nó. Thật vậy, sự lựa chọn bướng bỉnh của ông về một chế độ ăn uống khác biệt đã thách thức và thu hút sự chú ý của Nhà vua, người cuối cùng đã đầu hàng và yêu mến sự phục vụ thông minh của chàng trai trẻ Đa-ni-ên và các bạn của anh.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con cũng biết sống thanh thản trong thời đại này, trung thành với Lời Chúa nhưng có khả năng đối thoại hữu ích với những người xa cách về mặt tâm linh.
Hãy tỉnh thức và sẵn sàng, vì Con Người sẽ đến vào giờ các con không ngờ.
Thứ Ba tuần XXXIV Tn
Sách Đa-ni-ên được viết dưới triều đại của Antiokô, khi dân chúng bị tiêu diệt, bị áp bức và tuyệt vọng. Những người Do Thái nhiệt thành đã củng cố đức tin của mình bằng cách suy ngẫm về số phận của những dân tộc đã từng thống trị họ: người Mê-đi, Ba Tư và Hy Lạp, những thế lực khổng lồ, lần lượt biến mất: Antiokô cũng sẽ chịu chung số phận; sẽ có một "hòn đá" tách ra khỏi núi, đập vỡ bức tượng.
Trong hòn đá "được đục ra từ núi nhưng không phải bởi bàn tay con người" này, chúng ta nhận ra Chúa Kitô, sinh ra từ Đức Trinh Nữ không có cha trần thế, đến để công bố và thiết lập vương quốc của Người thông qua chiến thắng trên sự dữ. Vương quốc Thiên Chúa rất khác với vương quốc phàm trần; nó hiện diện một cách khiêm nhường, bén rễ trong lòng người và biến đổi chúng một cách âm thầm, bằng một quyền năng vĩ đại nhưng bí ẩn.
Chúng ta thường khao khát một vương quốc hữu hình hơn, nhưng đó là một giấc mơ mà chúng ta phải từ bỏ: điều quan trọng là đón nhận vương quốc trong chính chúng ta, trong gia đình chúng ta, trong mỗi cộng đồng Giáo hội. "Hãy cẩn thận đừng để bị lừa dối," Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta, bởi những kẻ đề xuất những điều phi thường, và "đừng sợ hãi!" Mọi điều xảy ra đều là của con người; vương quốc là một thực tại vĩnh cửu.
Khi chúng ta cảm thấy bị áp bức bởi nhiều "đế chế", bên ngoài hay bên trong, hãy củng cố đức tin của chúng ta vào vị vua không bao giờ có thể thất bại, một vị vua hùng mạnh mà trước mặt Ngài, mọi quyền lực của sự dữ đều bị tiêu diệt.
+++
Hãy trung thành cho đến chết, và Ta sẽ ban cho ngươi triều thiên sự sống
Chỉ trong vài từ nhưng có tầm quan trọng: nhị thức ‘sống-chết’. Bí quyết, vì đây là lời cuối cùng của đời sống, là sự trung thành với Đức Kitô Giêsu. Chúng ta dấn thân cùng với ân sủng của ngài để sống những giáo huấn Tin mừng, nhất là giới răn yêu Chúa và yêu người.
Lời hứa của Chúa thật tuyệt vời! Sự trung thành là chìa khóa để đi vào căn tính sâu xa của tình yêu. Nếu bạn yêu một chút và rồi vứt bỏ bổn phận của mình, vì thấy mỏi mệt khi phải yêu thương, thì còn ý nghĩa gì cho đời sống của bạn? Lời hứa của Chúa nâng đỡ ta, làm cho ta vui mừng và ban sức mạnh cho ta.
Vâng, tôi sẽ có triều thiên sự sống và nhìn thấy sự chết bị tiêu diệt vì Ngài là Sự Sống, thần linh và bất tử, tôi sẽ không còn chán nản nữa nhưng hạnh phúc yêu thương mãi mãi.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho con ân sủng cần thiết để nơi con tỏa sáng niềm vui sống và làm cho nhiều người cảm nhận niềm vui ấy.
