“GẪM” XỨ NẪU: LỊCH SỬ MỘT BIẾN ÂM VÀ KÝ ỨC KINH NGUYỆN
NGUYỄN KIM BINH
Từ lời kinh đến hành trình đi tìm căn tính chữ “gẫm”
(phần tiếp theo)
CHƯƠNG III
SỰ PHÂN VỊ VÙNG MIỀN
VÀ BẢN SẮC TRUYỀN KHẨU CỦA CHỮ “GẪM”
“Gẫm” và “ngắm”: từ khác biệt ngữ âm đến bản sắc vùng miền
Từ thế kỷ XVII trở đi, cùng với sự phát triển của Công giáo tại Việt Nam, các thuật ngữ chỉ hoạt động suy niệm dần hình thành hai dòng sử dụng song song: “ngắm” phổ biến hơn tại Đàng Ngoài, trong khi “gẫm” được bảo tồn mạnh tại Đàng Trong, đặc biệt ở miền Trung và miền Nam. Đáng chú ý là sự khác biệt này không hoàn toàn nằm ở mặt chữ. Nhiều trường hợp, cùng một chữ Nôm 吟 có thể được đọc là “ngắm” ở Đàng Ngoài, nhưng lại được đọc là “gẫm” trong truyền thống Đàng Trong. Như vậy, vấn đề sâu xa hơn là sự khác nhau về hệ sinh thái ngữ âm và văn hóa cộng đoàn. Các dữ liệu từ Thư mục ấn phẩm Công giáo Việt Nam của linh mục Trần Anh Dũng cho thấy sự phân bố rõ rệt: các nhà in phương Bắc như Kẻ Sở, Phú Nhai, Phát Diệm thường in “Sách ngắm Đàng Thánh Giá”, trong khi các bản in Quy Nhơn, Tân Định, Nam Bộ lại ưu tiên dùng “Sách gẫm quanh năm” hoặc “Cách thức cho dễ nguyện gẫm”. Điều này cho thấy ngôn ngữ cầu nguyện tại Việt Nam không phát triển theo một trung tâm thống nhất, mà hình thành theo các dòng truyền khẩu và văn hóa địa phương khác nhau.
Không gian kinh nguyện truyền khẩu xứ Nẫu
Nếu “ngắm” ở phương Bắc gợi mạnh đến hành vi chiêm ngưỡng, thì “gẫm” trong tiếng đọc miền Trung lại mang sắc thái nặng và hướng nội sâu sắc. Trong không gian cầu nguyện truyền khẩu của người xứ Nẫu, chữ “gẫm” luôn đi kèm với cả một hệ thống quán ngữ cổ được gìn giữ bền bỉ qua các bài gẫm nguyện: “Xin cho chúng con chừa đi đàng trái”, “Xin cho chúng con hằng đi đàng ngay thật”, “Xin cho chúng con được ở bên tay hữu Đức Chúa Giêsu”, “Chớ chi nước mắt con chảy ra răòng răòng mà báo nghĩa Chúa cho xứng đáng…”.
Những lời kinh này không chỉ được đọc, mà được thuộc lòng, đáp theo nhịp cộng đoàn, và ghi nhớ bằng âm thanh nhiều hơn bằng văn bản. Người tín hữu có thể quên mặt chữ, nhưng giọng đọc, nhịp ngân và âm hưởng địa phương của lời kinh thì nằm lòng trong máu thịt. Bản văn kinh nguyện thường có cấu trúc đối xứng và lặp (chưn tả - chưn hữu, tay tả - tay hữu, cạnh nương long) kết hợp với các ẩn dụ luân lý cụ thể (đàng trái - tội lỗi, đàng ngay - cứu độ) giúp việc "ngậm thuộc" trở nên dễ dàng. Hơn nữa, những quán ngữ mang tính nhập thân mạnh mẽ như “dao sắc thâu qua lòng”, “lưỡi gươm thâu vào lòng ruột”, “máu chảy xuống răòng răòng” tạo nên một thứ linh đạo được cảm bằng thân thể. Người tín hữu không hình dung các mầu nhiệm bằng khái niệm trừu tượng, mà bằng chuyển động, nước mắt, máu chảy, bước đi, vai vác và tiếng khóc.
