Suy niệm lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ - Lm. Xuân Hy Vọng
Thứ tư - 19/11/2025 20:40
111
VUA CỦA ĐỜI TÔI LÀ AI?
Kính thưa quý cộng đoàn Phụng vụ! Hẳn ai trong chúng ta ít nhiều đã quen với hình ảnh vương đế oai phong trong truyền thuyết, cổ tích Việt Nam! Bên cạnh nhiều vị vua hiền đức, biết hy sinh tư lợi mà lo cho xã tắc, dân an, quốc mạnh; cũng k thiếu những thời vua chúa sa vào lạc thú, chỉ biết lợi ích cá nhân, mà chẳng lo cho dân nước!
Hôm nay, chúng ta mừng kính trọng thể lễ Chúa Ki-tô Vua với một tâm thế hồ hỡi vì vị Vua Giê-su đã dạy và làm gương cho chúng ta: hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu (x. Ga 15, 13). Hơn nữa, dịp lễ này khiến chúng ta nhìn lại, tự vấn và xác tín rằng: ngoài Vua Giê-su Ki-tô, còn ai hoặc điều gì đang cai trị đời tôi không? Tôi biết không ai khác hoặc sự việc gì đó có thể làm vua đời tôi, nhưng vì thói hư tật xấu, vì thói đời của bản thân mà tôi đang cho phép họ hay sự thể ấy kiểm soát và điều khiển đời tôi như thể vương đế?
Trước hết, Vua Ki-tô của chúng ta đích thật là chủ chiên lành, Người chăn dắt, nuôi dưỡng đoàn chiên, chứ không vì lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm mà loại bỏ đoàn chiên hoặc lãng quên chúng: “Chính Ta sẽ chăn dắt các chiên Ta...Ta sẽ chăm sóc và chăn dắt nó trong sự công chính" (x. Ed 34, 15-16). Người là thiên vương dám bỏ vinh quang trời cao, xuống gian trần, mặc lấy xác phàm con người. Người là vị vua dám ra đi tìm kiếm chiên lạc, bất luận nó bị thế nào. Người là vị vua trao ban sự sống của chính mình để mọi người được sống và sống dồi dào (x. Ga 10, 10). Nếu chúng ta là thần dân của vị vua này, ắt hẳn chúng ta cũng noi gương Người, biết mưu cầu lợi ích cho tha nhân hơn là châm bẩm vào tư lợi, biết hy sinh cho tha nhân, biết chia san ân sủng, tài năng cho cộng đoàn, thay vì chôn dấu, v.v...
Mặc dù là vua muôn dân, muôn loài, nhưng Đức Giê-su Ki-tô khiêm hạ đến tột cùng (x. Pl 2, 6-11), và “Người là đầu thân thể là Hội Thánh, là nguyên thuỷ và là trưởng tử giữa kẻ chết, để Người làm bá chủ mọi loài” (Cl 1, 18), nhưng “Người đã trao vương quốc lại cho Thiên Chúa Cha, để Thiên Chúa nên mọi sự trong mọi sự" (x 1Cr 15, 24. 28). Đường đường là vị vua cao sang, ai ai cũng phải phục tùng, bái quỳ, và được bảo vệ hết mực, như chúng ta quen với hình ảnh thông thường: dân nước, quân lính phải bảo vệ vua kể cả hy sinh mạng sống mình; nhưng ở đây ngược lại, Vua Giê-su hy sinh mạng sống mình không những bảo vệ mà còn mang lại sự sống đời đời cho thần dân của Người. Vậy tôi đang là thần dân của Người, hay dân của thần nào khác? Thần ấy có thể là tiền tài, danh vọng, cái tôi, địa vị, quyền lợi cá nhân, hoặc một thú vui nào đó đang thống trị, giam hãm đời tôi! Nếu tôi là thần dân của Vua Giê-su, thì chắc chắn không ai khác, chỉ có Người làm chủ toàn bộ con người và cuộc đời tôi.
Ngoài ra, Vua Giê-su Ki-tô là vị Vua nhân hậu và công bình như người mục tử tách chiên ra khỏi dê (x. Mt 25, 32). Người tách biệt chiên và dê dựa trên tình bác ái mà chính Người đã sống, đã làm chứng cho chúng ta, cũng như chúng ta được lãnh nhận sức mạnh ân sủng từ Người, ngỏ hầu thực thi giới răn yêu thương ấy; chứ Người không dựa trên những tiêu chuẩn mà chúng ta thường hay mặc định để phân xử như: thành quả, thành đạt, thành tựu, thành tích, v.v… Người cũng chẳng dựa trên văn bằng học vấn, trình độ khoa học hoặc công trình nghiên cứu để phân xử công bình. Đúng hơn, Người chỉ dựa vào việc chúng ta đã sống bác ái yêu thương cụ thể chưa, hay chỉ sống giới răn ấy trong tư tưởng, trong lý tưởng, trong lời nói, mà chưa thực hành bao giờ, hoặc nếu có thực hiện đi chăng nữa cũng chỉ hời hợt và thứ yếu! Hơn nữa, Người nhìn thấu tâm can và hết lòng đón nhận những ai biết sám hối ăn năn thật lòng như tên trộm lành van xin: “Lạy Người, khi nào về nước Người, xin nhớ đến tôi” (Lc 23, 42). Ngay tức khắc, vị Vua muôn vua, Chúa các chúa, đang chịu đóng đinh trên thập giá, đã đáp lời: “Ta bảo thật ngươi: ngay hôm nay, người sẽ ở trên thiên đàng với Ta” (Lc 23, 43). Sau cùng, Vua Giê-su Ki-tô đòi hỏi thần dân của Người biết nhận ra sự hiện diện của Người nơi anh chị em, đặc biệt những ai bé mọn nhất, vì Người tự đồng hoá mình với họ: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25, 40). Tương tự, nếu chúng ta không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là chúng ta không làm cho chính Vua Giê-su (x. Mt 25, 45).
Giờ đây, với tâm tình đơn sơ, tín thác, chúng ta cùng hiệp nhất và dâng lời nguyện xin:
Lạy Vua Giê-su lòng con mến yêu
Con xin trao đời con vào đôi tay nhân từ của Chúa
Xin mãi làm Vua khoan dung hướng dẫn đỡ nâng
Đừng để con trở nên "ông vua con" của riêng mình
Đừng để ai đó cai trị, điều khiển trí lòng con
Đừng để sự gì chiếm lấy ngôi vị vương đế đích thật
Đừng để và đừng để con sa vào ý nghĩ làm "vua chúa" ai!
Trên hết, xin Người làm Vua vĩnh hằng đời con. Amen!
Lm. Xuân Hy Vọng
LINH MỤC LÀ AI? (15, số Đặc biệt)
Nhân dịp lễ mừng kính Thánh An-rê Dũng Lạc và các bạn Tử đạo tại Việt Nam. Chúng ta cùng lược qua đôi nét về Thánh nhân và tìm hiểu cách nhìn của ngài về căn tính Linh mục.
Giới thiệu sơ lược: Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc (1795–1839), một linh mục tử đạo Việt Nam, không để lại các tác phẩm thần học hoặc định nghĩa trực tiếp về vai trò linh mục như một số thánh nhân khác. Tuy nhiên, qua đời sống, sứ vụ và gương tử đạo của ngài, chúng ta có thể suy ra những quan điểm về vai trò linh mục mà ngài đã sống và làm chứng tá. Dựa trên các nguồn tài liệu về cuộc đời ngài, đặc biệt từ các thư ngài viết và hành động trong thời kỳ bách hại, dưới đây là những khía cạnh về linh mục theo gương sống của Thánh An-rê Dũng Lạc:
Linh mục là người trung thành với Chúa đến cùng
Thánh An-rê Dũng Lạc đã thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Thiên Chúa, ngay cả khi đối mặt với bách hại và án tử. Trong thư gửi Đức Cha Jeantet, ngài viết: “Xin Đức Cha cầu cùng Chúa cho chúng con được giữ nghĩa cùng Chúa cho đến cùng”. Khi bị yêu cầu bước qua thánh giá để chối đạo, ngài cương quyết từ chối và tuyên bố: “Hãy chặt bớt chân ta đi, ta rất bằng lòng chứ đừng hòng trông ta chối đạo”. Điều này cho thấy, theo Thánh An-rê, linh mục là người sẵn sàng hy sinh mạng sống mình để bảo vệ đức tin và trung thành với sứ vụ Chúa trao.
Linh mục là người rao giảng Tin Mừng nhiệt thành
Thánh An-rê được mô tả là một nhà truyền giáo kiên trì, “bằng lời nói và việc làm, tại nhiều giáo xứ cho đến khi bị bắt năm 1835”. Ngài giảng dạy sốt sắng, nói năng trôi chảy, dễ nghe và dễ hiểu, khiến “ai gặp Cha cũng mến Cha”. Theo gương ngài, linh mục là người mang Tin Mừng đến với mọi người qua lời giảng rõ ràng và đời sống gương mẫu, khơi dậy lòng yêu mến Chúa trong tâm hồn giáo dân.
Linh mục là người yêu thương và phục vụ dân nghèo
Thánh An-rê Dũng Lạc “thương người nghèo khó cách riêng”, thường xuyên thăm hỏi và giúp đỡ họ dù phải trốn trong thời kỳ cấm đạo. Ngài không ăn của giáo dân, chỉ dùng của riêng mình để nuôi bản thân và những người giúp việc, thể hiện tinh thần tự lập và bác ái. Theo ngài, linh mục là người sống gần gũi, yêu thương và phục vụ những người bé mọn, phản ánh lòng thương xót của Chúa Ki-tô.
Linh mục là người cầu nguyện và sống đời khổ hạnh
Ngài sống đời cầu nguyện sốt sắng, ăn chay trong suốt mùa Chay và các ngày Hội Thánh buộc, thậm chí ăn chay thêm nhiều ngày khác trong tuần. Ngay cả trong tù, ngài vẫn giữ lòng tin cậy vào Chúa, cầu nguyện và an ủi bạn đồng tù như Cha Thi: “Chúng ta chỉ còn chịu khó ít lâu nữa, sắp đến ngày được về gặp Chúa Cả trên trời”. Vì vậy, theo Thánh An-rê, linh mục là người sống đời sống thiêng liêng sâu sắc, lấy cầu nguyện và khổ chế làm nền tảng để chu toàn sứ vụ.
Linh mục là người bảo vệ chân lý đức tin
Khi bị thẩm vấn về việc thờ kính tổ tiên, Thánh An-rê đã giải thích rõ ràng: “Cha mẹ chết, xác thối rữa, chỉ có linh hồn thiêng liêng bất tử ăn uống sao được, bên đạo chúng tôi hằng cầu nguyện cho linh hồn ông bà cha mẹ mọi ngày nhất là ngày giỗ”. Ngài không chỉ bảo vệ đức tin Công giáo mà còn giải thích một cách khôn ngoan để làm sáng tỏ chân lý, thể hiện vai trò linh mục là người thầy giảng dạy và bảo vệ đức tin trước những hiểu lầm hoặc thách thức.
Linh mục là người đồng hành với cộng đoàn trong đau khổ
Trong thời kỳ cấm đạo, Thánh An-rê thường đi một mình để ban các bí tích cho người ốm, không để giáo dân đi theo vì sợ họ bị bắt. Ngay cả khi bị tù đày, ngài vẫn giữ tinh thần lạc quan, viết thư an ủi và khích lệ các tín hữu, đồng thời xin họ cầu nguyện cho mình. Vì thế, theo ngài, linh mục là người đồng hành, nâng đỡ và chia sẻ đau khổ với cộng đoàn, đặc biệt trong những thời kỳ thử thách.
Tóm lại, theo gương sống của Thánh An-rê Dũng Lạc, linh mục là người trung thành với Chúa đến mức sẵn sàng tử đạo, là nhà truyền giáo nhiệt thành, người yêu thương dân nghèo, sống đời cầu nguyện và khắc khổ, bảo vệ chân lý đức tin, và đồng hành với cộng đoàn trong mọi hoàn cảnh. Ngài không để lại định nghĩa lý thuyết về linh mục, nhưng cuộc đời và cái chết của ngài là lời chứng sống động về thiên chức linh mục: sống trọn vẹn cho Chúa và phục vụ các linh hồn, dù phải trả giá bằng mạng sống.
Lm. Xuân Hy Vọng