Niềm vui là hình thức tri ân giản đơn nhất.
+++
Hôm nay Thầy Giêsu mời gọi ta không đặt lòng ta dính kết với những viên đá, dù đẹp thật, của những nơi nhà ở của ta, của những di tích, của các thành phố. Trải nghiệm của các cư dân Giêrusalem, nhìn thấy đền thờ vĩ đại do Hêrôđê xây dựng hơn bảy mươi năm, bị đốt cháy và tiêu hủy do quân đội la mã, ghi ấn tượng sâu xa cho cộng đoàn kitô. Đức Giêsu quả quyết: sự sống ở nơi khác, ta sống trên trần gian này như những lữ khách, vui hưởng biết bao niềm vui Chúa ban tặng nhưng không để lòng mình dính kết với những điều ấy. Và rồi Chúa còn bảo ta: không ai biết lúc nào là ngày sau cùng. Ta thường có cảm tưởng rằng thế gian này sắp nổ tung: những hiện tượng thiên nhiên, chiến tranh, biến cố chính trị luôn thúc đẩy ta đến ngày sau hết…Đừng sợ, nhưng hãy ngẩng đầu lên! Sự kết thúc đối với ta chỉ là khởi đầu xác định việc Thiên Chúa đến và việc hoàn tất vuuơing quốc của Đức Kitô. Hãy luôn ghi nhớ điều chỉ dẫn này của Đức Giêsu, nhất là khi có ai đó, nhân danh mình bày tỏ cho ta những cái gọi là cuộc hiện ra riêng tư không bao giờ có thể đối nghịch lại với mạc khải chung do Thiên Chúa
Thứ Tư tuần XXXIV Tn
Đoạn tin mừng hôm nay đề ra một vài vấn nạn căn bản của đời sống: ơn cứu độ, những cuộc bách hại, ngày sau cùng. Khi nào thì tất cả những việc ấy xảy ra? Những vấn nạn ấy, luôn hiện thực, diễn tả sự bối rối trong cuộc sống của ta. Nên ta muốn biết, khám phá ý nghĩa của qúa khứ và tương lai của mình. Bằng cách đó ta tìm vượt qua sự thất vọng, sợ hãi của mình khi đối diện với ngày sau cùng, đứng trước những đau khổ được liệt kê ra trong đoạn này. Niềm tin của ta vào quyền năng của Thiên Chúa thường bị dao động.
Nhưng tất cả những tra tấn, những bách hại chịu đựng vì vinh quang Thiên Chúa đối với ta là cơ hội làm chứng quyền năng của Đấng Cứu Thế và Tình Yêu của Thiên Chúa.
Tin mừng không mang lại cho ta giải pháp tức thời cho mọi vấn đề. Chỉ nhắc cho ta rằng điều quan trọng là cần kiên trì và cắm rễ vào chân lý của Đức Giêsu Kitô. Trong cuộc sống trần gian chúng ta không thể tránh khỏi những cám dỗ, những đau khổ, những khó chịu, những hiểu lầm.
Nhưng tất cả những việc ấy là những điều của trần gian và cuộc sống, chiến thắng trên mọi sự nằm trong tay Đức Kitô (Lc 21,8-9).
Các môn đệ và những người tin vào Đức Kitô, những người đã xây dựng cuộc đời mình trên lời của Chúa, có thể đối mặt với mọi nghịch cảnh và chiến thắng, vì được thêm sức mạnh bằng ân sủng của Chúa chúng ta. Do đó, là những người tin Chúa, ta phải bảo vệ những giá trị nhân văn mà thế gian thường chà đạp. Là bổn phận của ta: bảo vệ những giá trị này và phẩm giá con người, vì là anh em của ta trong Đức Kitô.
