Suy Niệm Tuần XVIII TN - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thứ năm - 31/07/2025 04:37  464
Chúa Nhật 18 TN/C

BẠN SẼ CÒN LẠI GÌ?
Năm 2014, tại trung tâm của Piedmontese Langhe, một nhà sản xuất rượu vang đã tận tâm chăm sóc vườn nho của mình trong suốt 50 năm, sản xuất ra loại rượu vang Barolo quý giá, đã qua đời. Sau khi qua đời, ông để lại vườn nho cho hai người con trai, với hy vọng họ có thể cùng nhau tiếp tục công việc. Nhưng hai người, những người đã từng chơi đùa giữa các hàng nho khi còn nhỏ, không thể thống nhất cách quản lý nó: một người muốn tiếp tục sản xuất của gia đình, người kia muốn bán tất cả và đầu tư vào nơi khác. Sự im lặng bắt đầu, rồi những lá thư của luật sư, và cuối cùng là những lời buộc tội. Trong vụ thu hoạch năm 2016, một trong hai người xuất hiện cùng một chuyên gia và ra lệnh dừng thu hoạch: "Các anh cũng không được hái nho của tôi nữa", ông ta nói. Những người làm công bỏ đi, và những chùm nho bị bỏ mặc cho thối rữa. Kể từ đó, mặc dù sống cùng một khu vực, hai anh em không nói chuyện với nhau. Họ phớt lờ nhau như hai người xa lạ.

Một số người có thể nghĩ: đó là dấu hiệu của thời đại, của thế giới cá nhân chủ nghĩa và tham lam của chúng ta. Cuộc đấu tranh giành quyền thừa kế là một vở kịch cổ xưa, một vở kịch trải dài qua mọi thời đại và mọi nền văn hóa. Ngay cả trong Phúc Âm Chúa Nhật này, chúng ta cũng thấy một trường hợp tương tự. Một người đến gần Chúa Giêsu và nói: "Thưa Thầy, xin bảo anh tôi chia gia tài cho tôi." Có lẽ anh ta đã chịu bất công, có lẽ anh ta muốn được công bằng. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không can thiệp vào cuộc tranh luận; Ngài không đứng về phe nào, nhưng thay đổi trọng tâm. Bởi vì vấn đề thực sự không phải là ai đúng, mà là chúng ta có nguy cơ mất mát điều gì khi thước đo duy nhất chúng ta dùng là tiền bạc. Và vì vậy, Ngài trả lời: "Hãy coi chừng, và coi chừng mọi sự tham lam, vì ngay cả khi người ta có dư dật, thì mạng sống của người ta cũng không hệ tại số lượng của cải."
Chúa Giêsu không phủ nhận giá trị của công lý. Nhưng Ngài lên án ảo tưởng rằng hạnh phúc phụ thuộc vào những gì chúng ta có... chứ không phải vào con người chúng ta. Và Ngài kể một dụ ngôn: một người kia được mùa bội thu và lập kế hoạch lớn để bảo toàn của cải của mình. Ông lý luận như thế này: "Ta sẽ phá kho lẫm của ta và xây những cái lớn hơn... Rồi ta sẽ tự nhủ: 'Linh hồn ơi, ngươi có nhiều của cải... hãy nghỉ ngơi, ăn uống, và vui chơi!' Đó là một lời độc thoại, không có "bạn", không có mối quan hệ, không có lời tạ ơn Thiên Chúa. Chúa Giêsu không trách ông vì khao khát hạnh phúc, mà chỉ trách ông vì muốn hạnh phúc một mình. Ông đã không nghĩ đến người khác, cũng không nhận ra rằng mọi thứ ông sở hữu đều là một món quà. Và ông sẽ phạm sai lầm trong phán đoán của mình: "Đồ ngốc, đêm nay ngươi sẽ chết!" Không phải vì Chúa đang trừng phạt ông, mà vì lòng ông đầy lo lắng, tính toán, phiền muộn, và ông sẽ chết vì đau tim hoặc vì cô đơn. Ông nghĩ mình có quyền đối với mọi thứ, nhưng thực ra ông thậm chí còn không có quyền đối với ngày mai. "Vậy những gì ngươi đã tích trữ, sẽ thuộc về ai?"

Có lẽ câu tục ngữ này đúng: "Yêu anh em, yêu gươm đao". Bao nhiêu gia đình đã tan vỡ vì thừa kế? Bao nhiêu bậc cha mẹ đã khuất, giống như người làm rượu ở Langhe, trở mình trong mộ khi chứng kiến sự căm ghét mà họ để lại cho con cái. Vậy thì câu hỏi không phải là: chúng ta sẽ để lại gì?, mà là chúng ta sẽ dạy điều gì? Liệu chúng ta sẽ chỉ để lại tài sản để chia sẻ, hay một mối dây liên kết để trân trọng?
Nếu trong việc nuôi dạy con cái, chúng ta chỉ dạy chúng tính cạnh tranh, tích lũy, thành công bằng mọi giá... nếu chúng ta luôn thúc ép chúng phải xuất sắc, phải chiến thắng, phải trở thành người giỏi nhất... nếu chúng ta khuyến khích chúng vào những ngôi trường độc quyền—và thường là loại trừ—nơi điều quan trọng là phải nổi bật hơn những người khác, thì đừng ngạc nhiên nếu, sau khi cha mẹ qua đời, chúng tàn sát lẫn nhau vì thừa kế.
Còn lại gì của bạn? Chỉ còn lại tình yêu mà bạn đã trao tặng. Mọi thứ khác—như sách Giảng viên nhắc nhở chúng ta trong bài đọc thứ nhất—chỉ là phù phiếm, chỉ là gió thoảng. Vậy mà nhiều người sống như thể họ sẽ không bao giờ chết. Họ tích lũy, lên kế hoạch và bảo vệ cuộc sống như thể nó là vĩnh cửu. Nhưng bạn chỉ đang đi qua.
Điều này cũng được nhắc lại trong câu chuyện do Paolo De Martino kể: Một ngày nọ, một vị khách bước vào phòng của một tu sĩ sa mạc và hỏi ông: "Sao ông có ít đồ thế? Một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, một cái đèn?" Vị tu sĩ trả lời: "Còn anh, sao anh chỉ mang theo một cái túi?" " Vì tôi đang đi du lịch ," vị khách trả lời. Và vị tu sĩ: "Tôi cũng vậy . "
+++
Giảng viên 1:2; 2:21-23; Thánh Vịnh 89; Cô-lô-sê 3:1-5, 9-11; Lu-ca 12:13-21
Phụng vụ Chúa Nhật tuần trước nhắc nhở chúng ta rằng chỉ qua cầu nguyện, con người mới có thể bước vào mối tương quan với Chúa. Chúa Nhật tuần này, phụng vụ muốn dạy chúng ta rằng mặc dù thiên nhiên được tạo dựng cho con người, nhưng con người, khi dùng sức riêng để chế ngự trái đất, không được để mình bị chi phối bởi lòng ích kỷ và tham lam, nhưng phải luôn tìm kiếm những gì quan trọng trước mặt Chúa.
Bài đọc thứ nhất trích từ sách Giảng viên bắt đầu bằng câu: "Hư không trên hư không, tất cả chỉ là hư không"; thực tế, của cải trần gian không mang lại sự an toàn; chúng tan biến trong chớp mắt. Ngay cả những người đã làm việc chăm chỉ và tận tâm suốt cuộc đời, cuối cùng cũng phải để lại tài sản của mình cho những người không hề làm gì để sở hữu chúng. Dưới ánh sáng đức tin, trông cậy vào chúng là vô ích, bởi con người được lợi ích gì từ tất cả những lo toan, tất cả những vất vả, tất cả những dày vò tâm hồn để giải quyết và đạt được những điều trần tục?
Sách Giảng viên là một cuốn sách phản kháng; nó bắt đầu và kết thúc bằng từ "hư không". Tác giả muốn nhấn mạnh việc con người phải phấn đấu cho "những điều trên trời" suốt cuộc đời, trong khi thường bị cuốn hút vào những điều trần tục đến nỗi quên mất rằng mình được tạo dựng để hoàn thành một kế hoạch dẫn họ đến sự sống đời đời trong Thiên Chúa.
Từ "hebel" trong tiếng Do Thái có nghĩa là "hơi thở", và quả thực những điều trần tục chỉ tồn tại trong một hơi thở!

Với điệp khúc của Thánh vịnh 89, "Lạy Chúa, Ngài là nơi nương náu của chúng con từ đời này sang đời khác", tác giả Thánh vịnh tuyên bố rằng tất cả mọi người đều có thể tạ ơn Chúa vì ngay cả ngày nay lòng thương xót của Ngài vẫn chiếu sáng trên chúng ta.
Một lời cầu nguyện sâu sắc cho chúng ta nữa: hãy cầu xin Chúa cho chúng ta được no nê vào buổi sáng với tình yêu của Ngài. Chúng ta sẽ vui mừng và hân hoan suốt đời. Nguyện xin sự ngọt ngào của Ngài ở trên chúng ta và công việc tay chúng ta được vững bền.

Trong thư gửi tín hữu Cô-lô-sê, tông đồ Phao-lô nhắc lại chân lý rằng chúng ta đã được sống lại với Chúa Kitô, mặc dù sự sống viên mãn sẽ được biểu lộ trong vinh quang.
Phaolô mời gọi chúng ta nghĩ đến những điều trên trời, gạt bỏ những điều trần tục, loại bỏ mọi điều tiêu cực đôi khi chiếm hữu tâm hồn con người, những đam mê ngăn cản chúng ta mặc lấy con người mới vì chúng ta vẫn còn bị đè nặng bởi con người cũ. Ngài cũng mời gọi chúng ta đừng nói dối nhau, vì con người mới mà chúng ta đã mặc lấy đang sống trong Chúa Kitô; Người đã đến vì tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc.
Xã hội ngày nay, dưới nhiều hình thức biểu hiện, đang phát triển nhờ những ảo tưởng, nhưng người Kitô hữu phải thành thật làm chứng về những gì thiết yếu cho một cuộc sống đích thực.