“Gẫm” như một hình thức linh đạo cộng đồng
Trong thực hành đạo đức bình dân phương Nam, “gẫm” luôn gắn liền với hành vi tập thể: quỳ, đứng, đáp kinh, và đặc biệt là trong các nghi thức cầu lễ, tưởng niệm người qua đời. Trong các giờ kinh cầu cho người hấp hối hay phúng viếng tại miền Trung, kinh Năm Dấu Thánh được đọc với giọng chậm, nặng, kéo dài, biến hành vi "gẫm" từ một hoạt động cá nhân cô lập trở thành một hình thức cộng đoàn cùng nhau bước vào ký ức linh thánh. Linh đạo của chữ “gẫm” mang tính nhập thể, cảm xúc và gắn kết cộng đồng rất rõ nét. Người tín hữu cảm nhận mầu nhiệm bằng giọng đọc của người thân, nhịp quỳ đứng của xóm đạo và ký ức tập thể của cả một vùng quê. Đối với nhiều cộng đoàn miền Trung, giữa những thay đổi của ngôn ngữ phụng vụ hiện đại, chữ “gẫm” không chỉ là một thuật ngữ đạo đức, mà là âm thanh của một thế giới đức tin bình dân đầy trân quý đang dần lùi vào quá khứ.
CHƯƠNG IV
GẪM – TIẾNG CỦA BÀ MẸ QUÊ
Viết đến đây, tôi nhận ra chữ “gẫm” đối với mình không còn là một đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ hay lịch sử văn bản trên trang giấy khô khan. Nó đã thực sự trở thành một phần ký ức sống, một mảnh tâm hồn chứa đựng cả tuổi thơ.
Tôi sinh ra ở Quy Nhơn, nhưng những năm tháng ấu thơ lại được nuôi dưỡng và lớn lên tại giáo xứ Gò Đền của vùng đất Ninh Thuận. Bây giờ, khi đang sống tại Nha Trang, trong một giáo xứ miền Bắc di cư năm 1954, mỗi ngày tôi đều được nghe cộng đoàn xướng lên rất rập ràng và sốt sắng: “Thứ nhất thì ngắm…”. Tôi hiểu và trân trọng đó là một truyền thống phụng vụ, một nét đẹp đức tin rất riêng. Nhưng lạ thay, giữa những tiếng “ngắm” tròn trịa, quen thuộc ấy, có những khoảnh khắc lòng tôi lại chợt thắt lại vì… thèm một tiếng: “Thứ nhứt thì gẫm…”.
Sự thèm thuồng ấy không phải vì chữ “gẫm” đúng hơn chữ “ngắm”, cũng chẳng phải vì một chút lòng phân biệt vùng miền ích kỷ. Chỉ đơn giản là bởi vì: nghe một tiếng “gẫm”, tôi nhớ Má. Tôi nhớ cái giọng Bình Định pha miền Trung đặc sệt, nằng nặng của Má khi xướng lên những lời kinh thương khó: “chưn tả”, “chưn hữu”, “máu chảy xuống răòng răòng”, hay “gươm sắc sẽ thâu qua lòng Bà”... Tiếng kinh ấy kéo tôi về những buổi tối cầu lễ cho người mới qua đời, cả nhà quỳ quanh chiếc chiếu, đọc Phép lần hột Năm Dấu Thánh với giọng chậm rãi, trầm buồn. Nó nhắc tôi nhớ những chiều thứ Sáu Mùa Chay đi Đàng Thánh Giá dưới bóng hoàng hôn xóm đạo, và nhớ cả tiếng “dzỗ” vang lên điều khiển giữa cộng đoàn: một tiếng thì đứng, hai tiếng thì quỳ, và ba tiếng dập dồn thì ngồi.