Giữa thế giới xem thường và chế nhạo những giá trị thánh thiêng của con người và của Thiên Chúa, ta cần phải bảo vệ và tiếp tục thực hành những giá trị ấy.
+++
Giữa bài đọc thứ nhất và bài tin mừng hôm nay, thoạt đầu dường như chẳng có liên quan gì với nhau. Một đàng, trình thuật về bữa tiệc nhà vua thiết đãi bị quấy rầy vì một sự kiện lạ lùng; đàng khác lời tiên báo Đức Giêsu về những bách hại chống lại các môn đệ. Tuy nhiên vẫn tìm thấy một liên hệ đối nghịch hết sức ý nghĩa.
Quả vậy, trong bài đọc 1 ta thấy chiến thắng của một nhân vật giàu có, quyền lực, đạt đến đỉnh cao thành đạt của con người: nhà vua Balthasar thực thi quyền hành trên một đế quốc rộng lớn và có khả năng cho những tổ chức hoành tráng: ‘mở tiệc khoản đãi một nghìn đại thần’ (Đn 5,1). Còn trong bài tin mừng, Đức Giêsu loan báo số phận khác biệt cho các môn đệ ngài: ‘Người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù…sẽ bị mọi người thù ghét’ (Lc 21,12.16.17). Thay vì hạnh phúc được dự tiệc là số phận đau khổ của những người bị xem như tội phạm.
Sự đối nghịch giữa hai hoàn cảnh gây căm phẫn, vì không phù hợp với đòi hỏi của sự công bình chút nào cả. Nhà vua Balthasar, lạm dụng quyền hành để gây ra những hành động phạm thánh: ra lệnh cho mang ra dùng trong bữa tiệc những chén thánh lấy trong đền thờ Giêrusalem và phàm tục hoá các đồ thánh này bằng cách dùng để uống rượu (Đn 5,23). Đúng là hình ảnh của kẻ thù địch đắc thắng và táo bạo mà thánh vịnh 73 nói đến (Tv 73, 3.12).
Cũng gây phẫn nộ không kém, nỗi bất hạnh của các môn đệ Đức Giêsu, vì họ không đáng phải bị đuổi bắt, bỏ tù và thù ghét như vậy. Nguyên do duy nhất dẫn đến sự chống đối họ là vì họ liên kết với Đức Giêsu, tin vào ngài. Đức Giêsu nói: ‘Người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em…vì danh Thầy’ (Lc 21,12); ‘vì danh Thầy anh em sẽ bị mọi người ghen ghét’ (Lc 21,17). Thật lạ lùng! Tại sao liên kết với một con người tốt lành và nhân hậu mà lại gây ra bách hại và đố kỵ? Hoàn toàn vô lý! Đây là mầu nhiệm của sự gian ác (2 Tx 2,7).
Kinh thánh không để ta bị ấn tượng của gương xấu, đã chứng minh cho thấy tình trạng của các môn đệ bị bách hại thì đáng chuộng hơn tình trạng của vị vua đắc thắng. Chiến thắng của nhà vua thì mỏng manh; những vui thích của vua chỉ hời hợt bên ngoài. Xét về chiều sâu, nhà vua hoàn toàn ở trong tình trạng bất ổn, vì ông thiếu một chỗ nương tựa duy nhất vững chắc thực sự quan trọng, là mối liên hệ tốt đẹp với Thiên Chúa. Sự xuất hiện của bàn tay ‘viết lên bức tường của hoàng cung’ (Đn 5,6) đã khiến cho vua biến sắc, tâm trí bàng hoàng, ruột gan đòi đoạn, gối run cầm cập.