Lời Chúa trong phụng vụ Chúa Nhật này dường như mang tính "phản biện". Cả ba bài đọc đều đơn giản thách thức hành vi của con người, ngay cả những hành vi có vẻ tích cực.
Trong đoạn Phúc Âm Luca, Chúa Giêsu thách thức vai trò trọng tài mà một người trong đám đông giao phó cho Người trong cuộc tranh chấp giữa hai anh em về quyền thừa kế. Chúa Kitô đến thế gian để giúp chúng ta hiểu được tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Người ban cho chúng ta điều răn yêu thương, dẫn chúng ta đến sự chia sẻ huynh đệ, chứ không phải để quyết định ai đúng ai sai giữa hai anh em đang tranh cãi về một chút tiền bạc.
Chúa Giêsu nói với họ: "Hãy coi chừng và đề phòng mọi thứ tham lam, vì mạng sống con người không hệ tại của cải dư dật."
Chúa Giêsu cũng thách thức kế hoạch của người giàu có, người chỉ nghĩ đến việc xây dựng những nhà kho lớn hơn để chứa tất cả của cải của mình, điều này sẽ mang lại cho ông ta sự bình yên của một cuộc sống tương lai thoải mái và sung túc. Tuy nhiên, người giàu có đã không tính đến đêm tối, tức là cái chết, và bị gán cho là kẻ ngu ngốc; thực tế, chính đêm nay, mạng sống của ông sẽ bị đòi lại.
Những bảng cân đối mà người giàu có thể trình bày không phải là những bảng cân đối có giá trị trước mặt Chúa; bảng cân đối của ông chỉ là bảng cân đối trần tục, nhưng ông thiếu những điều đáng lẽ ông phải thực hành trong cuộc sống: tình anh em và sự chia sẻ được trao ban một cách tự nguyện, niềm vui được trao ban cho người khác, tình bạn vị tha, sự cho đi nhưng không, và lòng trung thành trong tình yêu đích thực.
Chúa Giêsu thậm chí không lên án sự giàu có tự thân, nhưng Ngài lên án những người coi của cải là Chúa duy nhất của mình. Ngay cả những thứ trần tục cũng tốt, và Ngài chỉ yêu cầu chúng ta vượt qua chúng khi tận hưởng chúng, và chia sẻ chúng với những anh chị em đang gặp khó khăn.
Trong thế giới ngày nay, con người bị đánh giá bởi những gì họ sở hữu, mà không bao giờ để ý đến cảm xúc trong lòng. Vẻ bề ngoài không phải lúc nào cũng chính xác; rất thường, những người giản dị và khiêm nhường nhất lại là những người có giá trị tâm linh cao cả nhất, đôi mắt của họ trong sáng và tinh khiết vì họ trong sạch.
Để suy ngẫm
Chúng ta đã bao giờ nghĩ rằng ngay cả những điều tốt đẹp cũng có thể trở thành "hư không" đối với chúng ta chưa?
- Những lý do nào khiến con người cũ lấn át con người mới mà Chúa Kitô đã đặt để chúng ta vào trong đó với sự Phục sinh của Ngài? Chúng ta có biết những lý do đó không?
- Chúng ta có dành một chút thời gian trong hai mươi bốn giờ mỗi ngày cho Chúa, hay những lo toan trần gian khiến chúng ta quên đi "những điều trên trời"?

Chúa Nhật XVIII TN / B
Tin Mừng theo Thánh Gioan cung cấp cho chúng ta nhiều bài giảng khác nhau mà Chúa Giêsu đã nói trong hội đường Caphanaum để giải thích cho các tín hữu ý nghĩa của Manna nhận được trong sa mạc.
Những lời giải thích này là để giúp các tín hữu đang sống trong Hội Thánh biết sống ngay chính. Bài Tin Mừng hôm nay liên quan đến bài diễn văn nói về tầm quan trọng của đức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Chúa Giêsu Kitô là sứ giả của Thiên Chúa, Người mang đến sự mặc khải tối hậu và mở ra con đường dẫn đến Thiên Chúa. Người theo Chúa Giêsu với đức tin, người bước vào cộng đoàn với Chúa Giêsu qua phép rửa, người chọn Chúa Giêsu làm mẫu gương và lắng nghe Người, sẽ tìm thấy qua Người chân lý làm dịu cơn đói khát sự sống. Bởi vì chân lý này là chính Thiên Chúa, Đấng, qua Chúa Giêsu Kitô, ban cho tất cả mọi người khả năng chia sẻ cuộc sống của Người.
Điều mà các nhà tư tưởng, ngôn sứ và hoài niệm về Thiên Chúa của mọi quốc gia và mọi thời đại đã tìm kiếm, thấy trước và nhận ra một phần, đạt được qua Chúa Giêsu sự rõ ràng và chân lý của Thiên Chúa. Sự thật này hiện diện và có thể được nắm bắt trong lời và gương của Chúa Giêsu, nhưng trên hết là trong con người của Người. Vì Ngài là sự thật, Ngài là đường đi, Ngài là sự sống của chính Thiên Chúa! Và Ngài được đề nghị cho chúng ta sống với sự tôn trọng sốt sắng một cách hoàn toàn trực tiếp, hôm nay, trong ngày lễ phụng vụ của Giáo Hội của Ngài.
Lạy Chúa, xin gia tăng đức tin của chúng con và giúp chúng con yêu mến Chúa!
Bài đọc Chúa nhật tuần này, trích từ sách Xuất hành, gắn liền với Tin Mừng. Đề cập đến Manna và chim cút, nhưng cũng đề cập đến hình ảnh của Môsê. Tác giả thánh viết rằng cuộc giải phóng khỏi Ai Cập thật tuyệt vời, nhưng cuộc hành trình trong sa mạc trở nên khó khăn và người Do Thái phàn nàn với Môsê và Aaron, họ xin bánh và thịt. Thiên Chúa đáp lại bằng cách gửi Manna và chim cút đến cho dân chúng.
Manna, lương thực từ trời xuống, là dấu hiệu lạ lùng về tình yêu của Thiên Chúa và sau này được coi là lương thực thiêng liêng.
Theo một số học giả Kinh thánh, chim cút và ma-na có thể là hiện tượng tự nhiên, vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Chim cút di cư theo đàn giữa Châu Phi, Ả Rập và các nước Địa Trung Hải và cũng dừng chân ở bán đảo Sinai. Còn đối với Manna, đó có thể là chất tiết màu trắng của một loại cây bụi mọc ở sa mạc Sinai: Tamarix. Do đó, các học giả Kinh thánh nói rằng Đức Chúa sẽ nuôi dưỡng dân Ngài bằng cách khiến họ tìm thấy những thực phẩm này trên đường đi; chúng trở thành dấu hiệu của sự bảo vệ và tình yêu của Người. Chim cút và manna xuất hiện đối với các tín hữu như những món quà từ thiên đường.
Trong Tin Mừng chúng ta thấy đám đông đi tìm Chúa Giêsu. Họ tìm Ngài vì họ đã được ăn no. Họ chỉ đơn giản là tò mò và nhất là quan tâm đến bánh vật chất, đến những phép lạ giật gân. Họ không đi sâu hơn vào những ý nghĩa có thể có của phép lạ mà họ đã chứng kiến ​​và tham dự. Họ thậm chí còn sẵn sàng thừa nhận rằng Chúa Giêsu, như chúng ta đã nghe Chúa nhật tuần trước, là Đấng Messia được chờ đợi và phong Ngài làm vua, để Ngài có thể xóa bỏ ách thống trị của ngoại bang và giải quyết các vấn đề an sinh của họ. Nhưng họ sẽ không sẵn sàng tiến xa hơn nữa!
Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và đám đông bắt đầu bằng một câu hỏi: « Thưa Thầy, Thầy đến đây khi nào? ». Chúa Giêsu trả lời: “ Các ngươi tìm Ta không phải vì các ngươi đã thấy các dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã ăn bánh no nê. Đừng làm việc để có của ăn không lâu bền, nhưng để có của ăn thường hằng dẫn đến sự sống đời đời mà Con Người sẽ ban cho các ngươi .” Điều này có nghĩa là Chúa Giêsu mời gọi họ “bận tâm” không phải để có được thứ bánh vật chất hay hư nát lần nữa, nhưng hãy mở lòng mình ra cho Ngài, Đấng có thể ban bánh “đưa đến sự sống đời đời”.
Đám đông một lần nữa dường như không hiểu và hỏi: " Chúng tôi phải làm gì để thực hiện công việc của Thiên Chúa?" ». Chúa Giêsu trả lời: “ Đây là công việc của Thiên Chúa: đó là các ngươi tin vào Đấng Người đã sai đến ”, nghĩa là: “các ngươi phải tin rằng Thầy là bánh từ trời xuống, được Chúa Cha sai đến, là Đấng ban sự sống cho thế gian. Bánh hằng sống."
Nhưng phép lạ vĩ đại do Chúa Giêsu thực hiện vẫn chưa đủ đối với đám đông, họ đòi những dấu lạ mới tin, những dấu lạ thuyết phục hơn: “ Thầy làm dấu lạ nào để chúng tôi thấy và tin Thầy?” Thầy làm việc gì nào? Tổ phụ chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc, như có lời viết: Người đã cho họ ăn bánh từ trời ”. Thánh Gioan viết, Chúa Giêsu nói: “ Quả thật, quả thật, tôi nói với các ông: không phải ông Môsê đã cho các ông bánh từ trời, nhưng chính Cha tôi là Đấng ban cho các ông bánh đích thực từ trời. Thật vậy, bánh của Thiên Chúa là Đấng từ trời xuống và ban sự sống cho thế gian ”. Những lời này của Chúa Giêsu có ý nói rằng “Ngài là ma-na mà họ đang chờ đợi”. Trên thực tế, trong số những người Do Thái có niềm tin rằng Đấng Mê-sia sẽ đến vào dịp Lễ Vượt Qua và sau đó manna sẽ bắt đầu từ trời rơi xuống. Vì thế, Chúa Giêsu nói rõ rằng không phải ông Môsê là người đã cho những người bị lưu đày bánh từ trời, vì chính ông Môsê đã ăn bánh đó như những người khác. Chính Chúa đã ban manna. Môsê chỉ nhận ra nguồn gốc của món quà và mời dân chúng tạ ơn.