Hồi nhỏ, tụi trẻ con tinh nghịch chúng tôi nhiều khi chưa thể hiểu hết những câu gẫm đạo đức sâu xa, huyền nhiệm ấy. Nhưng đứa nào đứa nấy đều mê tơi và tranh nhau để được cầm cái “dzỗ” giữ nhịp. Chiếc “dzỗ” đầu tiên trong ký ức của tôi ly kỳ lắm, nó vốn là một chiếc máy ảnh Canon cũ đã bị hư. Sau này chiếc máy ảnh ấy thất lạc, người ta mới đẽo tạm một cái khác bằng gỗ. Rồi thời gian qua đi, thanh gỗ ấy cũng vỡ ra thành nhiều mảnh, tụi nhỏ chúng tôi chia nhau mỗi đứa cầm một mảnh gõ bừa bãi nên không còn đúng nhịp nữa, cuối cùng bị Bà Nhất cấm luôn để đợi làm một cái “dzỗ” mới. Giờ ngồi nhớ lại những trò nghịch ngợm thuở ngây ngô, tôi vẫn thấy buồn cười, nhưng cũng chợt nhận ra một điều thiêng liêng: tuổi thơ của mình đã lớn lên và thành hình giữa tiếng kinh, tiếng “dzỗ” và những câu gẫm mộc mạc như thế. Có lẽ vì vậy mà với tôi, “gẫm” chưa bao giờ là một từ ngữ xa lạ. Nó chính là ký ức tuổi thơ, là giọng nói của Má, là tiếng đọc kinh của một xứ đạo miền Trung, và là cả một thế giới đạo đức bình dân đang dần lùi vào hoài niệm.
Ngày nay, nhiều giáo xứ ở thành phố lớn không còn đọc các bài gẫm cổ như trước. Người ta dần thay thế bằng những bài suy niệm mới, ngắn gọn, gần gũi với ngôn ngữ hiện đại hơn. Sự thay đổi ấy không hề sai lệch mà trái lại còn rất phù hợp, bởi mỗi thời đại đều cần một cách diễn đạt đức tin tương thích với con người của thời đại ấy. Thế nhưng ở nhiều nơi, nhất là ở những xóm đạo quê, nơi những người lớn tuổi còn hiện diện, các bài gẫm cổ vẫn có một sức sống bền bỉ và được yêu mến lạ thường. Không hẳn vì văn chương của sách cổ hay hơn, mà vì người ta đã “ngậm thuộc”, đã thuộc lòng nó bằng cả cuộc đời, bằng cả những thăng trầm chìm nổi của đời sống mình.
Những câu kinh như: “Xin cho chúng con chừa đi đàng trái”, “Xin cho chúng con hằng đi đàng ngay thật”, “Hãy xem đó thì biết phép Chúa công thẳng là thế nào”, hay “kẻo uổng công trình cứu chuộc”... cho đến nay vẫn sống âm thầm đâu đó trong lời ăn tiếng nói, trong nếp nghĩ hằng ngày của nhiều người Công giáo miền Trung và miền Nam. Thậm chí, chữ “gẫm” cũng chưa hẳn là đã biến mất trong dòng chảy hiện đại. Trong các nhà dòng, chủng viện hay nơi các linh mục lớn tuổi, người ta vẫn dùng những cụm từ thân thuộc như: “suy gẫm”, “dọn gẫm”, “gẫm lễ”, “gẫm nguyện”. Dường như chữ ấy chưa bao giờ thật sự rời khỏi đời sống đạo của người Việt Nam. Nó chỉ chọn cách đứng nép mình lại, lặng lẽ và trầm tư hơn trước mà thôi.
Viết về chữ “gẫm”, tôi nhiều lần nhớ đến hai câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Bính:
“Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.”
Tôi nghĩ “gẫm” cũng mang một thân phận gần như vậy. Nó không cao sang, đài các như “ngắm”. Nó không hiện đại, thời thượng như “suy niệm”. Nó mang một dáng vẻ quê mùa, mộc mạc. Nó thuộc về những bà mẹ ngồi bắt chí cho con dưới bóng cây đầu ngõ, thuộc về những buổi trưa hè nắng chát có tiếng võng kẽo kẹt đưa nôi, qua tiếng đọc kinh rì rầm dưới mái nhà quê, và qua vài câu khuyên răn đạo đức chen giữa đời sống thường ngày của Ba của Má. Nó không tỏa sáng rực rỡ, nhưng có những điều trong đời không cần tỏa sáng mà vẫn có thể sống rất sâu, rất lâu. Có những từ ngữ không sinh ra để được ngợi ca trên các diễn đàn, chúng chỉ âm thầm ở lại như bữa cơm đạm bạc, như khí trời để thở. “Gẫm” có lẽ là một từ như thế.
Và với riêng tôi, sau tất cả những hành trình tìm tòi về văn bản, ngữ âm hay lịch sử, điều còn ở lại sâu nhất và thiêng liêng nhất vẫn là: nghe một tiếng “gẫm”, tôi lại thấy như Má mình vẫn còn đâu đó trong đời, vẹn nguyên với tiếng vọng câu kinh của nỗi lòng người Mẹ: “Gươm sắc sẽ thâu qua lòng Bà, vì người ta sẽ phản nghịch cùng Con Bà”.
TỔNG KẾT
Từ một tiếng đọc kinh quen thuộc trong đời sống đạo bình dân miền Trung, chuyên luận này đã thử lần theo hành trình lịch sử, ngữ âm và tri nhận của chữ “gẫm” trong tiếng Việt Công giáo. Qua khảo sát các văn bản chữ Nôm, Việt sử diễn âm, các tác phẩm của Girolamo Maiorica, Từ điển Việt–Bồ–La của Alexandre de Rhodes và Nam Việt–Dương Hiệp Tự vị của Jean-Louis Taberd, có thể khẳng định chữ “gẫm” không phải là một biến âm địa phương giản đơn hay một cách nói “chệch chuẩn”. Trái lại, đây là một lớp từ cổ có lịch sử lâu dài, từng giữ vai trò ổn định trong việc diễn tả hành vi suy niệm và chiêm nghiệm nội tâm của người Việt. Chữ “gẫm” mang chiều sâu nghĩa lý của việc nghĩ đi nghĩ lại, suy xét bằng kinh nghiệm sống và đọc ra ý nghĩa sâu xa của biến cố trong mối liên hệ với chính bản thân mình.
Việc khảo sát ngữ âm và thực hành phụng vụ cho thấy sức sống của chữ “gẫm” gắn chặt với không gian văn hóa Đàng Trong, đặc biệt tại các cộng đoàn Công giáo miền Trung và miền Nam. Dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, chuyên luận bước đầu chỉ ra “gẫm” là một hình thức tri nhận nhập thân (embodied cognition). Đó là nơi người tín hữu không chỉ hiểu bằng lý trí, mà còn chạm chạm vào đức tin bằng cả thân thể, ký ức và cảm xúc sống. Chiều kích tri nhận ấy được hiện thực hóa một cách sống động qua những thanh âm nằng nặng của giọng kinh vùng miền, qua nhịp “dzỗ” rập ràng điều khiển cộng đoàn, và hơn hết, qua tiếng gẫm nguyện rầm rì trước giờ ngủ dưới những mái nhà quê. Chữ “gẫm” chính là nơi gặp gỡ giữa tiếng nói dân gian, ký ức cộng đoàn, lịch sử Quốc ngữ sơ khai và linh đạo Công giáo Việt Nam.
Đứng trước những chuyển biến của thời đại, việc nhìn lại hành trình của một từ ngữ tôn giáo không chỉ nhằm mục đích phục dựng một giá trị ngữ âm lịch sử. Sâu xa hơn, đó là sự nhận diện và trân trọng những di sản đạo đức bình dân – nơi đức tin đã bám rễ sâu vào lòng văn hóa đại chúng, hóa thành lời ăn tiếng nói và nếp sống tâm linh sống động của bao thế hệ tiền nhân. Để rồi, vượt lên trên những văn bản nằm yên trên trang giấy cổ, chữ “gẫm” vẫn sẽ sống hoài trong dòng chảy hiện đại, lặng lẽ nép mình bên những thế hệ lớn tuổi, và thiêng liêng ở lại như tiếng vọng câu kinh của những bà mẹ quê – những người đã “ngậm thuộc” lời Chúa bằng chính cuộc đời mình.
(Tháng Hoa – Đóa hoa lòng dâng kính Đức Mẹ và tưởng nhớ Má)
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Alexandre de Rhodes (1651), Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, Roma.
Alexandre de Rhodes (1653), Divers voyages et missions (Hành trình và truyền giáo), Paris.
Các bản kinh cổ Đàng Thánh Giá, Năm Dấu Thánh, Mục Lục Nhựt Khóa của các giáo phận miền Trung và miền Nam Việt Nam.
George Lakoff & Mark Johnson (1980), Metaphors We Live By, University of Chicago Press.
George Lakoff & Mark Johnson (1999), Philosophy in the Flesh: The Embodied Mind and Its Challenge to Western Thought, Basic Books.
Huình Tịnh Paulus Của (1895), Đại Nam Quấc âm tự vị, Sài Gòn.
Hội Khai Trí Tiến Đức (1931), Việt Nam Tự Điển, Hà Nội.
Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (1997), Việt sử diễn âm, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội (dựa trên bản ký hiệu AB.110, Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
Jean-Louis Taberd (1838), Dictionarium Annamitico-Latinum (Nam Việt–Dương Hiệp Tự Vị), Serampore.
Maurice Merleau-Ponty (1962), Phenomenology of Perception, Routledge & Kegan Paul.
Nguyễn Hưng (Lm.) (2000), Sơ thảo thư mục Hán Nôm Công giáo Việt Nam, lưu hành nội bộ.
Nguyễn Hưng (chủ biên), Các Thánh Truyện của Girolamo Maiorica, bản phiên âm lưu hành nội bộ.
Nguyễn Tài Cẩn (1995), Giáo trình Ngữ âm tiếng Việt lịch sử, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Nguyễn Tài Cẩn (1998), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trần Anh Dũng (Lm.) (2015), Thư mục ấn phẩm Công giáo Việt Nam (1651–2015), Paris.
Trương Đình Tín – Lê Quý Ngưu, Đại Tự Điển Chữ Nôm, tập 1, Nxb Thuận Hóa.
Vương Lộc (2002), Từ điển từ cổ Việt Nam, Nxb Đà Nẵng.
Tác giả: peternguyen
Những tin cũ hơn








“GẪM” XỨ NẪU: LỊCH SỬ MỘT BIẾN ÂM VÀ KÝ ỨC KINH NGUYỆN - NGUYỄN KIM BINH
“Thiên Chúa đã sai Chúa Con đến để thế gian nhờ Người mà được cứu độ”
Đức Lêô XIV nói với các giám mục: Hoa trái của Hội Thánh không nên dựa trên con số
Đức Lêô XIV: Các cộng đoàn Công giáo phải loan báo Tin Mừng cho giới trẻ giữa cảnh nghèo đói thiêng liêng
TRỰC TIẾP: Thánh lễ và Kiệu TÔN VINH THÁNH THỂ - Giáo hạt Nha Trang & Diên Khánh | 17g00 - 30.05