Trái lại, các môn đệ bị bách hại vì niềm tin vào Đức Giêsu ở trong tình trạng hoàn toàn an bình. Tự thâm tâm, họ cảm thấy bình an thanh thản. Bị kéo đến trước toà án, họ không lo phải nói gì để tự bảo vệ mình. Đức Giêsu hứa: ‘Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thù của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được’ (Lc 21,15). Quả vậy, các thù địch của thánh Stêphanô ‘không địch nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông’ (Cv 6,10). Các môn đệ của Đức Giêsu biết rằng chính khi mất sự sống là lúc cứu được nó (x.Mt 16,25; Mc 8,35; Lc 9,24). Không có gì bị thiệt mất cả. ‘Dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu’ (Lc 21,18). Cho dù có bị mọi người ruồng bỏ, như thánh Phaolô trong cuộc xét xử (2 Tm 4,16), thì người môn đệ đích thực có Chúa ở bên cạnh, có Chúa ban sức mạnh (2 Tm 4,17) và sẽ giải thoát họ khỏi mọi sự dữ, sẽ cứu và đưa họ vào vương quốc vĩnh cửu của Chúa (2 Tm 4,18).
Điều duy nhất quan trọng là mối tương quan cá biệt của ta với Đức Kitô phải đích thực. Nếu ta sống thực sự cho Người, không gì có thể làm hại chúng ta, tất cả đều trở thành cơ hội cho tiến triển và chiến thắng. Trong mọi thử thách, ‘chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta’ (Rm 8,37).
Thứ Năm tuần XXXIV Tn
Một đối nghịch lớn giữa điều Đức Giêsu nói về những biến cố tận cùng, biến đổi trời đất và lời khích lệ sau hết của Ngài: ‘Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc’. Thay vì sợ hãi, các tín hữu phải vui mừng, chờ đợi sự giái thoát gần kề.
Đoạn tin mừng này làm liên tưởng đến một sự kiện cá nhân. Trong chiến tranh có người bị bắt phải làm trong một nhà máy chế thuốc súng của quân đội Phátxít. Một đêm nọ anh ta bỗng tỉnh giấc vì tiếng động cơ máy bay và những đốm loé sáng trên bầu trời. Anh vội vàng chạy ra cánh đồng gần đó. Trong khi chạy anh thấy các bạn đồng đội la hét, hoảng hốt; khi đó ngược lại anh ta cảm thấy một niềm vui thật lớn trong lòng: các máy bay ấy chống lại quân địch Phátxít và mình sắp được giải thoát rồi.
Đọc lại đoạn tin mừng ‘‘Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc’, ta mới hiểu rõ ý nghĩa lời Chúa nói hơn. Như thế mọi thử thách đều là cơ may của chiến thắng, nếu trong đó ta biết ngoan nguỳ theo hướng dẫn của Thần Khí đấng đổi mới mọi sự; như thế đau khổ sự chết là giải thoát về với Đức Kitô, trong cuộc sống đời đời. Ta nhớ lời thánh Phaolô: ‘tôi muốn lìa thân xác để được ở cùng Đức Kitô’.
Hãy mặc cho mình cái nhìn kitô giáo này, để đọc những biến cố dưới ánh sáng đức tin và hy vọng. Ta sẽ luôn ở trong bình an, bình an mà Đức Giêsu phục sinh mang lại cho ta.
+++
(Đa-ni-en 6:21)
Đa-ni-en đi ngược dòng thời gian và tiếp tục tích lũy sự khôn ngoan, tuổi trẻ, trí tuệ và đức tin hoàn hảo. Câu chuyện giàu trí tưởng tượng và mang tính xây dựng được chọn trong phụng vụ hôm nay cho thấy ông đang vật lộn với sự đố kỵ của các cận thần nhà vua (lần này được gọi là Đa-ri-ô), những người, để làm bẽ mặt ông, đã bịa ra một sắc lệnh cấm mọi hình thức cầu nguyện và thờ phượng khác ngoài những hình thức hướng đến nhà vua. Nhà vua là bạn của Đa-ni-en và thậm chí còn muốn thay thế ông, vì ông tin tưởng Đa-ni-en. Vậy mà ông đã ký sắc lệnh này và vô tình trở thành kẻ ngược đãi bạn mình. Bởi vì Đa-ni-en luôn trung thành với Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, và mặc dù đã hợp tác trung thành với vua Đa-ri-ô, ông chưa bao giờ thỏa hiệp với đức tin của mình. Dĩ nhiên, chàng bị phát hiện đang thờ phượng Chúa, và hình phạt dành cho những kẻ vi phạm sắc lệnh thật khủng khiếp: thấy mình đang ở trong hang với những con sư tử đói khát... phần còn lại sẽ theo sau.
Danien xuống hang sư tử, tràn đầy sức mạnh đến từ Chúa và sự vượt trội đầy uy quyền khiến chàng xa cách với các cận thần. Trí tưởng tượng duyên dáng của câu chuyện cho thấy chàng có khả năng thuần hóa những con sư tử đói khát (là hình ảnh tiêu biểu cho những cận thần hung bạo và đố kỵ) và thoát khỏi hang mà không hề hấn gì, nơi mà chính những kẻ lừa dối sẽ phải chịu cái chết. Điều này làm cho Vua Dariô hạnh phúc, người đã tìm lại được người bạn của mình và cùng với anh ta, đức tin của chàng vào một Chúa, Đấng mà nhờ sự kiên trì phục vụ, chàng đã cứu khỏi cái chết!
Lạy Chúa, đôi khi chúng con đau khổ và gây ra nhiều đau khổ vì lòng đố kỵ và ghen tị; xin hãy thanh tẩy trái tim chúng con khỏi những cảm xúc buồn bã và cằn cỗi này và mở lòng chúng ra với tình yêu đích thực, trân trọng sự khác biệt, không chấp nhận thỏa hiệp và tự nguyện hiến thân vì lợi ích của người khác.
"Nếu đúng là mọi tật xấu đều mang lại khoái lạc, thì điều này lại không đúng với lòng đố kỵ, một chất độc của tâm hồn gây ra đau khổ và dằn vặt: chúng ta đau khổ trước sự tốt đẹp và hạnh phúc của người khác, được coi là sự suy yếu bản thể của mình và là dấu hiệu của sự thất bại của chính mình. Lòng đố kỵ luôn nảy sinh từ sự so sánh. 'Tại sao lại là anh ta/cô ta chứ không phải tôi?', chúng ta tự hỏi, hướng cái nhìn ác ý về phía người khác. Một câu hỏi phải được giữ kín, bởi vì nó bộc lộ sự thấp kém của chúng ta."
Thứ Sáu tuần XXXIV Tn
Hai suy tư mang tính khải huyền làm nên bản văn này: một dụ ngôn về những dấu chỉ của thời sau cùng (Lc 21,29-31) và một phán quyết bí ẩn về sự Triều Đại Thiên Chúa sắp đến gần (Lc 21, 32-33).
Như cây cối đâm chồi nẩy lộc vào mùa xuân, những biến cố được Luca nêu lên trong chương 21 là những dấu chỉ tiên báo sự kết thúc thế giới này: chiến tranh, bách hại những tín hữu, khiếp sợ và sự chết (Lc 21,26-27).
Đọc cẩn thận đoạn tin mừng giúp ta khám phá dấu chỉ của sự kết thúc được ghi ẩn trong chính bản tính của con người. Sự sống của con người là một chuyển động, một đàng đi đến một khám phá luôn lớn hơn thế giới này, đàng khác đi đến sự chết và biến mất.
Cái chết và sự sống lại của Đức Kitô làm ta hiểu rằng sự sống con người nơi trần gian này âm thầm tiến đến sự tự hủy và chính sau cái chết của Đức Kitô ẩn chứa sứ điệp của sự sống mới trong Thiên Chúa, được tỏ bày cách hiển nhiên dịp lễ Phục sinh mang lại cho ta niềm vui sống. Dấu chỉ thập giá của Đức Kitô là dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người và ơn cứu độ tặng ban cho con người. Toàn thể đời sống con người được bao vây bằng những mầu nhiệm của Thiên Chúa. Và hôm nay, thế giới ta sống đang ở trong tình trạng tồi tệ, ngọn lửa của niềm hy vọng vào Đức Giêsu Kitô – ngài cứu chuộc ta bằng cái chết trên thập giá – cần phải tiếp tục chiếu sáng lòng ta.