Từ đoạn Tin Mừng này, chúng ta rút ra kết luận sau: chúng ta tìm kiếm quyền năng của Thiên Chúa chứ không phải sự sống của Thiên Chúa. Không phải mọi cuộc tìm kiếm Thiên Chúa đều dẫn đến Thiên Chúa. Đôi khi đằng sau danh Thiên Chúa, là sự kiêu ngạo, sự ích kỷ, sự hèn hạ của chúng ta. Chúng ta thường gọi là đức tin nhưng không phải là đức tin. Chúng ta thường gọi là tôn giáo điều hoàn toàn trái ngược với tôn giáo. Chúng ta tìm kiếm những lợi ích của đức tin, nhưng chúng ta không muốn tin và không muốn thay đổi cuộc sống của mình.
Hơn nữa, đoạn tin mừng này muốn chúng ta hiểu rằng bánh vật chất không đủ để nuôi sống con người: cần có một loại lương thực khác. Nói một cách đơn giản, con người không thể chỉ nuôi sống mình bằng phúc lợi. Cho nên những người chỉ sống vì phúc lợi sớm muộn sẽ chìm đắm trong hư vô; khi một gia đình chỉ quan tâm đến việc nhân rộng phúc lợi cho con cái mình, là điều đúng đắn theo não trạng của thế gian; nhưng theo đức tin, gia đình đó đang thực hiện một hoạt động bất hạnh vì chủ nghĩa duy vật bị Chúa Kitô lên án: « Anh em đừng tích lũy của cải dưới đất, nơi mối mọt ăn mòn, nơi kẻ trộm khoét vách lấy trộm; trái lại, hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, là nơi không có mối mọt, rỉ sét làm hư nát và kẻ trộm không khoét vách lấy trộm. Vì kho tàng của anh ở đâu thì tâm hồn anh ở đó” (x. Mt 6:19-21).
Nuôi sống mình là điều quan trọng. Và Chúa Giêsu đã chứng minh rõ ràng điều này bằng cách thực hiện phép lạ. Nhưng Ngài không chỉ làm một cử chỉ nhân đạo mà còn muốn làm cho những ai đã cầu xin: “Lạy Chúa, xin luôn ban cho chúng con bánh này” hiểu rằng Ngài là bánh sự sống đích thực: “Tôi là bánh sự sống; ai đến với tôi sẽ không bao giờ đói và ai tin vào tôi sẽ không bao giờ khát! ».Điều này có nghĩa là Ngài đến từ Thiên Chúa và ai đón nhận Ngài “có thể được sống và được sống dồi dào” (x. Ga 10,10).
Chúa Giêsu mạc khải chính Ngài là Đấng có thể làm thỏa mãn cơn đói và cơn khát của mọi người. Chúa ban cho chúng ta bánh ăn, tức là những gì chúng ta cần để sống, và còn nhiều hơn thế nữa, nhưng chúng ta xin Ngài nhiều hơn, và chúng ta cư xử như những đứa trẻ thất thường không được lắng nghe những yêu cầu của chúng, ngay cả những yêu cầu tầm thường và vô dụng nhất. Chúng ta quan tâm đến một tài khoản ngân hàng, một ngôi nhà đẹp, một bữa ăn đảm bảo và sức khỏe... nhưng thường thì chúng ta không quan tâm đến Chúa! Nhưng đã bao nhiêu lần Chúa làm dịu đi những cơn giông bão của cuộc đời chúng ta, chữa lành chúng ta, an ủi chúng ta, ban cho chúng ta những hồng ân! Tuy nhiên, chúng ta vẫn tiếp tục gạt Chúa sang một bên hoặc trở thành những người kém đức tin.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa gia tăng đức tin của chúng ta, gia tăng sự phó thác của chúng ta nơi Ngài, gia tăng lòng biết ơn của chúng ta đối với những gì Ngài làm cho chúng ta, và giúp chúng ta yêu mến Ngài “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết tất cả sức lực của ta”                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            (x. Mc 12:30). Amen

Thứ Hai tuần XVIII Tn
Thánh Gioan Maria Vianey
Gioan sinh tại Lyon nước Pháp năm 1786, chết tại Ars ngày 4.8.1859. Làm cha sở họ Ars khoảng 40 năm, thu hút số đông người thuộc mọi tầng lớp xã hội bằng những bài giáo lý của Ngài và bằng bí tích giao hòa. Một con người sống nhặt nhiệm, một cuộc sống nội tâm sâu xa, xoay quanh Thánh Thể và một lòng bác ái quảng đại. Là mẫu mực cho những ai có bổn phận chăm sóc các linh hồn trong các xứ đạo. Ngài qua đời năm 1859. Đức Giáo hoàng Piô XI đã tuyên thánh cho ngài vào năm 1925. Sau đó, ngài được đặt làm thánh bổn mạng của hàng giáo sĩ.
+++
Khi từ trên núi xuống Đức Giêsu căn dặn các môn đệ đừng nói gì với ai về những điều đã xảy ra. Sẽ đến lúc tỏ hiện mầu nhiệm của Đức Giêsu nhưng, bây giờ, điều quan trọng là tiếp tục đi theo và lắng nghe Ngài. Dĩ nhiên, Đức Giêsu không quay trở lui, cho dù Ngài biết rõ người do thái cũng sẽ đối xử với Ngài chẳng khác nào với Gioan Tẩy Giả. Nên Ngài đã nói điều ấy cho các môn đệ. Ngài đến với đám đông và một người cha đến trình cho Ngài đứa con đau bệnh của mình. Quả thật ông không muốn làm phiền Đức Giêsu nên đã dẫn nó đến với các môn đệ. Nhưng các ông không thành công. Đức Giêsu phán một lời, tức thì đứa bé được chữa lành. Các môn đệ có lẽ bẽ mặt vì sự thất bại, nên khi ở riêng một mình với Đức Giêsu họ đã hỏi Ngài lý do. Đức Giêsu trả lời rõ ràng cho biết lý do vì họ yếu đức tin. Chỉ cần một lòng tin nhỏ bằng hạt cải cũng đủ để thực hiện phép lạ. Câu cuối mở ra cho các môn đệ một tương lai tràn đầy hy vọng: ‘Và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được’.
+++
Đón nhận hiện tại với lòng tạ ơn
Phụng vụ hôm nay lại trình bày cho ta lần nữa đoạn tin mừng Mathêô về phép lạ hóa bánh, đặt kề bên đoạn nói về tình cảnh của dân Israel trong hoang địa và thái độ của Môsê.
Trong hoang địa, dân Israel than trách. Cuộc sống bị đàn áp bên Ai cập trở nên như kỷ niệm ‘cuộc sống thiên đàng’: ‘Nhớ thưở nào ta ăn cá bên Aicập mà không phải trả tiền, rồi nào dưa gang, dưa bở, nào hẹ, nào hành, nào tỏi…Bây giờ còn nữa đâu! Bây giờ họ buộc phải nhờ vào phần manna lượm mỗi ngày, không thỏa lòng dân chúng. Môsê do đó buộc phải nghe tiếng than trách của họ và, bởi tình cảnh ấy làm nên gánh nặng quá sức cho ông, ông cũng than trách Chúa: ‘Sao Ngài làm khổ tôi tớ Ngài?’. Nản lòng ông muốn chết cho rồi: ‘Nếu Ngài xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn!’
Trong bài tin mừng, dân chúng theo Chúa Giêsu, không có giờ để than trách, vì trước hết Nhóm Mười Hai rồi đến Chúa Giêsu quan tâm đến tình cảnh của họ. Hành động của các tông đồ phần nào giống với Môsê: trước tiên họ trốn tránh trách nhiệm bằng cách gợi ý cho Chúa Giêsu giải tán dân chúng, để họ tự lo lấy, tự mua bánh ăn.
Nhưng Đức Giêsu từ chối giải pháp ấy: Ngài nhận mình có trách nhiệm đối với tình cảnh của dân và dạy các môn đệ Ngài cũng làm như thế: ‘Anh em hãy cho họ ăn’! Thực tế hoàn toàn thiếu thốn: họ chỉ có trong tay vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá và ý muốn chia xẻ cho họ. Và Đức Giêsu đã làm gì? Ngài không bắt chước Môsê, không than trách; ngược lại, ngước mắt lên trời và đọc lời chúc tụng, tạ ơn Chúa Cha. Đọc lời chúc tụng trong ngôn ngữ kinh thánh có ý muốn nói chúc tụng Thiên Chúa vì những ân ban của Ngài, như chúng ta vẫn làm mỗi khi dâng lễ: ‘Lạy Chúa tể càn khôn, chúc tụng Chúa, do lòng rộng rãi của Chúa mà Chúa đã ban cho chúng con bánh này…rượu này’; đó là lời nguyện tạ ơn.
Đức Giêsu tạ ơn trong lúc mà chẳng có dư dật chút nào cả: nhưng thái độ yêu thương của Ngài đã khai thông tình cảnh, vì ngài để cho lòng quảng đại của Chúa Cha trên trời được biểu lộ. Đức Giêsu bẻ bánh, trao cho các môn đệ và các ông phân phát cho dân, tất cả đều ăn no nê. Và còn dư thừa: 12 thúng đầy những bánh còn thừa!
