Suy niệm Chúa Nhật 19 Thường Niên C - Lm. Xuân Hy Vọng
Thứ ba - 05/08/2025 22:42
251
KHO TÀNG CỦA TA ĐANG Ở ĐÂU?
Xảy ra một câu chuyện bất ngờ, nhưng thật tang thương, khi hàng loạt bài báo đều đăng tin anh chàng khoẻ mạnh, đẹp trai bị đột tử. Ai ai cũng biết rõ hằng ngày anh chăm chỉ đi làm, kiếm tiền, dành dùm, hầu chăm sóc bản thân cũng như mẹ già. Lúc anh đã ra đi vĩnh viễn, khi khám tử thi, người ta phát hiện dường như cánh tay trái của anh vẫn cố vươn ra, chỉ về phía có chiếc két sắt đóng đầy bụi cũ kỹ. Nhưng rồi, chẳng ai để ý đến. Chỉ sau khi tang lễ hoàn tất, họ hàng xa của anh lấy làm hiếu kỳ, bèn mở két sắt ra, ôi trông như đứng trước một kho báu đã chôn giấu từ rất lâu, nay được khai quật lên toàn vàng bạc, tiền của!
Kho tàng này còn ở lại trần gian, còn anh giờ phải ra đi, không trở lại. Chắc hẳn, ai ai trong chúng ta cũng có một kho tàng. Vậy, kho tàng của chúng ta đang ở đâu? Đức Giê-su khẳng định: “Kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em cũng ở đó” (Lc 12, 34). Quả thật, tục ngữ Việt Nam nói rất chí lý: Đồng tiền đi liền khúc ruột. Những gì quý giá nhất, chúng ta đều cất giữ kỹ lưỡng. Những gì quý giá, chúng ta thường nghĩ suy, để lòng trí hướng về nó.
Tuy nhiên, trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su còn dạy: “Hãy sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá” (Lc 12, 33). Thật vậy, gây dựng kho tàng trên trời thì đảm bảo hơn kho tàng ở hạ giới. Nhưng lạ lùng thay, cách gây dựng kho tàng trên trời lại khác hẳn so với cách xây dựng kho tàng trần gian. Chẳng cần nói nhiều, hẳn ai trong chúng ta đều biết để gây dựng kho tàng trần gian, chúng ta phải tích trữ, tiết kiệm, hà tiện, tính toán, đến nỗi ích kỷ thì lúc ấy kho lẫm mới gia tăng, tài sản mới rủng rỉnh. Ngược lại, để gây dựng kho tàng trên trời, chúng ta phải biết cho đi, chúng ta phải biết chia san. Càng quảng đại cho đi, lại càng trở nên giàu có. Càng chia sẻ với người, với đời, lại càng được đầy dư. Càng ban tặng, lại càng được phong phú. Đây chính là những đặc tính của người quản lý khôn ngoan và trung tín, mà Lời Chúa mời gọi chúng ta hôm nay.
Cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn nói chẳng sai: Con chim ở trọ cành tre, con cá ở trọ trong khe nước nguồn…Môi xinh ở trọ người xinh, duyên dáng ở trọ đôi chân Thuý kiều…Tôi nay ở trọ trần gian, mai sau về chốn xa xăm với Người…Cuộc sống trần gian này chỉ tạm thời như việc ở trọ vậy. Chúng ta được Chúa trao phó thời gian, sức khoẻ, tài năng, tiềm năng, trí lực, thể lực, v.v…không phải để chúng ta trở nên ‘ông/bà chủ con’ của bản thân hoặc của người khác, mà đúng hơn là người quản lý không hơn không kém. Chúa mong muốn chúng ta là người quản lý trung tín và khôn ngoan, người quản lý biết gây dựng kho tàng trên trời vĩnh viễn, không bao giờ hư mất. Nhưng để trở nên người quản lý trung tín và khôn ngoan, chúng ta cần đặt trên nền tảng đức tin như ông Áp-ra-ham đã tín thác, tin tưởng vào Thiên Chúa, và thực thi lời Ngài phán truyền, dù ông không biết nơi đích đến là đâu (x. Dt 11, 8). Vì chưng, “đức tin bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (x. Dt 11, 1).
Hơn nữa, nhờ đức tin mà người quản lý khôn ngoan và trung tín luôn tỉnh thức trước những cơn ngủ mê, những giấc mộng mị của thói đời dửng dưng, lối sống ‘mặc kệ nó’ (chẳng hề quan tâm đến tha nhân, chỉ biết cái tôi của mình), thói quen tích trữ hơn là cho đi, cách sống đòi hỏi, chỉ muốn nhận, chứ chẳng bao giờ chia san tất cả ân sủng, tài nguyên, tài năng, trí lực, thời gian, v.v…cho tha nhân, vì đó chính là những tài sản Chúa trao cho chúng ta quản lý và sẻ chia không ngừng. Ngoài ra, người quản lý trung tín và khôn ngoan chẳng bao giờ được bội phản, bất trung, quay lưng chống lại Thiên Chúa bằng cách dùng ơn Chúa bội tín Ngài, dùng thời gian Chúa ban ủ mưu, thực hiện những việc làm xấu xa, dùng sức mạnh-quyền lực dèm pha, chà đạp, áp bức kẻ khác, dùng tài năng cho tư lợi mà chẳng biết cống hiến, phục vụ, v.v…Nhưng đúng hơn, người quản lý trung tín và khôn ngoan dùng tất cả những gì Chúa ban để phục vụ Ngài, Giáo hội và tha nhân. Vì “hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn” (Lc 12, 48).
Sau cùng, nhờ đức tin mà người quản lý khôn ngoan-trung tín biết nhẫn nại đợi chờ trong tinh thần tỉnh thức. Không ai trong chúng ta biết khi nào mặt trời lặn lần sau cùng trong đời mình, và chẳng ai có thể biết được ngày nào được nhìn thấy ánh dương chiếu rọi lần cuối. Cuộc đời này ở trọ chóng qua, nhưng Chúa lại hay đến bất ngờ, vì thế là người quản lý tín trung-khôn ngoan, chúng ta phải tỉnh thức đợi chờ. Nhưng chẳng phải thụ động ngồi đó khoanh tay đứng ngồi không yên, hoặc đứng nhìn! Không, đợi chờ trong tỉnh thức đồng nghĩa với việc tích cực sống đạo, hăng say làm việc bác ái, thắt lưng-đốt đèn, giữ ngọn lửa nhiệt huyết, ngọn nến đức tin cháy sáng luôn mãi. Hơn thế, tỉnh thức chờ đợi là sống tinh thần phục vụ không ngơi nghỉ. Dẫu Chúa có đến bất ngờ như kẻ trộm đi chăng nữa, Ngài cũng nhìn thấy người quản lý khôn ngoan-trung tín đang hăng say phục vụ, đang chia san với tha nhân, đang thực thi Lời Chúa dạy.
Lạy Chúa, ước gì kho tàng con
Trong tấm lòng sắt son, chân thành
Trở nên người quản lý khôn ngoan
Luôn thức tỉnh đợi chờ thực thi
Lời rao truyền Chúa chỉ (dẫn) đỡ nâng
Mãi là người quản lý ân cần
Đèn rạng chiếu, tảo tần chia san
Với tâm hồn trao bao, hiến dâng.
Lm. Xuân Hy Vọng
LINH MỤC LÀ AI? (8)
Theo các Thánh nhân, Linh mục là ai? Dưới đây là một số tư tưởng của các ngài.
Thánh Sýp-ri-a-nô thành Ca-tha-go (Cyprian of Carthage): Ngài nhấn mạnh: Linh mục là “người đồng tế với Chúa Ki-tô” trong hy lễ Thánh Thể, đóng vai trò trung gian để kết nối cộng đoàn với Thiên Chúa. Ngài dạy rằng Linh mục phải sống đời thánh thiện để xứng đáng với vai trò cao cả này, đồng thời bảo vệ sự hiệp nhất của Giáo hội trước các mối đe dọa như lạc giáo. (Nguồn: St. Cyprian, On the Unity of the Church, chương 4-5 (về vai trò linh mục trong Thánh Thể và sự hiệp nhất); Letter 66 (về đời sống thánh thiện của linh mục); tham khảo The Works of St. Cyprian trong Ante-Nicene Fathers, Vol. 5 (1885, Eerdmans tái bản)).
Thánh Gioan Kim Khẩu (John Chrysostom): Ngài mô tả linh mục như “người có miệng lưỡi vàng” (Chrysostom nghĩa là “miệng vàng”, “kim khẩu”), nhấn mạnh vai trò rao giảng Lời Chúa với sự khôn ngoan và sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Trong Khảo Luận về Chức Linh Mục, ngài viết rằng Linh mục phải là người có lòng trắc ẩn, sẵn sàng chịu đựng mọi khó khăn để cứu rỗi các linh hồn. (Nguồn: St. John Chrysostom, On the Priesthood, Sách III, chương 4-6 (về rao giảng và cứu các linh hồn); tham khảo Six Books on the Priesthood (St. Vladimir’s Seminary Press, 1977)).
Thánh Mar-ti-nô thành Tours (Martin of Tours): Ngài nhìn Linh mục như “người tôi tớ khiêm nhường” của Chúa, sống đời đơn sơ và bác ái. Là Giám mục, ngài nhấn mạnh rằng Linh mục phải gần gũi với người nghèo và sống đời cầu nguyện để trở thành ánh sáng cho cộng đoàn, đặc biệt qua việc chia sẻ tình yêu của Chúa. (Nguồn: Sulpicius Severus, Life of St. Martin, chương 10-12 (về đời sống cầu nguyện và bác ái); tham khảo The Life of St. Martin of Tours trong Early Christian Lives (Penguin Classics, 1998)).
Thánh Tê-rê-sa Bê-nê-đíc-ta Thánh Giá (Edith Stein): Ngài xem Linh mục là “người mang Chúa Ki-tô đến với thế giới”, đặc biệt qua Bí tích Thánh Thể và đời sống cầu nguyện. Ngài nhấn mạnh rằng Linh mục phải sống đời hy sinh và chiêm niệm để trở thành cầu nối giữa Thiên Chúa và nhân loại, đặc biệt trong những thời kỳ khó khăn. (Nguồn: Edith Stein, The Collected Works of Edith Stein, đặc biệt Essays on Woman (về vai trò thiêng liêng của linh mục); tham khảo The Collected Works of Edith Stein (ICS Publications, 1987-1996)).
Lm. Xuân Hy Vọng