Tình yêu của Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn sự chết! Thiên Chúa không quên chúng ta khi ngài chết. Ngài hứa ban cho ta hạnh phúc viên mãn.
Trong thế giới này tất cả đang qua đi như những bông hoa mùa xuân. Cũng xảy ra như thế đối với con người. Điều này làm cho ta buồn phiền, nhưng sự sống lại của Đức Giêsu mang lại cho ta hy vọng mới: hy vọng sự sống vĩnh cửu trong Thiên Chúa.
+++
Tin tưởng và vui mừng
Bài đọc 1 hôm nay cho ta hiểu một điều nghịch lý: quyền lực của con người thì ‘vô nhân’; triều đại duy nhất mang tính ‘nhân văn’ là triều đại của Thiên Chúa.
Đanien nhìn thấy bốn con vật: một con sư tử khủng khiếp, đứng trên hai chân như một người và có quả tim của con người; một con gấu: ‘Đứng lên, ăn thịt cho nhiều đi’; một con beo, được ban cho quyền thống trị và sau cùng, con thú thứ tư đáng kinh, đáng sợ, ‘nó ăn, nó nghiền, rồi lấy chân chà đạp những gì còn sót lại’. Đó là quyền lực con người không phục tùng Thiên Chúa, luôn mang đến tàn bạo, vô nhân thật đáng ghét và không vững chắc.
Đối nghịch lại với thị kiến đó, Đanien nhìn thấy quyền uy của Thiên Chúa: ‘Có ai như một Con Người’, lãnh nhận quyền thống trị, vinh quang và vương vị từ chính Thiên Chúa. Là đức vua thích chịu đau khổ hơn là làm cho người khác đau khổ, đấng chấp nhận thân phận con người để thấu hiểu con người và để hướng dẫn họ một cách ‘người’, bằng hiền lành và khiêm hạ.
Sấm ngôn của Đanien đi trước mạc khải Tân Ước. Con Người, Đấng mà Thiên Chúa trao ban vinh quang, uy quyền và vương vị gợi lại hình ảnh của Đức Kitô đáp lại câu hỏi của vị Thượng Tế: ‘Ông có phải là Đấng Kitô, Con của Đấng đáng chúc tụng không? Phải, chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá trên mây trời mà đến’. Các kitô hữu vui mừng khi đọc lại lời sứ ngôn và chiêm ngắm Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Trong lần gặp sau cùng với các môn đệ, Ngài đã tuyên bố thực hiện lời sứ ngôn trên: ‘Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy’.
Viễn ảnh đó phải là động lực thúc đẩy ta tin tưởng phó thác và vui mừng: Đức Kitô đã lãnh nhận vương quốc vĩnh cửu, là vua hiền lành và khiêm hạ của chúng ta, Đấng làm cho chúng ta nên tư tế của Chúa Cha.
Thứ Bảy tuần XXXIV Tn
Đức Giêsu yêu cầu chúng ta hãy tỉnh thức và sẵn sàng: ngày sau cùng đã gần kề. Cần phải chuẩn bị cho ngày đó.
Lời cảnh báo này nhắc nhở ta rằng có Sự Thật và đời sống của ta có ý nghĩa sâu xa. Sự Thật chính là Chúa, đấng làm nền tảng cho sự hiện hữu của ta và bằng ân sủng của ngài, soi sáng tâm hồn ta. Do ân sủng này và lời mời gọi này mà ta cần phải tỉnh thức và sẵn sàng.
Vì vậy, bổn phận sống tỉnh thức là một yêu cầu ưu tiên cho thế giới tương lai. Mỗi người đều có bổn phận chăm lo cho sự sống chính mình, làm sao không để cho tội trọng làm thiệt hại mình. Lời cảnh báo, khích lệ tạo nên đoạn tin mừng này, áp dụng cho tình trạng hiện nay của ta, cho tầm quan trọng, ý nghĩa và giá trị thời gian mà ta đang sống.
Để hiểu được cách đúng đắn sự kết thúc của thế giới, cần phải nhớ rằng: Nước Thiên Chúa (triều đại Đức Giêsu) ngày mai sẽ đến và càng gần đến ngày ấy sẽ có nhiều hơn những cám dỗ và cần phải chiến đấu nhiều hơn; nhưng đồng thời cũng mang đến cho ta niềm hy vọng được tham dự vào sự sống lại của Đức Kitô. Cuộc sống hiện nay của ta vừa mang dấu chỉ của sự chết và sự sống lại. Do đó ta phải lưu tâm đến lời nói của Đức Giêsu và hãy để cho lời ngài thấm đầy cuộc sống của mình để không rơi vào nguy cơ bị kết án vào giây phút phán xét sau cùng.
+++
Tin tưởng và bình an
Câu tung hô Alleluia diễn tả thái độ mà giáo hội muốn gợi lên hôm nay, ngày kết thúc năm phụng vụ: tỉnh thức và hy vọng: ‘Hãy tỉnh thức và trông cậy vào ân sủng sẽ được ban cho vào ngày Đức Giêsu Kitô trở lại’. Chúng ta hy vọng, bởi lẽ, như đọc thấy trong đoạn sách Đanien, ‘còn vương quốc với quyền thống trị cũng như địa vị cao cả của các vương quốc khắp thiên hạ, sẽ được trao cho dân thánh của Đấng Tối Cao’. Vậy hình ảnh Con Người mà chúng ta đọc trong đoạn sách Đanien ngày hôm qua có tương ứng với đoàn dân thánh này không? Cách diễn đạt ý nghĩa tập thể này luôn mang tính thiên sai và cũng không loại trừ ý nghĩa cá vị, vì Con Người vừa là thủ lãnh, vừa là vị đại diện và là mẫu mực của dân thánh: Nhiều lần, Đức Giêsu tự ví mình như Con Người. Các thánh, một thời gian bị nằm trong tay kẻ thù, nhưng rồi Thiên Chúa sẽ kéo họ ra vào trao cho họ vương quyền. Đó là niềm hy vọng của chúng ta. ‘Các con hãy vững tin, vì Thầy đã chiến thắng thế gian’. Đức Giêsu đã chiến thắng, còn chúng ta tham dự vào chiến thắng của Ngài nếu chúng ta kết hiệp với Ngài, bằng tỉnh thức và cầu nguyện.
Ngày cuối năm phụng vụ đưa ta vào bầu khí tin tưởng và an bình và chúng ta có thể hân hoan chúc tụng Thiên Chúa bằng những lời Đáp Ca: ‘Chúc tụng Chúa đi hỡi phàm nhân dương thế. Chúc tụng Chúa đi, dòng dõi Israel. Chúc tụng Chúa đi, tư tế phụng thờ Chúa. Chúc tụng Chúa đi, tôi tớ phục vụ Người. Chúc tụng Chúa đi, hồn thiêng hàng công chính. Chúc tụng Chúa đi, người thánh kẻ khiêm nhường’.
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Lễ thánh Anrê Tông đồ
Hôm nay chúng ta mừng lễ thánh Anrê tông đồ, anh của Simon Phêrô và bạn của Giacôbê và Gioan. Bài Tin mừng thuật lại việc Anrê nghe lời Chúa nói với ông: ‘Hãy theo Ta. Ta sẽ làm cho các ngươi thành kẻ chài lưới người’. Và lập tức họ đã bỏ lưới mà đi theo Ngài. Sự liên kết ngay lập tức này đã giúp cho các tông đồ loan báo tin mừng cứu độ. Đức tin đến từ việc lắng nghe và điều được nghe chính là lời của Đức Kitô, mà cho đến ngày nay Giáo hội vẫn còn loan báo cho đến tận cùng trái đất.
Chúng ta được mời gọi nghe lời và đón nhận vào trong lòng mình. Đó là phương thế cứu độ. Là một lời yêu sách và đây chính là lý do tại sao ta dễ dàng muốn đóng tai lại trước lời của Thiên Chúa: vì ta biết rằng việc nghe lời kéo theo những hệ quả. Ta nên nghĩ rằng lời Thiên Chúa thật sự là một phương thuốc chữa lành, cho dẫu đôi lúc làm ta đau khổ, nhưng nhằm lợi ích cho ta, để chuẩn bị cho ta nhận lãnh những ân ban của Chúa.
Nhưng lời không chỉ là một phương thuốc mà còn là một lương thực, nhu yếu phẩm cho linh hồn. Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa để cho thế giới phải trải qua cơn đói, không phải đói cơm bánh, nhưng đói nghe lời của Người. Chúng ta cần cơn đói này, vì giúp ta không ngừng tìm kiếm đón nhận lời Thiên Chúa, vì biết rằng lời Chúa nuôi dưỡng toàn bộ đời sống của ta. Chẳng có gì trong cuộc đời có thể có tính nhất quán, chẳng có gì có thể thực sự thỏa mãn chúng ta nếu nó không được nuôi dưỡng, soi sáng hướng dẫn bởi lời Chúa.
Đồng thời lời Chúa là một lời yêu sách. Đức Giêsu dùng hình ảnh hạt giống cần phải được gieo vãi khắp nơi và lớn lên. Lời Chúa mang lại sự phong nhiêu cho người tông đồ. Nếu chỉ nói lời của con người thì ta không được xem là tông đồ, nhưng nếu ta đón nhận lời Thiên Chúa vào lòng mình, lời này sẽ thúc đẩy ta loan báo khắp nơi để con người hiệp thông với Thiên Chúa.
Nhờ thánh Gioan ta biết rằng không phải dễ dàng nghe lời Thiên Chúa, không phải công việc của loài người.
Đức Giêsu khiển trách những người biệt phái không có khả năng nghe lời của Ngài, vì họ không ngoan ngùy với Thiên Chúa: ‘Phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi’ (Ga 6,45); để nghe lời Thiên Chúa cần phải sống ngoan ngùy với Chúa Cha.
Lời Chúa là hạnh phúc đời ta vì đó là cách thế hiệp thông với Thiên Chúa. Nếu ta muốn hiệp thông với Thiên Chúa, ta cần phải đón nhận lời Người vào lòng ta.
Hơn nữa, chính lòng nhân hậu và khoan dung của Người trao ban cho ta lời của Người, giúp ta sống thông hiệp với Người, chính Người là Đấng nói đầu tiên, đấng mở tai để ta có thể nghe như lời thánh vịnh viết, và là niềm vui cho ta được thân thưa với Người. Lời Chúa còn là phương thế tốt nhất để ta sống hiệp thông với nhau. Đừng ảo tưởng: tình huynh đệ đích thực chỉ có thể nơi lời của Chúa. Nếu ta khước từ lời Ngài, những ước mong đẹp nhất, những dự tính hay nhất để hiệp thông với tha nhân cũng sẽ thất bại, vì thiếu nền tảng đích thực là chính sự hiệp thông với Thiên Chúa.
Hãy cầu xin thánh Anrê dạy ta biết lắng nghe, đón nhận lời Chúa cách hết sức quảng đại, giản đơn, huynh đệ, để có thể sống thông hiệp với Thiên Chúa và với anh em.


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

ducchasi
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập55
  • Máy chủ tìm kiếm13
  • Khách viếng thăm42
  • Hôm nay11,767
  • Tháng hiện tại11,767
  • Tổng lượt truy cập63,997,781

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây