Chúa Nhật III MV/A
Câu hỏi và câu trả lời tham khảo giữa Đấng Messia và Đấng Tiền Hô
Vào Chúa Nhật Vui Mừng, Chúa Nhật III Mùa Vọng, dựa trên bài ca mở đầu của Thánh Lễ, Tin Mừng hôm nay quay trở lại với Gioan Tẩy Giả, vị tiền hô của Chúa Giêsu.
Theo đoạn văn hôm nay, Gioan muốn biết liệu Chúa Giêsu có thực sự là Đấng Messia hay họ nên chờ đợi một ai khác. Trong thời gian ở tù, ông được các môn đệ đến thăm, và ông đã cử họ đến gặp Chúa Giêsu để tìm hiểu thêm về Người và sứ mệnh của Người.
Do đó, Gioan đã đặt câu hỏi với Chúa Giêsu qua các sứ giả của mình: "Thầy có phải là Đấng phải đến không, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?"
Chúa Giê-su trả lời các sứ giả của Đấng Tiền Hô: "Hãy về thuật lại cho Gioan những điều các ngươi nghe và thấy: người mù được sáng, người què được đi, người phong được sạch, người điếc được nghe, người chết sống lại, người nghèo được nghe Tin Mừng. Và phúc cho ai không vấp ngã vì Ta!"
Chúa Giê-su cho Gioan biết rằng Ngài là Đấng như Ngài đã làm. Các việc làm, hay đúng hơn là các phép lạ mà Chúa Giê-su đã thực hiện, chính là tấm danh thiếp để giới thiệu Ngài là Đức Chúa Trời thật và là người thật, là Đấng Mêssia mà dân Israel mong đợi.
Chúa Giê-su để các việc làm tự nói lên điều đó, thay vì dài dòng diễn thuyết để chứng minh Ngài là ai. Ngài không cần phải phô bày lý lịch của mình để khẳng định Ngài thực sự là ai. Trong cuộc đời mỗi người, việc làm mới quan trọng, chứ không phải lời nói. Nơi Chúa Giê-su, lời nói và việc làm rất quan trọng; chúng gắn bó chặt chẽ với nhau vì chúng là lời thần thánh mang lại sự cứu rỗi, chân lý và sức sống.
Sau khi đáp ứng yêu cầu thông tin của Gioan, Chúa Giê-su dừng lại để nói chuyện với nhiều người đang lắng nghe về vị tiền bối trẻ tuổi của Ngài, cũng là anh em họ của Ngài, và hỏi họ những câu hỏi sau: "Các ngươi đã đi đâu, ra hoang địa để xem sao? Một cây sậy phất phơ trước gió? Vậy, các ngươi ra xem gì? Một người mặc áo đẹp sao?" Chính Chúa Giê-su đã trả lời những câu hỏi này liên quan đến cuộc đời gương mẫu của Gio-an Tẩy Giả, nhận xét rằng "những ai mặc áo đẹp thì ở trong cung điện của vua!" Gio-an là một con người hoàn toàn khác: ông mặc áo lông lạc đà và thắt lưng, sống trong cảnh nghèo khó cùng cực và giản dị của một cuộc đời tận hiến cho những điều thực sự quan trọng trước mặt Chúa. Trước sự thiếu chú ý và thiếu phản hồi của những người nghe, Chúa Giê-su lại hỏi họ cùng một câu hỏi: "Các ngươi ra xem gì? Một vị tiên tri sao? Phải, Ta bảo các ngươi, và còn hơn cả một vị tiên tri nữa. Chính Người là Đấng đã được chép rằng: 'Này, Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt con, người sẽ dọn đường cho con.'"
Như vậy, Chúa Giêsu đã định nghĩa chính xác danh tính và sứ mệnh của Gioan Tẩy Giả, như được ghi lại trong đoạn Phúc Âm theo Thánh Matthêô. Ngài bổ sung thêm vào những phẩm chất khác nhau một chi tiết đáng ghi nhớ, để thừa nhận nhân vật phi thường mà Thánh Gioan Tẩy Giả đại diện trong lịch sử Kitô giáo: "Trong số những người sinh ra bởi phụ nữ, chưa từng có ai vĩ đại hơn Gioan Tẩy Giả."
Chúa Giêsu xếp vị tiền hô của mình vào hàng những người vĩ đại nhất; nhưng sau đó, khi liên hệ bài giảng của mình với Nước Trời, Ngài nói thêm rằng "kẻ nhỏ nhất trong những người xứng đáng vào Thiên Đàng còn vĩ đại hơn ông." Gioan là một chứng nhân uy tín, vô song về một số phương diện, nhưng không phải là người duy nhất được hưởng vinh quang của Thiên Chúa.
Lời cảnh báo đến với chúng ta từ đoạn văn này trong Phúc Âm theo Thánh Matthêô là một lời cảnh báo duy nhất, và, trong số những điều khác, là lời cảnh báo quan trọng nhất đối với tất cả mọi người: thời gian mà Chúa ban cho chúng ta là thời gian được định sẵn cho sự cứu rỗi, cho sự thanh tẩy của chúng ta. Bằng cách chỉ ra Gioan như một tấm gương về đời sống Kitô hữu, đạo đức, xã hội và tâm linh, Chúa Giêsu vạch ra một con đường chính xác để chúng ta noi theo nếu chúng ta muốn sinh hoa trái của sự kiên trì và thánh thiện. Mùa Vọng, một mùa quan trọng của năm phụng vụ, giai đoạn đầu tiên của một năm dấn thân cho đời sống Kitô hữu và đời sống thiêng liêng, thúc giục chúng ta chân thành nhìn lại cuộc sống và hành vi của mình dưới ánh sáng cuộc đời gương mẫu của Thánh Gioan Tẩy Giả. Chúng ta hãy noi gương vị thánh vĩ đại này và dọn đường cho Chúa đến vào dịp Giáng Sinh năm này.
Lý do để vui mừng
Mùa Vọng, tuy diễn tả những cam kết cần thiết nâng cao tinh thần con người, nhưng luôn được đặc trưng bởi niềm vui và sự thanh thản, chuẩn bị cho chúng ta đón Chúa đến. Tuy nhiên, Chúa Nhật này đặc biệt được đánh dấu bằng chữ "vui mừng", tức là niềm vui đặc biệt được đánh dấu bởi sự kiện sắp đến. Ai cũng biết rằng khi một sự kiện vui mừng đến gần, sự mãn nguyện và niềm vui nội tâm tăng lên, và chúng ta tìm thấy mọi lý do để vui mừng. Nếu Chúa đến gần chúng ta, Đấng, như đã hứa, sẽ đến không ngừng nghỉ, thì niềm vui của chúng ta giờ đây chỉ có thể mãnh liệt và ý nghĩa hơn. Sự mong đợi làm tăng thêm lời cầu nguyện, và điều này nuôi dưỡng lòng tốt và sự khiêm nhường phát sinh từ đức ái cụ thể. Về vấn đề này, lời khuyên của Thánh Phaolô gửi tín hữu Philipphê thật tuyệt vời: "Hãy vui mừng luôn trong Chúa; tôi xin nhắc lại: hãy vui mừng. Hãy để lòng nhân hậu của anh em được mọi người biết đến. Chúa đã gần kề! Đừng lo lắng gì cả, nhưng trong mọi sự, hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin và tạ ơn mà trình dâng lên Thiên Chúa những điều anh em cầu xin." (Phil 4:4-6) Chúng ta đang chờ đợi Chúa đến, Đấng sẽ mang đến Vương quốc Thiên Chúa qua lời nói và việc làm của Chúa Giêsu Kitô, chính Thiên Chúa Ngôi Lời, Đấng sẽ trở thành Hài Nhi, sinh ra bởi Đức Trinh Nữ. Vương quốc sẽ được đặc trưng bởi tình yêu, hòa bình, công lý và hạnh phúc phổ quát, do Đấng Messia được mong đợi mang đến, mà tiên tri Isaia, trong các chương tiếp theo đoạn văn trong Bài đọc I hôm nay, đã mô tả bằng một loạt ẩn dụ như "con báo nằm bên cạnh dê con" hay "con gấu và con bò sẽ cùng gặm cỏ".
Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, tiên tri Isaia một lần nữa mô tả Vương quốc sắp đến như một sự kiện giải phóng mang đến nhiều điều mới mẻ cho tất cả mọi người. Bối cảnh trực tiếp là sự giải phóng dân Israel khỏi ách nô lệ Babylon: Thiên Chúa sẽ sớm giải thoát dân Người khỏi ách nô lệ, trừng phạt thích đáng những kẻ đã áp bức họ; điều này sẽ là lý do để hân hoan và một cuộc sống mới, được mô tả bằng những ẩn dụ về việc người mù được sáng mắt và người bệnh được khỏe mạnh, cùng nhiều hình ảnh tương tự khác. Tuy nhiên, lời tiên tri còn đi xa hơn thế nữa và mô tả sự xuất hiện của Đấng Messia và Vua mới, Đấng mang đến sự phục hồi cho toàn thể nhân loại, Người hơn hẳn một Đấng Messia tầm thường, hơn hẳn một tiên tri. Đấng Messia này, Vua hòa bình, sẽ đến với chúng ta trong thân xác yếu đuối của một Hài Nhi và sẽ là một món quà đặc ân độc nhất vô nhị và không thể lặp lại đối với chúng ta, một món quà mà chúng ta không thể không cảm thấy mình được đặc ân hơn tất cả những người khác. Ngay cả Gioan Tẩy Giả, mặc dù là một vĩ nhân xứng đáng được vinh quang và tôn vinh, nhưng lại là người thấp kém nhất trong tất cả những người được ân sủng của Chúa Giêsu Cứu Thế trong Vương quốc do Đấng Messia mang đến. Thật vậy, Gioan đã mở đầu Tân Ước, loan báo và giới thiệu Đấng Cứu Thế, Ngôi Lời Nhập Thể, và chỉ ra Chúa Giêsu là "Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" (Ga 1:29); ngài rao giảng phép rửa để được tha tội, chuẩn bị cho phép rửa của Chúa Giêsu, chính phép rửa này xóa bỏ tội lỗi; ngài trở thành "tiếng kêu trong hoang địa" để mở đường cứu rỗi trong sa mạc của tâm hồn con người. Tuy nhiên, ngài đã không được hưởng lợi ích từ lời rao giảng của Chúa Kitô, từ giáo huấn dựa trên dụ ngôn, từ sự tham gia của Người vào mầu nhiệm Thánh Thể, và từ sự tuôn đổ Chúa Thánh Thần trong Lễ Ngũ Tuần. Tất cả chúng ta đều được hưởng lợi ích từ điều này bởi vì chúng ta đã thấy và thấm nhuần những gì mà các tổ phụ và tiên tri cũng mong muốn thấy và thấm nhuần, và vì lý do này, chúng ta nên cảm thấy được tôn vinh và ưu ái trong đức tin của mình vào Chúa, Ngôi Lời Nhập Thể.
Chính vì vậy, những gì diễn ra trước mắt chúng ta là một biến cố phấn khởi, một biến cố mà chúng ta không thể không vui mừng và hân hoan.
Với các sứ giả của Gioan, những người hỏi Chúa Giêsu rằng Ngài có phải là Đấng Messia hay họ nên chờ đợi một Đấng khác, Chúa Giêsu đã không trả lời bằng những khái niệm hay lý thuyết trừu tượng, nhưng bằng cách trình bày thực tế của các sự kiện, tức là bằng chứng của những sự kiện đã được Isaia và các tiên tri thời xưa báo trước: người mù được thấy, người điếc được nghe, người què được đi, người phong được sạch, và người nghèo được loan báo Tin Mừng. Tất cả những việc này, tự thân, giải thích thực tại mới của Vương quốc Thiên Chúa và sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế, Đấng cùng với những việc này làm cho lòng thương xót của Chúa Cha được biểu lộ và không thể nhầm lẫn.
Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta là Thiên Chúa của Tình Yêu và Lòng Thương Xót, Đấng thích hiện diện trong sự đơn sơ và nhỏ bé, và trong trạng thái khiêm nhường này, Ngài thường mặc khải chính mình về phía những người bé mọn và bị loại trừ. Vì vậy, đối với những người trước đây im lặng và giờ đây có thể nói; đối với những người trước đây không thể nhìn thấy và giờ đây có thể phân biệt các sự vật; đối với những người, vì lỗi lầm của chúng ta, đã nghèo đói và bị gạt ra ngoài lề, những người rốt cùng và bị từ chối, thì giờ đây thay vào đó được tôn vinh và ban thưởng trên hết mọi người. Không cần phải chờ đợi bất kỳ ai. Chúa Giêsu Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một (Dt 13:8), không thay đổi giáo huấn của Người và trên hết là không mâu thuẫn với những sự kiện đi kèm với lời Người.
Thay vào đó, điều thiết yếu là phải vui mừng và do đó tuân thủ thực tại mới mà Lễ Giáng sinh mang đến trong lịch sử của chúng ta, để chúng ta cũng có thể thống trị với Chúa Giêsu và góp phần vào sự biến đổi triệt để của thế giới thù địch và bất lợi này.
Niềm vui của chúng ta dựa trên sự ưu tiên chọn người nghèo
Niềm vui sinh ra từ hoàn cảnh khó khăn
Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng được gọi là "Chúa Nhật của niềm vui".
"Giai điệu" của niềm vui được ban tặng cho chúng ta qua lời loan báo của tiên tri Isaia: "Hỡi hoang địa và đất khô, hãy mừng rỡ và trổ hoa. Hãy nở rộ như hoa thủy tiên, hãy ca hát mừng rỡ. Vinh quang của Li-băng đã được ban cho nó, cùng với vẻ huy hoàng của núi Carmel và Sharon" (Is 35:1-2a);
"Những người được Chúa cứu chuộc sẽ trở về; họ sẽ đến Xi-on giữa tiếng reo hò; niềm vui bất tận sẽ ở trên đầu họ; niềm vui và sự hân hoan sẽ theo sau họ, và nỗi buồn và tang tóc sẽ biến mất" (Is 35:10).
Hoàn cảnh ban đầu của những người được mời gọi trải nghiệm niềm vui trọn vẹn không hề tốt đẹp. Nó được so sánh với sa mạc, với một môi trường sống khó khăn, nơi sự cô độc đồng nghĩa với sự cô lập. Đó là hoàn cảnh của những người "yếu đuối, chán nản, thậm chí tuyệt vọng", những người cần được nghe lời khích lệ (Is 35:3-4).
Ngay cả Gioan Tẩy Giả, người mà chúng ta đã suy ngẫm vào Chúa Nhật tuần trước trong sứ mệnh rao giảng sự hoán cải cho dân chúng và làm phép rửa, Chúa Nhật này chúng ta cũng hình dung ra một hoàn cảnh cô lập, bởi vì ông bị giam cầm và đầy những nghi ngờ về Chúa Giêsu: "Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?" (Mt 11:3). Gioan đã rao giảng về sự xuất hiện của một Đấng Messia quyền năng, Đấng sẽ trừng phạt kẻ ác.
Chúa Giêsu tự giới thiệu mình là một mục tử tốt lành, người đã chọn ra đi để gặp gỡ những con chiên lạc lối nhất.
Tại sao chúng ta có thể thực sự hạnh phúc ngay cả khi chúng ta sống trong hoàn cảnh nghèo đói, chán nản, hay cô lập vì tội lỗi của mình, hoặc vì chúng ta bị bách hại, như Gioan, vì công lý và việc rao giảng Lời Chúa?
Niềm vui của chúng ta đến từ sự ưu tiên của Thiên Chúa dành cho người nghèo.
Câu trả lời là như sau: Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Con trong Chúa Thánh Thần, đã thể hiện rõ ràng sự lựa chọn ưu tiên của Người dành cho người nghèo và những người đau khổ nhất, đồng thời mời gọi chúng ta tìm kiếm con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực bằng cách cũng lựa chọn như vậy.
Được Chúa Thánh Thần linh hứng, ngôn sứ Isaia đã loan báo: "Bấy giờ mắt người mù sẽ mở ra, tai người điếc sẽ nghe được. Bấy giờ người què sẽ nhảy nhót như nai, lưỡi người câm sẽ reo mừng" (Is 35:5-6a).
Chúa Giêsu đang ứng nghiệm lời tiên tri của Isaia, như thánh sử Mátthêu đã viết trong các chương trước: "Người mù được thấy (x. Mt 9:27-31); người què được đi (x. Mt 8:5-13 và Mt 9:1-7); người phong hủi được sạch (x. Mt 8:1-4); người điếc được nghe" (Is 35:1-4).(x. Mt 9:32-34); người chết sống lại (x. Mt 9:18-25)" (Mt 11:5).
"Người nghèo được loan báo Tin Mừng"
Điểm mới lạ trong câu chuyện của thánh sử, so với lời tiên tri này của Isaia, nằm ở lời khẳng định cuối cùng: "Người nghèo được loan báo Tin Mừng" (Mt 11:3). Trước khi được giải thoát khỏi bệnh tật, người nghèo có được trải nghiệm an ủi và giải thoát khi cảm thấy được Chúa Cha yêu thương một cách đặc ân, hiệp nhất với Chúa Con trong Chúa Thánh Thần.
Phương thuốc chữa lành quan trọng nhất là phục hồi phẩm giá của họ như những người con yêu dấu của Chúa Cha.
Không ai nghi ngờ rằng Gioan Tẩy Giả là một vị tiên tri vĩ đại. Chúa Giêsu khen ngợi Gioan, người đang chịu đau khổ trong tù: "Vậy, ngươi ra xem gì? Một vị tiên tri sao? Phải, Ta bảo các ngươi, và còn hơn cả một vị tiên tri nữa!" [...] Quả thật, Ta bảo các ngươi, trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả" (Mt 11,9b, 11a). Rồi Người nói thêm một điều mới: "Kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả" (Mt 11b).
Thật là một thách đố cho chúng ta để hiểu và sống ý nghĩa của lời tuyên bố này: những người cuối cùng trong danh sách, những người chịu nhiều đau khổ và nghèo đói nhất, những người không có tiếng nói hay thậm chí không có cơ hội để nổi lên, lại quan trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả, mặc dù ông vẫn được công nhận là vị tiên tri vĩ đại nhất của Cựu Ước.
Tiếp tục đọc chương 11 của Phúc Âm Matthêô, chúng ta thấy lời cầu nguyện tuyệt vời của Chúa Giê-su dâng lên Chúa Cha, lời cầu nguyện này xác nhận điều mà Chúa và Thầy chúng ta đã công bố khi công bố mối phúc đầu tiên: "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ" (Mt 5,3).
Trong Mt 11,25-26, chúng ta đọc: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín những điều này với Những người khôn ngoan và thông minh đã mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì Cha vui lòng . "
Những người nghèo khổ rất quan trọng đối với Chúa Giêsu đến nỗi Ngài, Vua vũ trụ, đồng cảm với những người đói khát, lang thang, trần truồng, bệnh tật, tù đày, bị gạt ra ngoài lề xã hội (x. Mt 25,31-46).
Sự lựa chọn ưu tiên của chúng ta dành cho người nghèo là nguồn vui đích thực.
Ước gì sự lựa chọn ưu tiên dành cho người nghèo, trước tiên được thực hiện bởi Thiên Chúa Cha, kết hợp với Chúa Con trong Chúa Thánh Thần, cũng trở thành lựa chọn cá nhân của chúng ta.
Chúng ta được kêu gọi làm gì để làm chứng cho lựa chọn này trong cuộc sống?
Chúng ta được mời gọi trải nghiệm việc chia sẻ trong tình liên đới những gì chúng ta có và những gì chúng ta đang có với những người đau khổ nhất, bằng cách sẵn sàng để họ truyền giáo cho chúng ta.
Chúng ta đã hát với những câu thơ của Thánh Vịnh 145, chiêm ngắm hành động liên đới của Thiên Chúa đối với những người bị áp bức:"Người cho kẻ đói ăn, giải thoát người tù, mở mắt người mù, nâng đỡ người ngã xuống, yêu thương người công chính, che chở khách lạ, bảo vệ góa phụ và trẻ mồ côi" (Tv 145:7-9b). Nhưng tất cả những điều này xảy ra bởi vì sự quan phòng của Thiên Chúa cần đôi tay, đôi chân, miệng lưỡi, và tấm lòng quảng đại của chúng ta, những người biết quan tâm đến nhu cầu của tha nhân. Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Con trong Chúa Thánh Thần, hành động vì những người nghèo khổ nhất, bởi vì Người tin tưởng mỗi người chúng ta, những chi thể sống động trong thân thể Hội Thánh của Con yêu dấu Người, Chúa Giêsu Kitô. Việc chia sẻ tình liên đới nhân danh tình con thảo chung của chúng ta với Thiên Chúa Cha là nguồn vui đích thực và trọn vẹn, vượt lên trên niềm vui "hưởng thụ" của việc muốn thỏa mãn những ham muốn ích kỷ, làm lu mờ sự tôn trọng nhân phẩm của người khác. Trong Mùa Vọng này, chúng ta được mời gọi thể hiện tình liên đới sâu sắc hơn với những người đang đau khổ, và khi làm như vậy, chúng ta cảm nghiệm được một niềm vui sâu sắc hơn nhiều so với sự vội vã tìm kiếm quà tặng được quảng bá nhân danh Ông già Noel!
Lạy Chúa Giêsu, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, xin ban cho chúng con biết nhạy cảm với những nhu cầu và đau khổ của tha nhân! Xin Chúa cũng giúp chúng con biết chọn lựa cách ưu tiên cho những người nghèo khổ và đau khổ nhất!
Khi chúng con gặp gỡ người nghèo, với thái độ khiêm nhường chia sẻ những gì chúng con có và là, mà không muốn tỏ ra tốt hơn, thì thường xảy ra trường hợp những người chúng con muốn giúp đỡ trở thành những người rao giảng Tin Mừng cho chúng con, bởi vì một số người trong số họ cho chúng con một chứng tá sáng ngời về sự hy sinh bản thân hoặc phó thác tin tưởng vào Chúa. Sự thanh thản của họ chinh phục chúng con. Chúng con không nói nên lời và vô cùng biết ơn vì sự hiệp thông phong phú mà chúng con trải nghiệm được qua việc chia sẻ cuộc sống của mình một cách tôn trọng, chân thành. Niềm hạnh phúc in hằn trên khuôn mặt họ, bản chất sâu sắc trong việc chia sẻ của họ, và sự giản dị trong con người họ, cho phép chúng con nếm trải niềm vui đích thực của sự hiệp thông như những người con yêu dấu của Chúa Cha, mà chúng con trải nghiệm, ngay tại đây và ngay lúc này, như một sự nếm trước tuyệt vời về Vương quốc của Chúa Cha, một Vương quốc của công lý và hòa bình, của tình huynh đệ và sự hòa hợp.
"Chúng ta hãy kiên trì cho đến ngày Chúa đến!" (Tg 5.7a).
Trước mùa gặt cuối cùng, tượng trưng cho sự quang lâm cuối cùng của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng sẽ đến để phán xét đời sống và các mối quan hệ của chúng ta, bắt đầu từ những người nghèo nhất, là những cơn mưa mùa thu và mùa xuân.
Những cơn mưa, báo trước mùa gặt cuối cùng, tượng trưng cho sự xuất hiện của Chúa Kitô Phục Sinh với món quà là Lời Chúa và món quà là sự hiện diện sống động và chân thực của Người trong Bí tích Thánh Thể và trong thân xác của những người nghèo khổ và đau khổ nhất.
Xin cho cuộc gặp gỡ cầu nguyện của chúng ta với Lời Chúa và sự hiệp thông Thánh Thể nuôi dưỡng khả năng chia sẻ cuộc sống của chúng ta với những người nghèo nhất và đau khổ nhất, biết rằng cuộc gặp gỡ phán xét cuối cùng trên cuộc sống trần thế của chúng ta sẽ là sự viên mãn của niềm vui mà chúng ta đã trải nghiệm, ở đây và bây giờ, khi bước đi, như những người nghèo, với những người nghèo nhất.
Chúa Nhật III MV/C
Mọi cử chỉ mang hương vị con người, đều mở ra những cánh cửa để nhìn vào Vô Tận
Đám đông, công chức và binh lính (những hạng mục thường được coi là không thể thay đổi được) đến gặp Gioan trên sa mạc và hỏi ông một câu: “Chúng tôi phải làm gì?”. Đó là một câu hỏi quen thuộc đối với Thánh Luca, người lặp lại nó trong những câu chuyện hoán cải khác: đám đông vào Lễ Hiện Xuống, người cai ngục thành Philip, chính Thánh Phaolô trên đường đến Đamát. Ta đã nghe câu hỏi này nhiều lần và ta chưa bao giờ tìm thấy câu trả lời nào ngoài phúc âm. Nhiều người đặt câu hỏi này: “Tôi phải làm gì? Hãy cho tôi giải pháp cho vấn đề của tôi.” Đôi khi, đó là một cách ngầm để yêu cầu ai đó giải quyết vấn đề của bạn mà không can dự vào.
Gioan không đưa ra giải pháp nhưng mời gọi chúng ta nhìn vào bên trong cuộc sống của chính mình. Câu trả lời phụ thuộc vào việc bạn là ai, bên trong bạn có gì, bên trong bạn sống như thế nào.
Cách mạng
Những lời của Gioan có liên quan một cách đáng kinh ngạc. Chúng ta cần bắt đầu từ những điều đơn giản: chia sẻ cơm ăn, áo mặc (điên rồ); tính thuế công bằng (công dân); làm nhiệm vụ của mình, không lợi dụng vũ lực (lính).
Có những người tin rằng sự thay đổi là không thể, bởi vì họ tin rằng một số tình huống trong cuộc sống của họ là một trở ngại: “Với công việc này của tôi thì điều đó là không thể”, “khi tình hình này thay đổi, chúng ta sẽ nói lại về nó”, “phải chi tôi còn trẻ hơn ... Việc hoán cải của bạn phải diễn ra một cách bình thường trong cuộc sống đời thường. Gioan không đề xuất những cuộc cách mạng trong cuộc sống mà là một cuộc sống mang tính cách mạng. Chính trong thói quen sinh hoạt hàng ngày mà một cuộc sống cách mạng có thể hình thành. Chỉ có Tình yêu mới có thể tạo ra sự thay đổi, chỉ có Tình yêu mới có thể biến sự đơn điệu xám xịt của cuộc sống thành vô số khả năng mới.
Tính cụ thể
Rốt cuộc, Gioan đưa ra những đề xuất có vẻ tầm thường, người ta có thể nói: chỉ vậy thôi sao? Vâng, Tin Mừng rất đơn giản: Thánh Augustinô đã nói: “Hãy yêu thương và làm những gì bạn muốn”. Thánh Gioan nói với tất cả mọi người, và do đó với các bạn, những người đang đọc: “Hãy yêu thương!” Bằng cách nào? Bằng cách cho đi, không đòi hỏi, không giữ lại, không ngược đãi, không tống tiền.
Tôi tưởng tượng ngày hôm đó họ kinh ngạc nhìn chằm chằm vào mặt của Gioan và nghĩ: “Có thật vậy không?” Có lẽ họ đã tưởng tượng ra [ai biết được] những sự hoán cải cuộc sống, những đề xuất mục vụ nào... Không có điều nào trong số này, mà chỉ đơn giản là một việc nhỏ mỗi ngày được thực hiện với niềm vui, với tình yêu. “Chúng tôi phải làm gì?”: đơn giản, những gì chúng ta đã làm, hãy làm với niềm vui nhiều hơn vì Kitô giáo là hiện thân của niềm vui. Chúa Giêsu sẽ còn nói rõ ràng hơn nữa: “Ta đói và các con đã cho Ta ăn, Ta khát và các con đã cho Ta uống, Ta là tù nhân và các con đã đến thăm Ta...» (Mt 25). Sự cụ thể của Chúa Giêsu thật đánh động: cho thứ gì đó để uống, thứ gì đó để ăn, v.v. Chính những cử chỉ yêu thương hàng ngày, thầm lặng, đã tạo nên sự khác biệt. Điều này có thể đánh thức chúng ta khỏi một Kitô giáo đang ngủ quên, khỏi những chủ nghĩa tâm linh trống rỗng và chẳng đi đến đâu, bởi vì yêu là quan tâm đến nhu cầu của con người. Không phải việc tuân giữ các điều răn khiến chúng ta sống mà là tình yêu thương. Thánh Gioan không đòi hy sinh và hiến lễ, không xin vào đền thờ thêm vài lần để tham dự các phụng vụ long trọng, không xin ăn chay cách đặc biệt, nhưng xin những hành động rất nhân bản. Ông không đòi hỏi những điều mà ngày nay một bài giảng giáo hội nào đó vẫn yêu cầu: phụng vụ, tuần cửu nhật, các bài linh thao đạo đức... Thực ra, đây chỉ là những công cụ, để đạt được lòng bác ái lớn hơn, để có thể dễ dàng chia sẻ những của cải cần thiết hơn cho cuộc sống.
Thánh Gioan yêu cầu đám đông, [đã quen với suy nghĩ rằng mối quan hệ với Thiên Chúa kết thúc trong đền thờ và bằng một vài lời cầu nguyện], hãy chia sẻ, để đức tin nuôi dưỡng cuộc sống tránh tình trạng tôn giáo chỉ dừng lại ở ngưỡng cửa nhà thờ. Những gì tôi có và bạn không có, tôi chia sẻ với bạn: chỉ riêng quy tắc vàng này cũng đủ để thay đổi bộ mặt trái đất. Trên thế giới, chúng ta sản xuất thực phẩm cho 14 tỷ người mỗi năm [dân số thế giới hiện nay là 8 tỷ]: vấn đề còn lại chỉ là biết chia sẻ.
Đối với những người thu thuế, những người đã trả một số tiền nhất định cho Nhà nước như khoản phí cho chức vụ này, nên họ xem như mình có quyền đòi lại bằng cách tăng thuế trên dân, Gioan yêu cầu họ phải trung thực, không đòi hỏi bất cứ điều gì nhiều hơn những gì đã đặt ra vì lòng tham là gốc rễ của mọi tham nhũng. Vị Tẩy Giả thậm chí không yêu cầu họ từ bỏ nghề nghiệp của mình, nhưng hãy sống nó một cách công bằng. Thế thôi. Hãy bắt đầu lại từ tính hợp pháp, từ sự trung thực trong những điều nhỏ nhặt.
Gioan chỉ yêu cầu những người lính đã quen với việc sử dụng vũ lực không được áp đặt quyền lực của họ một cách kiêu ngạo. Ông không yêu cầu họ đào ngũ, vì họ có nhiệm vụ đảm bảo tự do, trật tự, ông chỉ yêu cầu từ bỏ bạo lực và không ngược đãi ai.
Nguyên tắc của Gioan rất đơn giản: con người là trên hết. Chính từ những cử chỉ nhỏ bé mà sự hoán cải được sinh ra, việc mơ về những lựa chọn anh hùng [khó có thể xảy ra] là vô ích. Câu trả lời của Gioan thể hiện rõ nét tính cụ thể của điều bình thường mà chúng ta được mời gọi sống, tức là sống cuộc sống hằng ngày với tình yêu phi thường. Thành thật, không hống hách, chia sẻ là bước khởi đầu của con đường nên thánh.
Ngọn lửa
Một câu hỏi bắt đầu nảy sinh trong tâm trí mọi người: liệu Gioan có phải là Đấng Messia được mong đợi không? Lẽ ra ông ấy có thể nói điều đó, họ có thể tin ông ấy nhưng ông ấy không coi mình là Đấng Messia. Thánh Luca, với một thủ thuật ngữ pháp nhỏ, đã làm cho phép rửa của Gioan có vẻ như là lời giới thiệu về phép rửa của Chúa Kitô. Gioan rửa tội ‘bằng nước’; nhưng phép Rửa khác sẽ “rửa trong Thánh Thần và lửa”. Hai nghi thức ở các cấp độ khác nhau. Bí tích Rửa tội đích thực là lửa vì nó sưởi ấm cuộc sống, mang lại niềm đam mê. Ngọn lửa làm xáo trộn, chiếu sáng. Bí tích Rửa tội làm sáng tỏ sức mạnh sống trong chúng ta, tia sáng của Thiên Chúa đang chờ được đánh thức lại. Đây là sự hy sinh đích thực của con người: “Làm cho cuộc sống của mình trở nên thiêng liêng”. Chúng ta sinh ra trong nước nhưng chỉ trong lửa chúng ta mới lớn lên và ngọn lửa này có tên: Giêsu Nazareth.
Nghi ngờ
Luca kể lại rằng “Gioan đã rao giảng cho mọi người”. Ông loan báo cùng một tin vui như Chúa Giêsu nhưng Đấng Messia sẽ làm ông ta thất vọng, Ngài sẽ khác, Ngài sẽ không phải là vị thẩm phán như ông ta đã nghĩ trước. Tin mừng về Chúa Giêsu sẽ khiến chính Gioan rơi vào cơn khủng hoảng, mặc dù ông đã nhìn nhận Người là Đấng Thiên Sai. Từ trong tù, ông sai các môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu: “Ngài là đấng phải đến hay chúng tôi còn phải đợi một ai khác?”. Ngay cả Gioan cũng không thể tưởng tượng được một Thiên Chúa chỉ biết yêu thương!
Tin vui Chúa nhật tuần này? Mọi cử chỉ, mang đậm hương vị con người, đều mở ra những cánh cửa để nhìn vào Vô Tận.
Thứ hai Tuần III Mùa Vọng
Sự Thật và là nguyên do của tất cả
Sau khi thanh tẩy đền thờ, Đức Giêsu giảng dạy và các đầu mục trưởng lão trong dân hỏi Ngài: Ông lấy quyền gì mà làm những điều đó? Ai đã cho ông quyền đó? Họ vặn hỏi Đức Giêsu không phải để đi tìm chân lý nhưng để làm cho Ngài phải lúng túng với lối lý luận vòng vo và ác ý của họ. Họ muốn dẫn Ngài đến chỗ chống đối lại lề luật.
Biết rõ ý họ, Đức Giêsu vào ‘cuộc chơi’ và Ngài cũng đặt ra cho họ một câu hỏi: ‘Phép rửa của Gioan bởi đâu mà đến? Bởi trời hay bởi loài người? Để trả lời cho những câu hỏi ấy, không thể không đưa ra một lập trường, ủng hộ hay chống lại Gioan, mà dân chúng xem như là vị ngôn sứ của Thiên Chúa. Cũng là thách đố cho con người, theo Đức Giêsu hay chống lại Ngài. Đức Giêsu lợi dụng mọi cơ hội để bày tỏ căn tính đích thực của Ngài, nhưng thủ lãnh các tư tế và trưởng lão vẫn khép kín trong chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi của họ.
Ngày ngày họ nghe giáo huấn của Ngài, nhìn thấy phép lạ Ngài làm, thấy chứng từ của Gioan và họ còn thông hiểu kinh thánh nữa, thế nhưng họ không biết giải thích ‘ngày hôm nay’ của Thiên Chúa. Sự mù lòa trầm kha nhất là sự mù lòa của ý muốn: họ không muốn thấy vì họ cho rằng mình đã biết quá rõ về Đức Giêsu.
Hãy suy tư về những cách thức Đức Giêsu đến gặp ta mỗi ngày và nói với ta, với tất cả quyền năng của Ngài: trong Thánh Thể, trong Kinh Thánh, qua những con người và những biến cố. Ta hãy khiêm tốn cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho con ánh sáng để con nhận ra Ngài là Sự Thật và là nguyên do của tất cả.
Thứ ba Tuần III Mùa Vọng
Thánh Gioan Thánh Giá sinh tại Fontiveros, Tây ban Nha, năm 1542. Chết tại Ubeda ngày 14.12.1591. Là một trong những vị thầy dạy vĩ đại và chứng nhân của đời sống thần nhiệm. Vào dòng Kín, Ngài được huấn luyện nhân bản và thần học. Cùng chia sẻ với Thánh Têrêxa Avila chương trình canh tân Dòng Kín. Chúa đã để cho Ngài chịu đựng thử thách là những thiếu thông cảm từ nơi các anh em trong dòng. Trong cuộc hành trình thập giá này, Ngài chấp nhận tất cả chỉ vì tình yêu, ngài đã có những thị kiến được diễn tả qua các tác phẩm ‘Lên núi Carmel’, ‘Đêm tối tâm hồn’, ‘Bài ca của tâm hồn’, ‘Cháy lửa tình yêu’. Là nhà hướng dẫn nhiều thế hệ các tâm hồn đến chiêm niệm và kết hiệp với Thiên Chúa.
+++
Lời nói và hành động
Cuộc đối thoại ngày hôm qua của Đức Giêsu với các tiến sĩ luật, được tiếp nối trong đoạn tin mừng hôm nay: dụ ngôn hai người con. Phản ứng đầu tiên của ta khi nghe câu chuyện trên: Có thì nói có, không thì nói không. Hình như chẳng có ai theo.
Một người con nói ‘Vâng, vâng’ nhưng không làm gì cả, còn người kia nói ‘không’ nhưng sau đó lại hồi tâm suy nghĩ rồi đi làm. Thực hiện công việc mà cha anh giao cho anh. Xét kết quả, ta nhận ra ngay rằng Đức Giêsu luôn thi hành ý Chúa Cha. Các luật sĩ đứng trước một tấm gương soi. Một sự biện phân đạo đức hay một diễn văn thánh thiện có ích chi khi vẫn còn thiếu nhất quán giữa lời nói và hành động?
Thứ tư Tuần III Mùa Vọng
Ngày 17.12
Đấng Khôn Ngoan
Từ ngày 17 đến 23 tháng 12 các điệp ca tin mừng của giờ Kinh Chiều khởi đầu bằng một tán thán từ ‘Lạy Đấng..’, để diễn tả tâm tình tán tụng, ngợi khen. Là những lời khẩn cầu tha thiết của Giáo Hội dâng lên Đấng Cứu Độ mình. Hàm chứa tất cả cốt tủy phụng vụ Mùa Vọng. Là những lời ca tụng những khía cạnh thiên sai khác nhau của Đức Giêsu.
Hôm nay chúng ta chuẩn bị đón nhận Đấng Cứu Thế là Đấng Khôn Ngoan Thượng Trí. Xin Ngài hướng dẫn chúng ta trên con đường khôn ngoan.
Mười bảy câu đầu tiên của tin mừng Mathêô gồm một danh sách dài tên các nhân vật. Gia phả bắt đầu từ tổ phụ Abraham, người cha trong đức tin, cho đến Đức Kitô, dòng tộc Davít. Theo ngôn ngữ kinh thánh, nên biết rằng đàng sau mỗi cái tên là cả một lịch sử, xem chừng ra rời rạc, đan xen những lo toan, đau khổ, của sự thánh thiện và của những lần bội phản, của mong chờ và hy vọng, nhưng kết thúc bằng một cái nhìn thần học về lịch sử, tất cả đều gắn kết vào một biến cố, vào một con người, Đức Kitô. Những dự tính của Thiên Chúa đều có những lối đường riêng, đi vào giữa cuộc sống đời thường của con người, có nhiều lúc xem ra bị đảo lộn, bị bóp méo đi, nhưng cái kết thúc trong đức tin vẫn luôn là một: điều Thiên Chúa muốn, Ngài thực hiện cả dưới đất cũng như trên trời. Thiên Chúa là Chúa của lịch sử và mỗi một Noel đến, thực tại ấy lại càng hiển nhiên hơn. Khi lịch sử cuộc đời mỗi người chúng ta hầu như rơi vào vực thẳm của sự dữ, chúng ta cần nhớ rằng Thiên Chúa cứu chúng ta, sẽ can thiệp và cứu thoát chúng ta, dù ta đang phải sống trong tình trạng tồi tệ nhất.
+++
Đấng phải đến
Gioan Tẩy Giả bị giam tù. Có lẽ ông ít nhiều cam chịu cái chết. Nhưng vấn nạn dày vò ông là muốn biết tất cả những gì ông làm và giảng dạy có ý nghĩa gì không? Đấng mà ông chuẩn bị dọn đường cho thực sự có phải là Đức Giêsu Nagiarét. Vì thế mà ông sai các môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu.
Điều đó cho thấy không phải ông Gioan hoàn toàn nghi ngờ, nhưng điều ông muốn là phải hoàn toàn chắc chắn, bảo đảm. Nên ông sai môn đệ đi hỏi: ‘Ngài có phải là Đấng phải đến không? Đức Giêsu không trả lời bằng một câu đơn giản ‘vâng chính ta đây’, nhưng ngài lại gợi cho các môn đệ về những việc Ngài làm. Là những tín hữu biết rõ kinh thánh, họ hiểu ngay là giờ cứu độ đã đến. Việc Đấng Messia đến và khởi đầu thời gian ơn cứu độ được loan báo bằng những dấu chỉ mà Isaia đã nói trước.
Thứ Năm Tuần III Mùa Vọng
Ngày 18.12
Thủ Lãnh nhà Israel
Lạy Thủ Lãnh nhà Israel, Đấng ban lề luật, xin ngự đến mà ra tay cứu chuộc loài người!
Trong kinh thánh có nhiều gia phả khác nhau. Gia phả của Đức Kitô có vẻ đơn điệu nhưng thật tuyệt vời. Giúp ta hiểu rằng Đấng Messia xuất phát từ một dòng tộc trong đó vừa có những thánh nhân và cả những tội nhân.
Hôm nay chúng ta đọc đoạn cuối của gia phả Đức Kitô theo thánh Mathêô, Đức Kitô được nhắc đến ngay đoạn đầu và đoạn kết, có ý muốn diễn tả Ngài ôm trọn toàn thể nhân loại. Tên gọi Giêsu, có nghĩa là Thiên Chúa cứu độ, thuộc dòng Đavít, con của Maria và là Con Thiên Chúa.
Lời sứ ngôn Isaia được thực hiện. Đấng Cứu Thế là ‘Thiên Chúa ở với chúng ta’. Nhờ Ngài Đấng Hằng Hữu tiếp cận chúng ta.
+++
Gioan Tẩy Giả là ai đối với Đức Giêsu và những người đồng hương của ngài? Người ta đi tìm gì trong hoang địa?
Đức Giêsu tìm cách đề cao nhân vật Gioan Tẩy Giả, nghĩa là làm cho dân chúng có khả năng trả lời cho câu hỏi này. Ngài hỏi họ ba lần: Người ta mong chờ xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Hẳn là không, chẳng ai quan tâm điều ấy. Điều người ta mong chờ nơi Gioan Tẩy Giả cũng không phải là một con người nịnh hót họ nhưng trái lại, là lời mời gọi sám hối của ông tận sâu bên trong. Họ cũng không thể mong chờ một con người ăn mặc xa hoa, họ chắc phải tìm gặp một con người như thế ở nơi khác. Nên họ đi tìm gặp một con người của Thiên Chúa, một vị ngôn sứ. Và Đức Giêsu quả quyết: còn hơn cả ngôn sứ nữa! Là người sau cùng đến chuẩn bị cho ngài một con đường. Đức Giêsu càng nhấn mạnh đến sự cao trọng của Gioan bao nhiêu thì ngài càng muốn lưu ý đến sự khác biệt giữa ngài và Gioan bấy nhiêu.
Gioan ở đây là vì Đức Giêsu chứ không phải ngược lại. Nhưng điều quan trọng là lời loan báo Nước Thiên Chúa.
Thứ sáu Tuần III Mùa Vọng
Ngày 19.12
Mầm non gốc Giessê
Lạy Đức Kitô là Mầm Non từ gốc Giessê, xin triệu tập muôn dân, xin mau đến giải thoát chúng con!
Thiên Chúa luôn mạc khải chính mình là Đấng Cứu Độ. Ơn cứu độ Đấng Messia mang đến được rõ nét dần trong dòng lịch sử. Sự cứu thoát mà thủ lãnh Samson mang đến chỉ là tạm thời, chóng qua. Với Đức Giêsu, ơn cứu độ thuộc bình diện khác. Cuộc chiến đấu mà Ngài khởi sự nhằm chống lại những gì làm ngăn cản cuộc gặp mặt sau cùng với Thiên Chúa.
Tôi có trở nên một dấu chỉ, qua cung cách sống của tôi?
Thiên thần Gabriel hiện ra cho ông Giacaria, chồng bà Êlisabét, cả hai đều đã cao niên. Báo tin việc sinh hạ Gioan Tẩy Giả, tiền hô của Đức Giêsu.
Thánh sử Luca cho biết rõ chi tiết: Ông Giacaria là tư tế vào thời vua Hêrôđê, ‘theo tục lệ của hàng tư tế, ông đã trúng thăm được vào dâng hương trong Đền Thờ của Đức Chúa’. Trong khi dân chúng cầu nguyện ở bên ngoài nơi cực thánh, một sứ thần của Chúa đã hiện ra với ông bên phải hương án. Ông hoảng sợ, nhưng sứ thần trấn an ông: ‘Này Giacaria, đừng sợ’. Những lời này cũng sẽ được nói với Đức Maria. Nhưng phản ứng của hai người thì khác nhau khi nghe loan báo ‘việc sinh con’ xem chừng bất khả thi theo cách nhân loại. Giacaria đã già và vợ ông cũng cao niên. Họ chẳng còn mong ước gì ngoại trừ việc kết thúc cuộc đời trong sự cam chịu. Không còn chút hy vọng gì có được đứa con nối dõi tông đường. Nghi ngờ đó đã khiến ông Giacaria bị câm, cho đến lúc ông đặt tên cho con.
Chúng ta nhiều lần cũng thế, chúng ta suy luận theo cái lôgích nhân loại và không còn chút hy vọng gì. Nên chúng ta chẳng còn lời để ca tụng những kỳ công của Thiên Chúa. Lòng yêu thương của Chúa ngược lại với lòng tin yếu kém của ta. Việc sinh con bất khả thi theo kiểu nhân loại mà tin mừng thuật lại, là bài học cho ta. Cũng thế việc ‘son sẻ’ của ta trong đời sống kitô hữu sẽ thắng vượt nhờ trợ lực của tình yêu và tín thác. Ta có thể làm phát sinh những con người và những sự kiện, ta có thể cưu mang những đứa con cho Nước Trời.
Thứ Bảy Tuần III Mùa Vọng
Ngày 20.12
Chìa khóa Đavít
Hỡi chìa khóa Đavít, vương trượng nhà Israel, ngài mở ra thì không ai đóng lại được, ngài đóng lại thì không ai mở ra được: xin hãy đến cứu thoát người bị xiềng xích đang ngồi trong bóng tối tăm khỏi cảnh ngục tù.
Chìa khóa và vương trượng: hai biểu tượng mở ra lời ca nhập lễ hôm nay, luôn trong bối cảnh nhà Đavít, từ đó vương trượng hướng dẫn và điều khiển sẽ không bị cất khỏi (x.St 49,10) và người quản gia có nhiệm vụ mở và đóng cửa: ‘Chìa khóa nhà Đavít, Ta sẽ đặt trên vai nó. Nó mở ra thì không ai đóng được, nó đóng lại thì không ai mở được’ (Is 22,22). Một nhiệm vụ nặng nề cho nhà Giuđa, cho Giáo hội hoàn vũ dưới sự lãnh đạo của Phêrô, người mà ngay sau khi tuyên bố Đức Giêsu là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống, đã được đức Giêsu trao chìa khóa Nước Trời để cầm buộc và tháo cởi (x. Mt 16,15-19).
Cũng chính Đức Kitô ngỏ lời với giáo đoàn Philadelphia (x.Kh 3,7-8): Đấng Thánh, Đấng Chân Thật, Đấng giữ chìa khóa vua Đavít, Người mở ra thì không ai đóng lại được, Người đóng lại thì không ai mở ra được. Người biết các việc làm của ta, đối với ai giữ lời và không chối bỏ danh Người thì Người không đóng cửa cứu độ.
Cửa cứu độ không đóng lại cho bất cứ ai! Ngay cả khi nhà Đavít chối từ xin Chúa một dấu chỉ (Is 7,10-14), Thiên Chúa vẫn cứ ban cho. Dấu chỉ là việc hạ sinh một con trai, gọi tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chính Thiên Chúa chăm sóc triều đại Giuđa, bảo vệ và gìn giữ như lời đã hứa. Qua trung gian một vị vua, người kế vị nhà Đavít, tôi tớ của Chúa sẽ ban ơn cứu độ cho dân tộc, cho mọi dân nước địa cầu, giải thoát họ khỏi bóng tối tù ngục và sự chết, bẻ gãy xiềng xích của họ (x.Tv 107; Is 42,7). Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Đấng Tối Cao; Đức Chúa sẽ trao cho Người ngôi báu Đavít tổ phụ Người và sẽ trị vì mãi mãi (x.Lc 1,32-33). Đó là lời truyền tin cho trinh nữ Maria làng Nagiarét. Mẹ mở của nhà mình, tiếp đón sứ giả của Thiên Chúa, đón nhận quyền năng của Đấng Tối Cao rợp bóng trên mình và bày tỏ sự hoàn toàn dấn thân cộng tác vào kế hoạch cứu độ: ‘Này tôi là tôi tá Chúa, xin hãy thành sự cho tôi theo lời sứ thần truyền’ (Lc 1,38).
Đấng giải thoát ta khỏi bóng tối sự chết đã được hình thành trong lòng mẹ!
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Ngày 17.12
Đấng Khôn Ngoan
Từ ngày 17 đến 23 tháng 12 các điệp ca tin mừng của giờ Kinh Chiều khởi đầu bằng một tán thán từ ‘Lạy Đấng..’, để diễn tả tâm tình tán tụng, ngợi khen. Là những lời khẩn cầu tha thiết của Giáo Hội dâng lên Đấng Cứu Độ mình. Hàm chứa tất cả cốt tủy phụng vụ Mùa Vọng. Là những lời ca tụng những khía cạnh thiên sai khác nhau của Đức Giêsu.
Hôm nay chúng ta chuẩn bị đón nhận Đấng Cứu Thế là Đấng Khôn Ngoan Thượng Trí. Xin Ngài hướng dẫn chúng ta trên con đường khôn ngoan.
Mười bảy câu đầu tiên của tin mừng Mathêô gồm một danh sách dài tên các nhân vật. Gia phả bắt đầu từ tổ phụ Abraham, người cha trong đức tin, cho đến Đức Kitô, dòng tộc Davít. Theo ngôn ngữ kinh thánh, nên biết rằng đàng sau mỗi cái tên là cả một lịch sử, xem chừng ra rời rạc, đan xen những lo toan, đau khổ, của sự thánh thiện và của những lần bội phản, của mong chờ và hy vọng, nhưng kết thúc bằng một cái nhìn thần học về lịch sử, tất cả đều gắn kết vào một biến cố, vào một con người, Đức Kitô. Những dự tính của Thiên Chúa đều có những lối đường riêng, đi vào giữa cuộc sống đời thường của con người, có nhiều lúc xem ra bị đảo lộn, bị bóp méo đi, nhưng cái kết thúc trong đức tin vẫn luôn là một: điều Thiên Chúa muốn, Ngài thực hiện cả dưới đất cũng như trên trời. Thiên Chúa là Chúa của lịch sử và mỗi một Noel đến, thực tại ấy lại càng hiển nhiên hơn. Khi lịch sử cuộc đời mỗi người chúng ta hầu như rơi vào vực thẳm của sự dữ, chúng ta cần nhớ rằng Thiên Chúa cứu chúng ta, sẽ can thiệp và cứu thoát chúng ta, dù ta đang phải sống trong tình trạng tồi tệ nhất.
Ngày 18.12
Thủ Lãnh nhà Israel
Lạy Thủ Lãnh nhà Israel, Đấng ban lề luật, xin ngự đến mà ra tay cứu chuộc loài người!
Trong kinh thánh có nhiều gia phả khác nhau. Gia phả của Đức Kitô có vẻ đơn điệu nhưng thật tuyệt vời. Giúp ta hiểu rằng Đấng Messia xuất phát từ một dòng tộc trong đó vừa có những thánh nhân và cả những tội nhân.
Hôm nay chúng ta đọc đoạn cuối của gia phả Đức Kitô theo thánh Mathêô, Đức Kitô được nhắc đến ngay đoạn đầu và đoạn kết, có ý muốn diễn tả Ngài ôm trọn toàn thể nhân loại. Tên gọi Giêsu, có nghĩa là Thiên Chúa cứu độ, thuộc dòng Đavít, con của Maria và là Con Thiên Chúa.
Lời sứ ngôn Isaia được thực hiện. Đấng Cứu Thế là ‘Thiên Chúa ở với chúng ta’. Nhờ Ngài Đấng Hằng Hữu tiếp cận chúng ta.
Ngày 19.12
Mầm non gốc Giessê
Lạy Đức Kitô là Mầm Non từ gốc Giessê, xin triệu tập muôn dân, xin mau đến giải thoát chúng con!
Thiên Chúa luôn mạc khải chính mình là Đấng Cứu Độ. Ơn cứu độ Đấng Messia mang đến được rõ nét dần trong dòng lịch sử. Sự cứu thoát mà thủ lãnh Samson mang đến chỉ là tạm thời, chóng qua. Với Đức Giêsu, ơn cứu độ thuộc bình diện khác. Cuộc chiến đấu mà Ngài khởi sự nhằm chống lại những gì làm ngăn cản cuộc gặp mặt sau cùng với Thiên Chúa.
Tôi có trở nên một dấu chỉ, qua cung cách sống của tôi?
Thiên thần Gabriel hiện ra cho ông Giacaria, chồng bà Êlisabét, cả hai đều đã cao niên. Báo tin việc sinh hạ Gioan Tẩy Giả, tiền hô của Đức Giêsu.
Thánh sử Luca cho biết rõ chi tiết: Ông Giacaria là tư tế vào thời vua Hêrôđê, ‘theo tục lệ của hàng tư tế, ông đã trúng thăm được vào dâng hương trong Đền Thờ của Đức Chúa’. Trong khi dân chúng cầu nguyện ở bên ngoài nơi cực thánh, một sứ thần của Chúa đã hiện ra với ông bên phải hương án. Ông hoảng sợ, nhưng sứ thần trấn an ông: ‘Này Giacaria, đừng sợ’. Những lời này cũng sẽ được nói với Đức Maria. Nhưng phản ứng của hai người thì khác nhau khi nghe loan báo ‘việc sinh con’ xem chừng bất khả thi theo cách nhân loại. Giacaria đã già và vợ ông cũng cao niên. Họ chẳng còn mong ước gì ngoại trừ việc kết thúc cuộc đời trong sự cam chịu. Không còn chút hy vọng gì có được đứa con nối dõi tông đường. Nghi ngờ đó đã khiến ông Giacaria bị câm, cho đến lúc ông đặt tên cho con.
Chúng ta nhiều lần cũng thế, chúng ta suy luận theo cái lôgích nhân loại và không còn chút hy vọng gì. Nên chúng ta chẳng còn lời để ca tụng những kỳ công của Thiên Chúa. Lòng yêu thương của Chúa ngược lại với lòng tin yếu kém của ta. Việc sinh con bất khả thi theo kiểu nhân loại mà tin mừng thuật lại, là bài học cho ta. Cũng thế việc ‘son sẻ’ của ta trong đời sống kitô hữu sẽ thắng vượt nhờ trợ lực của tình yêu và tín thác. Ta có thể làm phát sinh những con người và những sự kiện, ta có thể cưu mang những đứa con cho Nước Trời.
Ngày 20.12
Chìa khóa Đavít
Hỡi chìa khóa Đavít, vương trượng nhà Israel, ngài mở ra thì không ai đóng lại được, ngài đóng lại thì không ai mở ra được: xin hãy đến cứu thoát người bị xiềng xích đang ngồi trong bóng tối tăm khỏi cảnh ngục tù.
Chìa khóa và vương trượng: hai biểu tượng mở ra lời ca nhập lễ hôm nay, luôn trong bối cảnh nhà Đavít, từ đó vương trượng hướng dẫn và điều khiển sẽ không bị cất khỏi (x.St 49,10) và người quản gia có nhiệm vụ mở và đóng cửa: ‘Chìa khóa nhà Đavít, Ta sẽ đặt trên vai nó. Nó mở ra thì không ai đóng được, nó đóng lại thì không ai mở được’ (Is 22,22). Một nhiệm vụ nặng nề cho nhà Giuđa, cho Giáo hội hoàn vũ dưới sự lãnh đạo của Phêrô, người mà ngay sau khi tuyên bố Đức Giêsu là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống, đã được đức Giêsu trao chìa khóa Nước Trời để cầm buộc và tháo cởi (x. Mt 16,15-19).
Cũng chính Đức Kitô ngỏ lời với giáo đoàn Philadelphia (x.Kh 3,7-8): Đấng Thánh, Đấng Chân Thật, Đấng giữ chìa khóa vua Đavít, Người mở ra thì không ai đóng lại được, Người đóng lại thì không ai mở ra được. Người biết các việc làm của ta, đối với ai giữ lời và không chối bỏ danh Người thì Người không đóng cửa cứu độ.
Cửa cứu độ không đóng lại cho bất cứ ai! Ngay cả khi nhà Đavít chối từ xin Chúa một dấu chỉ (Is 7,10-14), Thiên Chúa vẫn cứ ban cho. Dấu chỉ là việc hạ sinh một con trai, gọi tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chính Thiên Chúa chăm sóc triều đại Giuđa, bảo vệ và gìn giữ như lời đã hứa. Qua trung gian một vị vua, người kế vị nhà Đavít, tôi tớ của Chúa sẽ ban ơn cứu độ cho dân tộc, cho mọi dân nước địa cầu, giải thoát họ khỏi bóng tối tù ngục và sự chết, bẻ gãy xiềng xích của họ (x.Tv 107; Is 42,7). Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Đấng Tối Cao; Đức Chúa sẽ trao cho Người ngôi báu Đavít tổ phụ Người và sẽ trị vì mãi mãi (x.Lc 1,32-33). Đó là lời truyền tin cho trinh nữ Maria làng Nagiarét. Mẹ mở của nhà mình, tiếp đón sứ giả của Thiên Chúa, đón nhận quyền năng của Đấng Tối Cao rợp bóng trên mình và bày tỏ sự hoàn toàn dấn thân cộng tác vào kế hoạch cứu độ: ‘Này tôi là tôi tá Chúa, xin hãy thành sự cho tôi theo lời sứ thần truyền’ (Lc 1,38).
Đấng giải thoát ta khỏi bóng tối sự chết đã được hình thành trong lòng mẹ!
Ngày 21.12
Niềm vui hội ngộ
Lạy Đức Kitô là Vầng Đông xuất hiện, hào quang tỏa sáng, mặt trời công chính, xin ngự đến sáng soi! ‘Tiếng người tôi yêu, kìa chàng đang tới, nhảy nhót trên đồi, tung tăng trên núi’ (Dc 2,8). Còn ít ngày nữa Người sẽ tới. Tôi có nhận ra Người và đón nhận Người không? Những lời của sách Diễm ca, là những lời của chính tôi.
Từ lúc Mẹ Maria hạ sinh Hài Nhi Giêsu, Giáo Hội tỉnh thức và chuẩn bị việc Đấng Messia đến. Chẳng ích lợi gì khi cử hành hàng năm ngày sinh của Đấng Cứu Thế, nếu Ngài không sinh ra mỗi ngày trong lòng ta. Lạy Chúa, xin cho con mở rộng lòng con hết sức có thể để đón Ngài đến.
Hãy vui lên! Ý nghĩa của từ Ave. Là niềm vui xuyên suốt thời Cựu Ước và đạt đến đỉnh cao trong hai bài sách thánh được chọn đọc trong phụng vụ hôm nay, sách Diễm Ca hoặc sách Sophônia. Vui vì sự hiện diện của một vị sắp đến. Là chàng rễ trong sách Diễm Ca, là Thiên Chúa yêu thương chúng ta; là ‘Vua Israel ở giữa ngươi như Vị Cứu Tinh anh hùng’. Êlisabét đã nhận ra Ngài nơi đứa trẻ trong lòng Maria; Gioan Tẩy Giả dù còn trong bụng mẹ cũng đã nhảy lên vui mừng.
Cuộc hội ngộ giữa Êlisabét và Maria là cuộc gặp gỡ giữa chờ đợi và hoàn thành, giữa lời hứa và việc thi hành lời hứa. Mỗi bà mẹ đều hoan hỉ vì đứa con của mình và vì đứa con của người kia: niềm vui nhân đôi. Hoàn tất niềm mong chờ của bao thế kỷ. Những giòng nước xuất phát từ những tảng đá trong lịch sử Israel gặp giòng nước mới vọt trào từ quyền năng của Thiên Chúa. Bà Êlisabét cao niên gặp cô gái trẻ Maria. Đấng kết thúc thời cựu ước và khơi nguồn một lịch sử mới.
Niềm vui đích thực đến khi một trẻ thơ sinh ra, khi gặp lại người bạn hữu, khi bắt đầu một cuộc tình. Niềm vui vì người khác. Người khác đó chính Đấng là tất cả của cuộc đời, là Giá Trị siêu việt và là ý nghĩa cho mọi sự. Niềm vui không hệ tại sở hữu nhiều điều, nhưng trong mối tương quan đích thực, khả dĩ nhận ra người khác, phẩm giá và cá tính của người ấy; khả dĩ đón nhận, yêu mến và đi theo người ấy. Có biết bao nhiêu trải nghiệm con người minh họa cho ta chân lý ấy, trong những tương quan gia đình, bạn hữu và người yêu. Mỗi một quan hệ giữa người với người, mỗi một tình bạn, tình yêu giúp ta hiểu rõ hơn việc mở lòng đón Đức Kitô. Tràn đầy niềm vui không nằm ở chỗ đặt những tình cảm nhân loại đối nghịch với tình yêu của Đức Kitô, nhưng hệ tại việc sống những tình cảm ấy như dấu chỉ mở rộng cho một tình yêu cao cả hơn.
Ngày 22.12
Là Vua muôn dân
Lạy Đức Kitô là Vua muôn dân nước, Đấng hoàn cầu hằng mong ước đợi trông, là đá tảng góc tường nối dân Chúa với dân ngoại thành một, xin ngự đến ban ơn giải thoát cho con người do tay Chúa dựng nên!
Lời kinh Magnificat của Mẹ Maria. Hãy để Mẹ Maria dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu. Mẹ Maria cho ta biết bí quyết niềm vui của Mẹ. Mẹ đã chìm đắm trong thinh lặng và trong lời cầu nguyện suy tư tất cả những lời sứ ngôn và bài ca của bà Anna. Nếu ta biết lắng nghe, lòng bên lòng, Mẹ sẽ thông truyền cho ta hoa quả của việc Mẹ chiêm niệm. Lòng ta cũng sẽ bừng dậy niềm vui. Cả hai lời kinh ngợi khen mà Giáo Hội cho ta nghe, là nhằm mời gọi mỗi người hãy hát lên bài ca thứ ba của riêng mình. Một bài ca lắng đọng trong chiêm niệm những lời thánh kinh và trong kinh nghiệm hằng ngày.
Bà Anna dâng cậu con Samuel vào đền thờ, mang theo một con bò ba tuổi, hai thùng bột và một bầu da đầy rượu. Lời cảm tạ và ngợi khen diễn tả vị thế đúng đắn của con người trước mặt Thiên Chúa vì những ân ban của Ngài. Lời ngợi khen của Maria trở thành lời kinh nguyện ban chiều của Giáo Hội, lời cảm tạ ngợi khen mỗi ngày các tín hữu dâng lên Chúa để kết thúc một ngày.
Vậy mà thường khi chúng ta chẳng có chút ý tưởng gì tạ ơn Chúa cả. Tạ ơn về điều gì? Trước tiên, về hồng ân sự sống của mình, của con cái mình. Trong cảm nghiệm của bà Anna, lòng biết ơn là điều hiển nhiên và bà đã dâng đứa con mà Chúa tặng ban cho Chúa. Đứa con khôgn thuộc về chúng ta, những người cha, người mẹ; cuộc đời của nó được thực hiện theo chương trình của Chúa chứ không theo ý muốn hay sự đặt định của chúng ta. Trong lời ngợi ca của Mẹ Maria, chân trời rộng mở từ bình diện cá nhân đến toàn thể dân Chúa, đến lịch sử đã đến trước và còn tiếp theo sau. Con trẻ Giêsu sinh ra không chỉ là trẻ thơ trong vòng tay và trong lòng người mẹ. là sự hoàn thành tối đa toàn thể lịch sử Thiên Chúa với dân của Ngài, là diễn tả tròn đầy tình yêu thương của Đấng cúi xuống để cứu thoát, là chiến thắng sự dữ. Lời kinh Magnificat không chỉ diễn tả lòng tri ân của người mẹ, nhưng còn là lòng tri ân của toàn dân; của toàn dân kitô. Con Trẻ ấy được sinh hạ cho chúng ta.
Thay vì lời than van, là lời ca ngợi; thay vì những yêu sách, là sự hiến dâng hy sinh vất vả. Đó là cung cách mà tôi được mời gọi sống cách đặc biệt hôm nay, bằng cách ý thức đến ân huệ to lớn mình lãnh nhận và cố gắng chu toàn bổn phận được trao phó.
Ngày 23.12
Lạy Đấng Emmanuel
Lạy Đấng Emmanuel, Đấng nắm giữ vương quyền và ban hành luật pháp, xin đến cứu thoát chúng con!
Những ngày cuối cùng trước Lễ Giáng Sinh, cần biết lắng nghe, biết bịt tai lại để khỏi bị lây nhiễm những rộn rịp chuẩn bị mang tính ‘ngoại giáo’ cho lễ Giáng Sinh, biết sẵn sàng lắng nghe Lời Chúa: trước khi xuất hiện, lời Chúa nói với ta để chuẩn bị tâm hồn ta đón tiếp Ngài. Đấng mà chúng ta chờ đợi không phải là một sứ giả, cũng chẳng phải là một vị tiền hô: là chính Thiên Chúa, Thiên Chúa của giao ước. Ngài đến với ta, và chúng ta đã thấy Ngài, đã chạm đến Ngài, chúng ta nghe Ngài nói và lời Ngài nuôi dưỡng chúng ta. Cần đón nhận Đấng Messia như là ân huệ của tình yêu vô biên. Ngày của Chúa, được Malakia loan báo thật vĩ đại, chúng ta cần phải được thanh tẩy.
Tin mừng thuật lại giây phút ông Giacaria, tư tế thời Cựu Ước, tin tưởng tuân phục thánh ý Thiên Chúa: đặt tên cho con trẻ là Gioan. Nơi con trẻ, lời sứ ngôn Malaki được thực hiện, được sai đi để dọn đường cho Chúa Kitô, kêu gọi mọi người sám hối. Gioan, nghĩa là Thiên Chúa thi ân. Tin và tuân phục Thiên Chúa, Giacaria đã được chữa lành khỏi tình trạng câm. Không chỉ là ông được chữa khỏi để nói được, nhưng còn biết dùng miệng lưỡi để ca tụng Thiên Chúa. Mong trên môi miệng chúng ta vang lên những lời nói chân thực, ngay lành, những lời tụng ca Thiên Chúa.
Lạy Chúa, xin mở lưỡi con khỏi tật câm. Xin gìn giữ khỏi những lời gian trá, điêu ngoa, cay chua và rỗng tuếch. Xin cho con biết ngợi khen và ca tụng Chúa, Đấng cứu độ chúng con.
Ngày 24.12
Chiều nay, đêm nay, đông đảo dân chúng sẽ mừng lễ Giáng Sinh, mà không chút nghĩ gì đến lời của Giacaria: ‘Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Israel, đã viếng thăm cứu chuộc dân Người’. Còn chúng ta? Chúng ta có ý thức tình trạng tội nhân của mình và do đó ta cần một Đấng cứu chuộc không?
Bài tụng ca của Giacaria vẽ nên chương trình của Giao Ước mới: cử hành việc phụng thờ trước mặt Thiên Chúa, để tôn thờ Người, để đến gần Người, để hiến dâng hoàn toàn cho Người, và bước đi trên con đường an bình đầy ánh sáng.
Trong ngày áp lễ Giáng Sinh của Đấng Cứu Thế trong khiêm hạ và khó nghèo, chúng ta hãy có lòng khiêm tốn và khó nghèo, như thế ta sẽ biết nhận ra và tiếp nhận Người trong lòng ta. Một ngôi sao chiếu sáng chúng ta: ta có biết rằng mình là những người khách xứng đáng tiếp nhận ngôi sao, như ngôi sao tiếp nhận ta không?
Người của Thiên Chúa, đó là đấng cứu chuộc mà chúng ta đang cần. Chỉ duy mình Thiên Chúa mới có thể cứu độ chúng ta, nhưng Người không muốn cứu con người từ bên ngoài; và do đó Người đã làm người.
Đây là sứ điệp đôi mà bản văn tin mừng Matthêô trao cho ta. Một người xuất phát từ một dòng tộc dài, là đối tượng của lời hứa, đó là đấng cứu chuộc con người. Từ ngày Thiên Chúa tái lập liên hệ qua tổ phụ Ápraham cho đến bé gái thành Nagiarét tên là Maria, Thiên Chúa tự hiến mình một cách nhẫn nại cho công trình này, chuẩn bị ngày sinh hạ của Người Con Một. Gia phả trong tin mừng Matthêô là gia phả lòng thành tín của Thiên Chúa.
Tất cả những con người trong gia phả ấy vẽ nên lịch sử Israel. Họ là những người mang lời hứa. Những bất trung của nhiều người trong số họ càng làm sáng tỏ sự trung tín của Thiên Chúa. Từ một dân tộc tội lỗi xuất phát đấng cứu thế. Vì Người đến là để cứu độ tội nhân. Làm người, Người thuộc về dòng giống của họ và, từ bên trong dòng giống này, Người cứu rỗi họ, bằng cách mang lấy tội của họ: ‘Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên’. Nhưng Đấng trinh nữ sinh ra là do Chúa Thánh Thần. Nhịp điệu của gia phả bị cắt ngang. Nếu con người cần phải được cứu độ từ bên trong nhân tính của mình, thì duy chỉ có Thiên Chúa mới làm được điều này. Và Matthêô nhấn mạnh nguồn gốc thần linh của Đấng cứu độ loài người: ‘Vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần’. Thiên Chúa thật trung thành gấp nghìn lần hơn những gì con người có thể nghĩ.