Khi chúng ta ở trong cơn khó khăn, điều đầu tiên cần làm là mở mắt ra nhìn những gì mà chúng ta đang sẵn có. Đức Giêsu bảo các môn đệ đem năm chiếc bánh và hai con cá lại cho Ngài; Ngài đã tạ ơn Thiên Chúa vì những ân ban hiện có này. Chúng ta cũng thế, cần phải khởi đầu với những điều mà chúng ta hiện có, sử dụng chúng với tình yêu cảm tạ. Lời than trách thường đóng lại mọi khả năng, biến những hoàn cảnh thành những vòng tròn không lối thoát; lời tạ ơn tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa, mở rộng mọi tình cảnh cho lòng quảng đại của Thiên Chúa, để Ngài khai thông. Thiên Chúa luôn đến cứu giúp con người. Ngài giúp họ bằng những phương cách không ngờ, và thực hiện những điều diệu kỳ. Điều quan trọng là diễn tả tình yêu cảm tạ của ta dành cho Ngài: đó phải là cung cách của mọi kitô hữu. Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gởi Thessalonica, đã khuyên nhủ: ‘Trong mọi hoàn cảnh, hãy tạ ơn Thiên Chúa’, do đó cả trong những lúc khó khăn và túng thiếu. Những hoàn cảnh khó khăn ẩn chứa một ân ban cho ta, nếu ta biết đón nhận với lòng tạ ơn. Các thánh, chứng nhân tỏ tường về chân lý này, dạy chúng ta hành động như thế, bởi họ biết rằng Thiên Chúa giấu bên trong những thử thách một ân ban quý giá. Đón nhận lấy với lòng biết ơn sẽ làm ta vui mừng, phấn khởi và giúp ta vượt qua tất cả nhờ trợ lực của Chúa.
Thứ Ba tuần XVIII Tn
Sách Thánh trình bày Môsê như một người khiêm tốn nhất trên mặt đất: ông nhìn nhận mình  hoàn tòan lệ thuộc Đức Chúa trong sứ vụ cứu thoát dân Người, sứ vụ mà ông đã được kêu gọi. Sự khiêm tốn ấy đã bị Đức Giêsu vượt qua. Môsê chỉ là một mô hình xa của Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, không chỉ cho dân của Người mà cho toàn thể nhân loại, quá khứ, hiện tại và tương lai. Thế nên, sau khi làm phép lạ hóa bánh (phép lạ Manna ngày xưa) Đức Giêsu truyền cho các tông đồ phân phát cho dân chúng, Ngài muốn nơi ấy trở về trong thinh lặng để tránh những lời tung hô của đám đông muốn tôn Ngài làm vua.
Cho dù là đấng tạo dựng thế giới, vũ trụ, Ngài vẫn giấu kín quyền năng vô biên dưới hình hài một người thợ từ một làng quê không ai biết đến. Ngay cả khi bày tỏ quyền năng trên thiên nhiên (hóa bánh nên nhiều để nuôi mười ngàn người, đi trên mặt nước), Đức Giêsu xem tất cả những việc lạ lùng đó đều là bình thường. Mục đích duy nhất của Ngài là nhằm thuyết phục các môn đệ rằng, khi tin vào Ngài và tuân giữ giới răn của Ngài, họ có thể khuất phục toàn thế giới dưới quyền của Chúa Cha để Nước Thiên Chúa hiển trị.
+++
Phản kháng không phải là một phát minh hiện đại, mặc dù nó đã trở nên phổ biến hơn trong thời đại chúng ta. Bài đọc thứ nhất hôm nay cho chúng ta thấy một cuộc phản kháng chống lại Môsê, không phải từ bất kỳ ai, mà từ chính chị gái và anh trai của ông: Miriam và Aaron, vì một lý do mà chúng ta không hiểu rõ. Sự thật là họ đang thách thức đặc quyền của Môsê được nói nhân danh Chúa, được truyền đạt những chỉ thị của Chúa, những điều răn của Chúa. Phản ứng của Thiên Chúa thật dữ dội. Sau khi tuyên bố rằng Môsê có thẩm quyền hơn bất kỳ ai: "Nó là người trung tín trong toàn thể nhà Ta. Ta nói chuyện với nó bằng miệng, bằng thị kiến chứ không phải bằng câu đố, và nó nhìn thấy hình ảnh của Chúa", Chúa phán: "Sao các ngươi không sợ nói xấu tôi tớ Ta là Môsê?" Và cơn thịnh nộ của Người nổi lên chống lại họ, đến mức Maria bị phong hủi và Môsê phải cầu bầu cho bà với Chúa để được chữa lành, điều này chứng tỏ rõ ràng rằng chỉ có Môsê mới có thẩm quyền.
Do đó, phản kháng là một vấn đề nghiêm trọng, bởi vì nó không tôn trọng trật tự do Thiên Chúa thiết lập, làm mất ổn định xã hội và cộng đồng, gây ra hỗn loạn và phá hủy sự hòa hợp. Tuy nhiên, không phải mọi lời phê bình đều được gọi là "phản biện". Đôi khi phê bình cũng hữu ích, nhưng phải được thực hiện một cách xây dựng và không thách thức thẩm quyền. Ngay cả Lethrus, cha vợ của Môsê, cũng chỉ trích ông vì cách ông một mình thực thi công lý cho toàn dân và đề nghị ông chia sẻ thẩm quyền của mình với những người có thể giúp đỡ ông. Môsê chấp nhận lời phê bình và hội đồng, bởi vì ông công nhận họ là công chính.
Tuy nhiên, sự phản đối triệt để của những người không công nhận thẩm quyền là không thể chấp nhận.
Thái độ nền tảng của một kitô hữu phải là sự phục tùng thẩm quyền một cách chân thành, bởi vì, như Thánh Phaolô đã nói trong thư gửi tín hữu Rôma, thẩm quyền đến từ Thiên Chúa, và chỉ bằng cách chấp nhận nó với lòng khiêm nhường, chúng ta mới có thể đóng góp cho lợi ích chung. Trong trường hợp của Môsê, Kinh Thánh nói về ông rằng ông là một người rất nhu mì, nhu mì hơn bất kỳ ai khác trên trái đất, do đó cho thấy không có lý do thực sự nào để chống đối. Cũng có những thẩm quyền áp bức và độc đoán, chỉ tìm kiếm lợi ích riêng chứ không phải lợi ích chung, vì vậy sự chống đối trở nên cần thiết và đúng đắn. Nhưng chúng ta phải cảnh giác trước những phán đoán vội vàng và phân định một cách trung thực dưới ánh sáng của Chúa, không bị dẫn dắt bởi những cảm xúc ích kỷ, ghen tị hay trả thù đen tối đang sống trong "tâm hồn xấu xa" của chúng ta. Chúng ta hãy đón nhận lời dạy đến với chúng ta từ đoạn Kinh Thánh này và cầu xin Chúa giúp chúng ta trở nên hiền lành và khiêm nhường, mạnh mẽ và sáng suốt, như Ngài đã từng. Trong cuộc sống trần thế, Ngài là mẫu mực và sức mạnh của chúng ta.
Thứ Tư tuần XVIII Tn
Lễ Chúa hiển dung
Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Đức Giêsu thường nói với chúng ta về việc cầu nguyện; nhưng chúng ta có rất ít những lời nguyện của Ngài; việc cầu nguyện hôm nay có những hiệu quả diệu kỳ: cuộc biến hình.
Trong cuộc hội ngộ với Thiên Chúa, con người được biến hình. Như Môsê sau khi đàm đạo với Thiên Chúa, mặt ông trở nên sáng chói, cũng thế Đức Giêsu trong cuộc hội ngộ với Chúa Cha, ‘Dung mạo Ngài biến đổi khác, y phục Ngài trở nên trắng tinh chói lòa’. Chúng ta thử tìm hiểu xem có ý nghĩa gì cho chúng ta.
1. Sự kiện
Đức Giêsu cầu nguyện, đàm đạo với Môsê và Êlia về việc Ngài xuất hành sắp hoàn thành tại Giêrusalem. Cuộc xuất hành đó chính là việc chết-sống lại của Ngài, cuộc vượt qua khó nhọc từ việc vâng phục chết trên thập giá đến việc vinh thắng trên trời. Trong cuộc đối thoại với các đại diện Kinh Thánh (Môsê và Êlia tượng trưng Luật và các tiên tri), Đức Giêsu khám phá số phận cuối cùng của Ngài: vượt trên cái chết và việc vinh hiển bên phải Chúa Cha. Xác quyết lần nữa con đường đúng đắn trong việc phó thác hoàn toàn trong kế hoạch của Cha khi có sự can thiệp của tiếng từ trời: ‘Và từ đám mây có tiếng phán: Đây là con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy nghe lời Ngài!’
Trời cao đã xé ra trên đầu Đức Giêsu và điều của tương lai phục sinh khải hoàn đã biểu lộ ra cho chính mình và cho các tông đồ, đang ngây ngất: ‘Chúng ta ở đây thật là hay, chúng con xin làm ba lều’. Phêrô, Giacôbê và Gioan cũng chính là các vị cùng ở với Đức Giêsu trong vườn Giếtsêmani, hoảng hốt vì đau khổ của cơn hấp hối. Họ cần khám phá trước điều vinh quang ẩn dấu bên trong nhân tính mỏng giòn và bị bách hại của Đức Giêsu để có thể chịu đựng vấp phạm của thập giá.
Phêrô sẽ hiểu hơn ý nghĩa của trải nghiệm trên núi đã làm cho ông say mê, và viết trong thư thứ hai như sau: ‘Thật vậy, khi chúng tôi nói cho anh em biết quyền năng và cuộc quang lâm của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, thì không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Ngài. Quả thế, Ngài đã được Thiên Chúa là Cha ban cho vinh quang và danh dự, khi có tiếng từ Đấng tuyệt vời vinh hiển phán với Ngài: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến. Tiếng đó, chính chúng tôi đã nghe thấy từ trời phán ra, khi chúng tôi ở trên núi thánh với Ngài’ (2Pr 16-18). Chứng nhân của ‘vinh quang mà Chúa Cha ban cho Ngài, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật’ (Ga 1,14).
2. Mầu Nhiệm
Kinh tiền tụng lễ hôm nay nêu rõ tại sao Giáo Hội lại muốn đề nghị cho ta mầu nhiệm này: ‘Người đã tỏ bày vinh quang cho các chứng nhân được tuyển chọn, khi làm cho thân thể Ngài, vốn giống như xác phàm chúng con, được tràn ngập ánh sáng huy hoàng. Như vậy Ngài chuẩn bị tâm hồn các môn đệ khỏi vấp phạm vì khổ hình thập giá, và làm cho ánh sáng diệu kỳ chiếu tỏ nơi Ngài là đầu của Hội Thánh, cũng sẽ rạng ngời trên toàn thân thể nhiệm mầu’. Nói đến số phận của Hội thánh, nghĩa là của chúng ta, của kinh nghiệm chúng ta về việc biến hình, biến hình ngay cả xác thân chúng ta nữa.
Khi con người tìm cách liên hệ với Thiên Chúa và với thế giới, họ thường hay lưỡng lự giữa hai lựa chọn đối nghịch nhau. Một quan niệm bi quan, cho rằng: con người cần phải chết đi, thế giới phải chấm dứt để được nhìn xem Thiên Chúa; còn quan niệm lạc quan cho rằng: thế giới này là Nước Thiên Chúa, không còn phải mong chờ một thế giới nào khác. Ngược lại có một quan niệm thứ ba, cho rằng: đúng thế, xác thịt thì tốt, vì Thiên Chúa dựng nên mà, thế giới mang tính linh thiêng nhưng hiện giờ nó chỉ là một hình ảnh; để thực sự tốt, để đạt đến cùng đích của nó, nó sẽ không bị tiêu hủy, nhưng được biến đổi.
Nơi các tu sĩ đông phương người ta thuờng vẽ những tranh thánh. Khi một đồ đệ chấm dứt trường nhập môn việc vẽ tranh, phải trải qua một trắc nghiệm: vẽ cảnh biến hình để biết diễn tả một con nguời phản chiếu vẻ huy hoàng của Thiên Chúa. Đấy chính xác là hình ảnh tổng hợp của kinh nghiệm kitô: biến hình, biến đổi dần dần nhân tính của ta thành thiên tính. Đó là một thần hóa tiệm tiến, một sự đồng hình đồng dạng càng càng sâu xa hơn với Đức Kitô để cùng với Ngài tham dự vào vinh quang. Thánh Phaolô viết: ‘Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí’ (2 Cor 18 ).
Ngày nay, như ngày xưa với Đức Giêsu- chúng ta cần phải hiểu biết trước việc biến hình và về số phận của mỗi người chúng ta, một trực giác chắc chắn, ban cho ta qua đức tin: bên kia những đau khổ và cái chết đang chờ mong chúng ta nơi quê trời. Ngay ‘cái thân xác phải hư nát này mặc lấy sự bất diệt, khi cái thân phải chết này mặc sự bất tử’ (1 Cor 15,54); bởi vì ‘nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới’ (Rm 8,11).
+++
Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện, và dung nhan Người biến hình!
Hôm nay là lễ Chúa Biến Hình, được cử hành từ thế kỷ thứ tư ở phương Đông và từ thế kỷ thứ mười một ở phương Tây. Trong lễ này, chúng ta chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Giêsu Kitô, rạng ngời ánh sáng sự sống và hiệp thông, được dành cho toàn thể vũ trụ, cho toàn thể nhân loại.
Trong đoạn Phúc Âm, Luca viết rằng "Đức Giêsu đem Phêrô, Gioan và Giacôbê theo mình lên núi cầu nguyện", và "trong khi Người cầu nguyện", mầu nhiệm của sự biến hình đã xảy ra. Vì vậy, đối với ba Tông Đồ, việc lên núi có nghĩa là được lôi cuốn vào lời cầu nguyện của Chúa Giêsu, Đấng thường lui về cầu nguyện, đặc biệt là lúc bình minh và sau khi mặt trời lặn, và đôi khi suốt đêm. Tuy nhiên, chỉ trong một lần duy nhất, trên núi Tabor, Người mới muốn tỏ lộ cho các bạn hữu ánh sáng nội tâm tràn ngập Người khi Người cầu nguyện: dung nhan Người - chúng ta đọc thấy trong Phúc Âm - "biến đổi diện mạo, và y phục Người trở nên trắng tinh chói lọi". Do đó, y phục của Người biểu lộ vẻ huy hoàng của Ngôi Vị Thiên Chúa của Ngôi Lời Nhập Thể.
Còn một chi tiết khác, đặc trưng trong tường thuật của Thánh Luca, đáng được nhấn mạnh: dấu chỉ về đối tượng cuộc trò chuyện của Chúa Giêsu với Môsê và Êlia, những nhân vật của Luật và các Ngôn sứ, đã hiện ra bên cạnh Người trong trạng thái biến hình. Thánh sử kể lại rằng: "Họ đang nói về cuộc ra đi của Người (tiếng Hy Lạp là éxodos ) , sắp diễn ra tại Giêrusalem." Do đó, Chúa Giêsu lắng nghe Luật và các Ngôn sứ, những người nói với Người về cái chết và sự phục sinh của Người. Trong cuộc đối thoại thân mật với Chúa Cha, Người không bước ra ngoài lịch sử, Người không trốn tránh sứ mệnh mà Người đến thế gian, mặc dù Người biết rằng để đạt được vinh quang, Người phải đi qua Thập giá. Thật vậy, Chúa Kitô đi sâu hơn vào sứ mệnh này, gắn bó trọn vẹn với thánh ý Chúa Cha, và cho chúng ta thấy rằng lời cầu nguyện đích thực chính là kết hợp ý muốn của chúng ta với ý muốn của Thiên Chúa.
Thánh sử viết tiếp rằng: "Khi các vị ấy sắp từ biệt Chúa Giêsu, Phêrô thưa với Người rằng: "Lạy Thầy, chúng con ở đây thì tốt lắm. Chúng con xin dựng ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia ." Thánh Augustinô bình luận về đoạn Kinh Thánh này rằng chúng ta chỉ có một nơi ở: Chúa Kitô; Người "là Lời Thiên Chúa, Lời Thiên Chúa trong Luật, Lời Thiên Chúa trong các Ngôn Sứ" (x. Sermo De Verbis Ev. 78,3: PL 38, 491). Thật vậy, chính Chúa Cha đã tuyên bố: "Đây là Con Ta, Đấng được tuyển chọn; hãy vâng nghe lời Người!" Do đó, Biến Hình không phải là một sự thay đổi nơi Chúa Giêsu, mà là sự mặc khải về thiên tính của Người, "sự thâm nhập mật thiết của bản thể Người với Thiên Chúa, trở thành ánh sáng tinh khiết. Trong sự nên một với Chúa Cha, chính Chúa Giêsu là Ánh Sáng bởi Ánh Sáng."
Vì vậy, đối với người Kitô hữu, cầu nguyện không phải là trốn tránh thực tại và trách nhiệm của mình, mà là hoàn toàn chấp nhận chúng, tin tưởng vào tình yêu trung tín và bất diệt của Chúa. Vì lý do này, nghịch lý thay, bằng chứng của sự biến hình lại chính là cơn hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-ni (x. Lc 22:39-46). Khi Cuộc Khổ Nạn đến gần, Chúa Giêsu sẽ trải qua nỗi thống khổ đến chết và phó thác mình cho thánh ý Thiên Chúa; lúc đó, lời cầu nguyện của Người sẽ là lời cam kết cứu độ cho tất cả chúng ta. Thật vậy, Chúa Kitô sẽ cầu xin Cha trên trời "cứu Người khỏi chết" và, như tác giả Thư gửi tín hữu Do Thái đã viết, "Người đã được nhậm lời vì lòng kính sợ Người" (x. Dt 5:7). Sự phục sinh là bằng chứng cho lời đáp trả này.
Do đó, cầu nguyện không phải là một điều phụ thuộc, một điều tùy ý, mà là vấn đề sống chết. Chỉ những ai cầu nguyện, tức là những ai phó thác mình cho Thiên Chúa với tình yêu thương con thảo, mới có thể bước vào sự sống đời đời, chính là Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu xin Đức Maria, Mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể và là Thầy dạy đời sống thiêng liêng, dạy chúng ta biết cầu nguyện như Con của Mẹ đã làm, để cuộc sống chúng ta được biến đổi bởi ánh sáng hiện diện của Người.
+++
Trong đoạn tin mừng hôm nay ta thấy Đức Giêsu buộc các môn đệ rời bỏ Galilêa, vùng đất thời thơ ấu của Ngài và đi đến vùng đất dân ngoại xung quanh Tirô và Siđon. Một phụ nữ ngoại giáo Canaan con cháu của dân tộc mà người do thái ghét bỏ, nghe nói về Đức Giêsu và những quyền năng lạ lùng của Ngài, đã đến xin Ngài chữa bệnh cho con gái bà, bị thần dữ ám. Bà nài nỉ khẩn cầu lòng nhân từ của Đức Giêsu, nhưng hình như Ngài không để ý đến. Bà không muốn mất đi cơ hội: chạy theo Chúa, sấp mình xuống khẩn xin. Khi ấy Đức Giêsu mới nói với bà cách hiền từ nhưng dứt khoát: ‘Không nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó’, nhắc cho bà biết là bà không thuộc dân tuyển chọn. Ngài nói thế có ý để thúc đẩy bà tiến đến một hành vi đức tin lớn lao hơn. Bà can đảm trả lời: ‘Thưa Ngài, đúng thế…nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống’. Với những lời ấy, Đức Giêsu nhìn thấy nơi bà một người con gái của Israel, đã tin vào quyền năng của Ngài. Ngài lập tức chữa lành đứa con gái của bà: ‘Này bà, lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn thế nào sẽ được như vậy’.
+++
Lòng tin dấn thân
Trong tin mừng hôm nay, người đàn bà ngoại giáo cho ta một gương mẫu về lòng tin. Bà chẳng có chút quyền gì và bà biết điều đó; Đức Giêsu chẳng hứa cho bà điều gì cả, nhưng với lòng tin kiên trì bà đã được Chúa chữa lành cho con gái và được khen tặng.
Bài đọc 1, trái lại, dân chúng kém lòng tin. Thiên Chúa hứa cho họ Đất hứa; ít tháng sau khi đưa họ ra khỏi Aicập, Thiên Chúa kêu gọi họ đi chiếm đất hứa: ‘Đức Chúa phán với ông Môsê: Ngươi hãy sai người đi do thám đất Canaan, đất mà Ta sẽ ban cho con cái Israel. Báo cáo của những người do thám nêu lên những khía cạnh tương phản nhau: đúng là miền đất chảy sữa và mật; nhưng dân cư miền ấy thì mạnh và thành trì lại kiên cố và rộng lớn. Phản ứng ra sao trước tình cảnh như thế? Có hai khả năng: tin tưởng vào lời hứa của Đức Chúa mà tiến bước, hoặc dừng bước trước những khó khăn, những trở ngại và mất can đảm. Tuy nhiên khi ta để những khó khăn làm lòa mắt, chúng sẽ trở nên to lớn quá sức, và chính đó là điều xảy ra cho dân Israel, ‘Họ lớn tiếng kêu la; dân chúng than khóc cả đêm đó’. Than khóc là thất vọng vì sự hèn nhát của họ.
Thiên Chúa không thể chịu đựng sự thiếu lòng tin vào những lời hứa của Ngài, vì làm tổn thương trái tim Ngài, và Ngài đã quyết định chiều theo ý muốn của dân: các ngươi không muốn vào đất hứa hả? Các ngươi sẽ không được vào! Ta sẽ xử với các ngươi như lời các ngươi kêu thấu đến Ta. Theo số ngày các ngươi đi do thám đất- bốn mươi ngày- mỗi ngày tính là một năm, các ngươi sẽ gánh chịu tội ác của các ngươi bốn mươi năm.
Đáng tiếc, trong thời đại ngày nay thái độ thiếu niềm tin vào Thiên Chúa lại rất phổ biến. Các người trẻ không còn can đảm chấp nhận những bổn phận ‘dài ngày’, kéo dài bởi lẽ họ không tin tưởng vào Chúa. Họ chấp nhận hy sinh một chút thôi cho một việc làm bác ái nào đó, và xem như đã là một việc thiện rồi, chứ họ không can đảm dấn thấn cách dứt khoát, cậy dựa vào ơn Chúa. Và rõ ràng là, không có ơn Chúa, không ai có thể theo đuổi một công việc suốt cả đời: biết bao điều thay đổi, chính chúng ta cũng thay đổi…tuy nhiên với ơn Chúa chúng ta có thể kiên trì đến cùng bổn phận chúng ta, vì danh Ngài. Nhiều bạn trẻ không chịu lập gia đình, nhưng họ lại sống chung với nhau, vì họ không có can đảm để dấn thân trong đời sống hôn nhân bất khả phân ly: họ không kể đến ơn sủng của Thiên Chúa.
Thiên Chúa đề nghị cho họ một ơn huệ đặc biệt: một cuộc sống tình yêu trung thành, thường hằng, luôn tăng trưởng và họ thưa: ‘Không thể được! Quá khó! Và khi họ cưới nhau, thường những cuộc ly dị là giải pháp chung: bỏ việc bổn phận mình vì xét rằng khó khăn quá lớn. Trong lời mở đầu các Giờ kinh, Giáo Hội dạy ta cầu nguyện với lời thánh vịnh nhắc nhớ lại giai đoạn này của dân được tuyển chọn: ‘Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! Các ngươi chớ cứng lòng như ngày trong sa mạc nơi tổ phụ các ngươi đã từng thách thức Ta, nên ta mới thịnh nộ thề rằng: chúng sẽ không được vào chốn yên nghỉ của Ta’. Vừa là một cảnh giác về thái độ trên vừa khuyến khích ta noi gương đức tin của người đàn bà xứ Canaan, lãnh nhận tất cả những điều hứa ban cho bà nhờ vào lòng tin của bà.
Thứ năm Tuần XVIII Tn
Trọng tâm sứ vụ của Chúa Giêsu nằm ở cuộc đối thoại căn bản giữa Thầy và các môn đệ. Họ đã theo Người nhiều năm trước, say mê sự hiện diện và lời rao giảng của Người. Giờ đây, Chúa Giêsu yêu cầu Mười Hai Tông Đồ hãy can đảm, hãy đứng lên, hãy hiểu, hãy tiến xa hơn. Phêrô nắm bắt được cốt lõi, tin vào điều đó, thấy rằng Chúa Giêsu không chỉ là một Rabbi vĩ đại, hay một Tiên tri, mà là Đấng Messia, vị Vua Đavít mới được sai đến để cứu Israel. Chúa Giêsu là một Đấng Messia bất ngờ, một Thiên Chúa gây xáo trộn và khác biệt, không phải cơ bắp hay chính trị, nhưng cúi mình trên nhân loại, là người mà Người yêu thương và cứu chuộc bằng lòng thương xót. Và, khi nhận ra Chúa Giêsu thành Nazareth là Đấng Messia, Simon, người đánh cá ở Caphanaum, lần đầu tiên nhận ra mình chính là Phêrô. Chúa Giêsu đã xem xét ông kỹ lưỡng, và cũng như Simon nhận ra Người là Đấng Messia, Simon cũng được nhận ra là Phêrô.
Điều này cũng đã xảy ra với tôi, và tôi tin rằng nó cũng đã xảy ra với nhiều độc giả khác: kể từ khi Chúa gõ cửa lòng tôi, và tôi đã tin, công nhận Ngài là Chủ và Chúa của tôi, qua nhiều năm, tôi đã khám phá ra trong mình những ân tứ và khả năng mà tôi không biết mình sở hữu, và tôi đã thấy trong mình một con người mà tôi chưa từng cảm nhận, nhưng là người mà Chủ đã biết và yêu thương. Hỡi bạn, hãy nhận biết Chúa Giê-su là Chúa của bạn, hãy phó thác cuộc đời bạn cho Ngài, dành thời gian với Ngài, yêu thương Ngài, khám phá dung nhan Ngài, và Ngài sẽ bày tỏ cho bạn biết con người thật của bạn, bày tỏ bạn với chính mình.
+++
Cuộc đời của hạt giống.
Sự tự hiến mạng sống, như là đặc tính chính của học thuyết Messia, Đức Giêsu diễn tả bằng một dụ ngôn nhỏ. Là cuộc đời của hạt giống: một dụ ngôn nhỏ để thông đạt một cách đơn sơ và rõ ràng cho dân chúng; hạt giống khởi đầu âm thầm trong lòng đất, mục nát đi và trở thành mầm xanh, rồi đến gié nặng trĩu hạt. Hai điểm quan trọng của dụ ngôn: sinh nhiều hạt khác; được sự sống đời đời. Hạt giống chìm sâu trong lòng đất được các Giáo Phụ chú thích như là hình ảnh việc nhập thể của Con Thiên Chúa. Trong lòng đất, xem chừng sức sống của hạt giống bị tiêu tan, bởi lẽ mục nát và chết đi. Nhưng rồi trổ sinh những gié lúa, ý nghĩa sâu thẳm của cái chết. Đức Giêsu biết rằng cái chết sắp đè nặng trên con người của Ngài. Cái chết mang những đặc tính của tối tăm và của đau khổ, nhưng đối với Đức Giêsu nó ẩn tàng một sức mạnh của người phụ nữ sinh con, một huyền nhiệm của sự sống. Dưới ánh sáng đó ta có thể hiểu được lời của Đức Giêsu: ‘Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời’. Ai xem sự sống mình như một sở hữu lạnh lùng để sống vị kỷ, thì giống như hạt giống trơ trọi, không hướng đến sự sống. Ngược lại ‘ai coi thường mạng sống mình’ một thành ngữ nhằm chỉ sự từ bỏ việc sống duy chỉ cho riêng mình, mang ý nghĩa là việc trao hiến cho người khác; chỉ như thế cuộc sống mới thật m sáng tạo: là nguồn của bình an, của hạnh phúc và sự sống. Đó là thực tại của hạt giống nảy mầm. Nhưng đọc giả có thể hiểu được chiều kích phục sinh của dụ ngôn này. Đức Giêsu ý thức rằng để mang đến cho nhân loại sự sống thần linh, Ngài cần phải trải qua sự sống âm thầm của cái chết trên thập giá. Theo gương của Ngài, người môn đệ cũng đối diện với ‘giờ của mình’, giờ của sự chết, với niềm tin chắc rằng sẽ tiếp cận sự sống vĩnh cữu, nghĩa là kết hợp tròn đầy với Thiên Chúa.
Câu chuyện của hạt giống là câu chuyện của việc chết đi để được nhân lên; vai trò của nó là phục vụ cho sự sống. Việc tự hạ của Đức Giêsu được sánh ví với hạt giống chôn vùi trong lòng đất. Trong cuộc đời của Đức Giêsu, yêu là phục vụ và phục vụ là tiêu tan đi trong cuộc sống của những người khác. Gần đến giờ của Ngài, thời điểm kết thúc sứ vụ của Ngài, Đức Giêsu bảo đảm cho các môn đệ bằng lời hứa an ủi và niềm vui vô tận. Ngài đưa ra hình ảnh hạt giống phải mục nát và người đàn bà sinh con trong đau đớn. Đức Kitô đã chọn thập giá cho mình và cho những kẻ theo Ngài: ai muốn làm môn đệ Ngài, cũng được mời gọi chung chia con đường Ngài đã đi.
+++
Bài tin mừng thuật lại việc Đức Giêsu đi trên mặt biển đến với các tông đồ. Một phép lạ. Cũng có thể hiểu cách khác: thuyền của các tông đồ bị gió thổi về bờ phía bắc, Đức Giêsu từ trên núi xuống (Ngài đi cầu nguyện) để cứu giúp họ khi thấy họ đang phải chống chọi vì bị sóng đánh và Ngài đến thình lình với họ trên ngọn sóng làm họ hoảng sợ khi nhìn thấy Ngài. Có một ý nghĩa rất rõ ràng là trong thời điểm các tông đồ đang cần thì Đức Giêsu đến cứu giúp. Khi gió thổi ngược và khi cuộc sống đòi hỏi chiến đấu, Đức Giêsu ở đó để giúp đỡ.
Trong cuộc sống ta thường gặp gió ngược. Nhiều lần chúng ta phải đối mặt với cuộc đời và chỉ thấy toàn là một cuộc chiến đấu vô vọng với chính mình, với hoàn cảnh, với những cám dỗ, với những nỗi buồn, với những quyết định của ta. Những lúc như thế ta không chiến đấu một mình, Đức Giêsu đến với ta trên những ngọn sóng cuộc đời. Với đôi tay dang rộng, Ngài cứu ta, và với giọng nói trầm tĩnh, Ngài trấn an ta: ‘Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!
Thứ sáu Tuần XVIII Tn
Thánh Đaminh
Thánh Đaminh sinh tại Caleruega, Tây Ban Nha năm 1170, chết tại Bologna ngày 6.8.1221. Cùng với thánh Phanxicô Assidi, là ông tổ về đời sống thánh thiện kitô giáo được Chúa Thánh Thần khơi dậy trong một thời buổi có nhiều biến động lịch sử. Vừa thoát ra khỏi nạn bè rối Albigeois, thánh nhân hy sinh tất cả cho việc rao giảng tin mừng và bảo vệ đức tin trong vùng nam nước Pháp. Để tiếp tục phổ biến việc phục vụ tông đồ này cho toàn Giáo Hội, Ngài đã thành lập tại Toulouse (1215) dòng Đaminh. Ngài có một hiểu biết khôn ngoan sâu xa về mầu nhiệm Thiên Chúa và đề xướng, cùng với việc đào sâu của các nghiên cứu thần học, kinh nguyện bình dân của chuỗi mân côi.
+++
Sống là Đức Kitô
Cựu Ước mạc khải cho dân ưu tuyển tình yêu cá biệt của Thiên Chúa và chỉ cho thấy phương cách để lưu lại trong tình yêu này. Chúng ta nhận ra điều này trong bài đọc 1. Môsê nhấn mạnh sự kiện Thiên Chúa trong mối liên hệ cá biệt, sống động và mãnh liệt với Israel. Thiên Chúa đã tự chọn cho mình một dân tộc giữa mọi dân tộc khác cùng với thử thách, dấu chỉ, kỳ công và chiến trận. Người Israel phải nhớ những tai ương giáng trên Aicập, mà Thiên Chúa buộc Pharaon phải để cho dân ra đi; họ phải nhớ chiến thắng của Thiên Chúa trên những chiến xa Aicập đang đuổi theo dân Israel và bị chôn vùi trong lòng biển. Đàng khác, Thiên Chúa ngỏ lời cách cá biệt với dân của Ngài. Môsê nhắc lại cuộc diện kiến với Thiên Chúa trên núi Sinai: ‘Từ trời cao Thiên Chúa đã cho ngươi nghe tiếng của Người để dạy dỗ ngươi; trên mặt đất Người đã chỉ cho ngươi thấy lửa của Người và ngươi nghe thấy tiếng của Nguời ngay giữa lửa’. Tất cả đều vì tình yêu, ‘bởi vì Môsê nói rằng Thiên Chúa yêu thương cha ông ngươi’. Và trong một đoạn sách Đệ Nhị Luật: ‘Đức Chúa đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân. Nhưng chính là vì yêu thương anh em…mà Đức Chúa đã ra tay uy quyền đưa anh em ra và giải thoát anh em khỏi cảnh nô lệ (Đnl 7,7-8 ).
Để lưu lại trong mối liên hệ cá biệt với Thiên Chúa, tương quan tình yêu, Israel cần phải làm gì? Cần phải khước từ những ngông cuồng riêng, lắng nghe tiếng Chúa và sống theo những chỉ thị của Ngài, Đấng lúc nào cũng chỉ đường chính lộ để sống trung thành. Không thể lưu lại trong tình yêu mà không từ bỏ tính ích kỷ. Không thể lưu lại trong mối liên hệ tốt nhất với người mình yêu nếu không tìm sống phù hợp với ước mong của người yêu. Tuy nhiên Môsê nhấn mạnh việc tuân thủ huấn lệnh của Thiên Chúa. Đó là cách biểu lộ tình yêu đối với Ngài. Ai tuân giữ sẽ được hạnh phúc: ‘Vậy anh em phải tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định mà hôm nay tôi truyền cho anh em, để ngươi và con cháu ngươi được hạnh phúc’.
Khi Đức Giêsu đến, việc liên hệ cá biệt với Thiên Chúa càng trở nên hiển nhiên hơn, mãnh liệt hơn và thân tình hơn. Thay vì tiếng sấm trên núi Sinai truyền lệnh Thiên Chúa, chúng ta liên hệ với Con Thiên Chúa làm người như chúng ta, là người anh em với ta. Tình yêu Ngài dành cho ta được biểu lộ quảng đại hơn, không qua những dấu chỉ kỳ công, nhưng bằng chính con người của Đức Kitô, đến độ tiêu hao, đau khổ và chết.
Để lưu lại trong tình yêu này, chúng ta phải làm gì? Đức Giêsu nói rõ: ‘Nếu ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình…’chúng ta cần phải từ bỏ tính ích kỷ, đừng để cái tôi của mình làm trung tâm tất cả nữa, ngược lại cần chấp nhận mất mạng sống vì danh Đức Kitô. Nếu chúng ta muốn cứu nó, ta sẽ mất nó. Nếu ta mất mạng vì Chúa, ta sẽ được lại.
Với cái nghịch lý này, Đức Giêsu mạc khải cho ta một quyết định để nhằm hướng dẫn đời ta. Chúng ta cảm nghiệm trong mình có hai khát vọng mạnh mẽ, khát vọng hạnh phúc và khát vọng yêu thương. Quả vậy Thiên Chúa đã tạo dựng nên chúng ta để sống hạnh phúc và yêu thương. Tuy nhiên có một sự không tương thích giữa hai mục tiêu này, ít là cách tạm thời. Ai tìm hạnh phúc trực tiếp cho riêng mình, thì sống trong ích kỷ và sẽ xa cách tình yêu. Ai tìm sống trong tình yêu cần từ bỏ việc đi tìm hạnh phúc cách trực tiếp, hạnh phúc của riêng mình. Nhiều người ở trong hoàn cảnh lập lờ: muốn sống yêu thương, nhưng trong thực tế họ lại tìm hạnh phúc riêng. Biết bao thảm cảnh xảy ra vì điều này. Đức Giêsu không để chúng ta sống trong ảo ảnh nữa. Ngài nói rõ ràng, nếu ta muốn tìm hạnh phúc, cần phải từ bỏ việc đi tìm nó, mà phải hướng đến một mục tiêu duy nhất, đó là sự tiến triển trong tình yêu, theo con đường mà Ngài đã vạch ra. Ai muốn cứu mạng sống mình cách ích kỷ, sẽ mất nó, nhưng ai quảng đại mất đi mạng sống mình vì Ngài, sẽ tìm lại được. ‘Đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là mối lợi’ (Philip 1,21). Hãy tự hỏi mình xem có đang đi trên con đường đó không.
+++
"Mất" là "tìm thấy" nếu ta mất vì Ngài...
Thiên Chúa có nhiều khuôn mặt, và Ngài nói bằng nhiều giọng. Điều quan trọng đối với chúng ta là có một mối quan hệ với Ngài, một mối quan hệ cá nhân, một-một. Trong bài đọc thứ nhất trích từ Cựu Ước, Môsê nhấn mạnh đến chính sự thật này. Thiên Chúa đã chọn một dân tộc giữa muôn vàn dân tộc khác qua những thử thách, dấu lạ, phép lạ và chiến trận. Và nhiều lần dân thánh này đã chống lại Thiên Chúa. Nhưng họ biết rằng để ở lại với Ngài, với Thiên Chúa, trong mối quan hệ yêu thương này, họ phải từ bỏ những ý thích riêng, lắng nghe tiếng Ngài và tuân theo những chỉ dẫn thiêng liêng chỉ ra con đường trung thành đúng đắn. Với sự giáng sinh của Chúa Giêsu, khía cạnh cá nhân trong mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa càng trở nên rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn và thân mật hơn. Thay vì tiếng sấm trên núi Sinai, tiếng nói của Thiên Chúa được lắng nghe, chúng ta có một mối liên hệ cá nhân với Con Thiên Chúa đã làm người như chúng ta, là anh em của chúng ta. Tình yêu của Ngài dành cho chúng ta đã được thể hiện một cách hào phóng hơn, không chỉ bằng những dấu lạ và phép lạ, mà còn bằng việc trả giá, thậm chí đến mức kiệt sức, đau khổ và cái chết. Nhưng chúng ta cũng phải nỗ lực. Chúng ta không thể ở lại với Người mà không hợp tác... Chúng ta phải làm gì? Chúa Giêsu nói với chúng ta một cách công khai: "Nếu ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ chính mình..." Chúng ta phải từ bỏ triệt để tính ích kỷ của mình, không còn đặt cái "tôi" làm trung tâm của mọi sự nữa. Chúng ta phải học cách chấp nhận mất mát, không chỉ một lần, mà là mất mát vì tình yêu dành cho Người. Nếu chúng ta muốn cứu mạng sống mình, chúng ta sẽ mất nó. Nếu chúng ta mất nó vì Người, chúng ta sẽ tìm thấy nó.
Thứ bảy Tuần XVIII Tn
Khởi đầu bài đọc 1 hôm nay ta nhận ra đoạn sách Đệ Nhị Luật mà Đức Giêsu đã trích dẫn để trả lời cho người kinh sư hỏi Ngài về giới răn trọng nhất. Đức Giêsu trả lời: Điều răn đứng đầu là: Nghe đây hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực của ngươi (Mc 12,29-30). Đức Giêsu còn thêm vào giới luật thứ hai, là yêu thương tha nhân, không tách rời khỏi giới luật thứ nhất.
Sự quan trọng nền tảng của câu trích sách Đệ Nhị Luật được truyền thống do thái nhìn nhận, và trở thành lời mở đầu cho kinh nguyện hàng ngày của người do thái.
Thật vậy, chúng ta nhận thấy đây là một mạc khải lạ lùng. Những sách khởi đầu của bộ Kinh Thánh không nói phải yêu mến Thiên Chúa, nhưng chỉ nói phải kính sợ và phụng sự Người. Khi Giacóp đi về Kharan, đến một nơi kia, ông lấy một hòn đá nơi đó gối đầu và nằm ngủ ở đó. Ông mơ thấy một chiếc thang dựng từ đất đến trời và vô số thiên thần lên xuống trên đó. Ông tỉnh giấc và nói: ‘Nơi này đáng sợ thay! Đây là nhà của Thiên Chúa’ (St 28,10-17). Khi Môsê nhìn thấy bụi cây bốc cháy, ông nghe tiếng của Thiên Chúa, ông che mặt đi, vì sợ nhìn phải Thiên Chúa (Xh 3,6). Tương tự như vậy, khi Thiên Chúa tỏ mình trên núi Sinai và ban lề luật của Người, ‘toàn dân sợ hãi run rẩy và đứng xa xa. Họ nói với Môsê: Xin chính ông nói với chúng tôi, chúng tôi mới dám nghe, nhưng xin Thiên Chúa đừng nói với chúng tôi, kẻo chúng tôi chết mất’ (Xh 20,18-19). Sách Đệ Nhị Luật nhắc lại cảnh này trước khi thông truyền mạc khải mới, thay vì nhấn mạnh đến sự kính sợ thì lại nói đến lòng yêu mến. Sự vĩ đại của Thiên Chúa, quyền năng của Người, sự thánh thiện của Người không loại trừ tình yêu. Nên Thiên Chúa đòi hỏi phải được dân Người yêu mến chứ không phải chỉ được kính sợ, khen ngợi. Lời yêu cầu này của Thiên Chúa thay đổi hoàn toàn cách thức liên hệ với Người. Người chuẩn bị cho lời yêu cầu này cách tiệm tiến. Để có thể được yêu mến, Thiên Chúa đã tự tỏ mình cho người ta nhận biết; đã thiết lập tương quan cá biệt với Ápraham, tỏ cho ông và con cháu ông thấy lòng nhâu hậu của Người; đã thề hứa với ông và đã không ngừng quan tâm đến con cháu của ông, để hướng dẫn, bảo vệ, che chở, giải phóng và ban nhiều ơn phúc. Thiên Chúa tự tỏ mình là đấng đầy tình thương, một tình thương nhân hậu, mạnh mẽ và dịu dàng.
Thiên Chúa yêu cầu được yêu mến. Người đòi hỏi điều ấy không phải vì lợi ích cho Người, nhưng chỉ vì tình yêu, nghĩa là để có thể ban tặng nhiều hơn nữa, để có thể ban tặng chính mình cho chúng ta và dẫn đưa ta vào trong sự sống tình yêu của Người. Nếu một ai đó nhận ân huệ từ một người khác mà lại không biết đáp trả bằng tình yêu, mối tương quan ấy chưa thỏa đáng. Ai muốn trao ban thì không thể thông ban những điều thiện hảo quý giá hơn, không phải là vật chất nhưng là nhân vị và tinh thần. Ơn ban cao trọng nhất, quý giá nhất là chính hiệp thông liên vị. Điều còn lại chỉ là phụ thuộc.
‘Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi’. Người muốn nên một với tôi để làm cho tôi sống tràn đầy trong niềm tín thác, hân hoan, trong sự hiệp thông với Người và với mọi người.
Hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng. Chỉ Thiên Chúa mới được yêu mến thực sự hết lòng, không dành lại chút gì; vì Người tốt lành vô cùng. Tại trần gian này mọi tạo vật đều có giới hạn và khiếm khuyết. Nên chỉ đáng cho một tình yêu giới hạn. Trái lại, Thiên Chúa xứng đáng cho tình yêu vô cùng. Tôi yêu mến Người với hết sức của tôi vì chính Người đã ban cho tôi tất cả, vì yêu thương. Một ít người cho tôi nhiều quà tặng quý giá, nhưng không ai có thể cho tôi trọn vẹn con người tôi. Người ban cho tôi tất cả: không khí để thở, ánh sáng để nhìn, thế giới với những kỳ quan, những con người quanh tôi. Tình yêu Thiên Chúa gặp gỡ tôi mọi nơi và muốn thông ban chính mình cho tôi. Thế nên, yêu mến Thiên Chúa không phải là một giới răn, đúng hơn là một ơn gọi, đáp lại khát vọng sâu xa nhất của chính con người tôi. Đàng khác, yêu mến Thiên Chúa hết lòng là một công trình dài hơi, vì giả thiết sự loại bò hoàn toàn tính ích kỷ của mình, không thể được thực hiện trong một chớp mắt. Mỗi bước tiến trong chiều hướng đó là một chiến thắng mang lại niềm vui đích thực cho lòng ta.
+++
Bài đọc I là kinh Shema, Kinh tin kính của người do thái. Người do thái đọc kinh này 3 lần mỗi ngày. Chẳng những thế những lời ấy còn phải được viết rồi bỏ vào trong hộp nhỏ mang trên trán, được đeo trên tay, được ghi trên của nhà, cửa thành. Điều lề luật khuyến dụ có ý nói lên tầm quan trọng của lời kinh Shema trong đời sống người do thái. Không được quên điều này, giao ước căn bản giữa Thiên Chúa và dân Người. ‘Phải ý tứ đừng quên Đức Chúa’.
Bài tin mừng thuật lại việc Đức Giêsu chữa lành một bé trai mắc bệnh kinh phong. Người ta đưa cháu đến với các tông đồ nhưng các ông không chữa được. Sau khi thấy đứa bé được Đức Giêsu chữa lành, các tông đồ mới hỏi Thầy lý do vì sao họ không thể chữa lành được: tại anh em kém tin! Lòng tin biến đổi tất cả, làm được tất cả.
Mỗi ngày tập sống đức tin trong từng việc nhỏ. Lòng tin sẽ lớn lên khi biết cho đi, chia sẻ cho người khác.
+++
Đoạn tin mừng đan xen giữa sự bất lực của các môn đệ trong việc chữa lành em bé do kém lòng tin (v.20), giữa một thế hệ cứng lòng (v.17) và quyền năng của đức tin chân thực (v.20).
Đối với Matthêô đứa bé là tượng trưng cho dân Israel cứng lòng (x.Đnl 32,5) đã không nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa họ (v.17).
Các môn đệ không thể dùng sức riêng của mình để trừ quỷ, nhưng chỉ có thể thực hiện được nhờ quyền năng của Thiên Chúa. Đức tin là phương thế duy nhất để liên kết với Thiên Chúa và sử dụng quyền năng của Người.
Matthêô nhắc đến dụ ngôn hạt cải, đã lớn lên vượt quá những gì mong đợi lúc ban đầu.
Đoạn văn này hình như có một trái ngược. Đức Giêsu quở trách các môn đệ vì họ kém lòng tin và rồi Ngài còn bảo nếu họ có đức tin bằng hạt cải, họ có thể chuyển dời núi non.
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Thánh Laurensô
Lời Chúa hôm nay và mãi mãi là chân thật, sống động, cứu độ và giải thoát. Lời Chúa cứu chữa chúng ta khỏi mọi bệnh tật; phục sinh chúng ta từ cõi chết. Thánh hóa chúng ta. Trong một xã hội đang muốn loại trừ ảnh hưởng Kitô, chúng ta đi tìm những giải pháp, những phương thức cho việc tân phúc âm hóa. Đôi lúc chúng ta nghĩ là đã tìm thấy chúng trong các dự định, trong cách sống của chúng ta. Hoặc chúng ta đánh mất hy vọng tìm thấy chúng. Chúa thông ban cho ta một phương cách hoàn toàn hiệu quả: chết đi cho chính mình. Chết mỗi ngày. Ước gì những năng lực ích kỷ của ta bị tiêu hủy đi. Như thế chúng ta sẽ được hưởng sự sống, là chính Đức Kitô, cho bản thân ta, cho Giáo Hội và cho thế giới. Cùng chết với Ngài, ta sẽ cùng được sống lại với Ngài. Như những người bạn thân, ta phục vụ Ngài và Ngài ở đâu, ta cũng ở đó: trên thánh giá, trong vinh quang. Chúng ta lắng nghe tiếng Ngài trong tin mừng. Chúng ta suy niệm gương thánh Lôrensô, vị thánh đã từng lắng nghe tiếng Chúa và không cứng lòng.
Đoạn tin mừng hôm nay chứa đựng những lời quan trọng về những cách thức trong sứ vụ truyền giáo ‘mang nhiều hoa trái’ của Đức Kitô và của các môn đệ Ngài. Nhưng trong lời tuyên bố long trọng này ‘nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu nó chết đi, nó mới sinh nhiều hạt khác’ được chèn vào đoạn 12,12-36 trong đó thuật lại cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu như Đấng Messia với dân Israel và việc dân Israel từ khước lời đề nghị cứu thế của Ngài. Đâu là những chủ đề chính diễn tả học thuyết Messia của Đức Giêsu? Người do thái chờ mong một đấng Messia dưới lớp áo của một vị vua quyền thế, tiếp tục cai trị trên ngai vàng của Đavít và mang lại cho Israel một thời hoàng kim như ngày xưa. Đức Giêsu, ngược lại, trung tâm học thuyết Messia của Ngài là việc tự hiến mạng sống và ban cho con người khả năng tiếp nhận chương trình của Thiên Chúa trong cuộc đời họ.


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

ducchasi
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập38
  • Máy chủ tìm kiếm9
  • Khách viếng thăm29
  • Hôm nay19,958
  • Tháng hiện tại559,490
  • Tổng lượt truy cập65,851,620

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây