Lễ Mình Máu Thánh Chú Kitô C/ Tuần XII TN
HÃY NHẬN VÀ ĂN... ĐÂY LÀ TRÁI TIM TÔI
I.
Có hai phép lạ Thánh Thể, cách xa nhau về thời gian và không gian, vẫn truyền cảm hứng cho sự ngạc nhiên và ngưỡng mộ ngày nay - nhưng cũng có những thắc mắc. Phép lạ đầu tiên là phép lạ Lanciano (Italia), xảy ra vào thế kỷ thứ 8, trong Thánh lễ do một linh mục cử hành, người đã nghi ngờ sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể. Và chính xác là khi ngài đang đọc lời truyền phép, bánh thánh đã biến thành thịt sống và rượu thành máu. Một sự kiện phi thường đã làm rung động trái tim của ngài và trái tim của những người có mặt.
Tuy nhiên, nếu chúng ta suy nghĩ kỹ về điều đó, những gì đã xảy ra không phải là một công trạng, mà là một phản ứng trước sự thiếu đức tin. Vị linh mục đó đã không tin. Và có lẽ, ngay cả với ngài, Chúa Giêsu đã nói trong lòng những gì Người đã nói với Tôma: ‘Vì con đã thấy, nên con đã tin. Phúc cho những ai không thấy mà tin’. Do đó, phép lạ này không phải là một phần thưởng, mà là một lời nhắc nhở. Như thể muốn nói rằng: ‘Nếu con cần bằng chứng, thì đó là vì con vẫn chưa tin đủ’.
Nhiều thế kỷ sau, vào năm 1996, một điều tương tự đã xảy ra ở Buenos Aires (Argentina), nơi một bánh thánh bị bỏ quên trong tủ kính đã biến thành thịt một cách bí ẩn. Được phân tích trong phòng thí nghiệm bởi các chuyên gia không biết nguồn gốc của mẫu vật, hóa ra đó là mô cơ tim, từ một người đang trong tình trạng căng thẳng cấp tính, như thể đang đau đớn tột cùng. Một lần nữa, chúng ta không phải đối mặt với bằng chứng khoa học trong sách giáo khoa. Các học giả khác đã nêu ra những nghi ngờ về quy trình được áp dụng trong việc phân tích các mẫu vật. Nhưng có lẽ, thật tốt khi những nghi ngờ vẫn còn. Bởi vì nếu mọi thứ đều rõ ràng, hiển nhiên, có thể chứng minh được, thì đức tin sẽ không còn chỗ đứng nữa. Đức tin không được nuôi dưỡng do bằng chứng, mà bằng sự tin tưởng. Những phép lạ Thánh Thể này không nhằm mục đích thỏa mãn sự tò mò khoa học, mà là để hồi sinh đức tin, đức tin nảy sinh từ sự huyền bí và được nuôi dưỡng bằng các dấu chỉ, chứ không phải bằng những điều chắc chắn.
II.
Trong Phúc âm của Chúa Nhật hôm nay, Lễ trọng Mình và Máu Chúa Kitô, một đám đông lớn, mệt mỏi và đói khát đi theo Chúa Giêsu. Và các tông đồ, đối mặt với cơn đói cụ thể và dai dẳng này, đã nói với Chúa Giêsu: ‘Xin Thầy giải tán đám đông, để họ có thể đi tìm thứ gì đó để ăn nơi các làng lân cận’. Một cách để phủi tay cách lịch sự, như thể muốn nói: ‘Hãy để họ tự giải quyết. Đó không phải là vấn đề của chúng ta’. Chúng ta cũng thường tìm thấy hàng ngàn lý do tự biện minh cho việc không hành động, không chăm sóc người khác. Nhưng Chúa Giêsu không đuổi bất kỳ ai đi, thay vào đó, Người tăng gấp đôi liều lượng: ‘Các người hãy cho họ thứ gì đó để ăn’. Ngài không giới hạn mình chỉ làm phép lạ một mình, nhưng liên quan đến các môn đồ, kêu gọi mỗi người tự chịu trách nhiệm: ngay cả khi bạn có ít - chỉ năm chiếc bánh và hai con cá - hãy dâng phần ít ỏi đó. Đó là nơi mà phép lạ thực sự được phát sinh. Chúa Giêsu có thể làm cho bánh xuất hiện từ hư không. Thay vào đó, Ngài đã chọn bắt đầu từ những gì ít ỏi mà con người có: Ngài đã phân phát những chiếc bánh cho các tông đồ, Ngài đã bảo họ thu thập những miếng thừa. Ngài đã chọn việc cần chúng ta, ngay cả ngày nay.
Và cuối cùng, chúng ta hãy trở lại với trái tim - theo đúng nghĩa của từ này. Điều đáng chú ý nhất, trong các phân tích khoa học về phép lạ Thánh Thể, không chỉ liên quan đến mô chung của con người, mà như đã đề cập, nó liên quan cụ thể đến cơ tim, cơ tim và thậm chí đáng ngạc nhiên hơn, một trái tim vẫn còn sống, một trái tim bị thương, một trái tim đang đau đớn. Tiến sĩ Frederick Zugibe, một nhà nghiên cứu pháp y tại Đại học Columbia, đã phân tích mẫu xét nghiệm Buenos Aires và phát hiện ra rằng đó là mô cơ tim của một người còn sống, trong trạng thái căng thẳng cực độ, như thể đang bị tra tấn hoặc sắp chết. Một trái tim đang đau khổ. Đây là điều phi thường khiến chúng ta không nói nên lời: trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta nhận được trái tim của Chúa Kitô đau khổ, chứ không phải trái tim của Chúa Kitô Phục sinh trong vinh quang. Chúng ta nhận được một trái tim vẫn đang hy sinh, vẫn đập, vẫn chảy máu vì tình yêu. Bí tích Thánh Thể không phải là lễ kỷ niệm ký ức về quá khứ, mà là sự hiện diện sống động của sự hy sinh của Chúa Kitô, người vẫn tiếp tục hiến dâng chính mình cho thế giới, ngay cả ngày hôm nay, ngay cả bây giờ, trên bàn thờ này. Nếu bạn nghĩ về điều đó, bạn sẽ rùng mình.
Vì vậy, hôm nay, khi bạn đến để nhận Bí tích Thánh Thể, hãy nhớ rằng bạn đang nhận được điều gì: không phải một miếng bánh, một biểu tượng, một cử chỉ phụng vụ, mà là trái tim sống động của Chúa Giêsu, vẫn đập và yêu thương nhân loại, yêu thương bạn. Hãy để trái tim bạn bắt đầu đập theo nhịp đập của trái tim Chúa Giêsu, cho đến khi trái tim bạn cũng trở thành trái tim Thánh Thể, có thể trao ban chính mình cho người khác. Bởi vì chỉ những ai yêu bằng trái tim đập cùng nhịp với trái tim Chúa Giêsu, mới thực sự yêu.
+++
Hôm nay chúng ta mừng lễ trọng kính Mình và Máu Chúa Giêsu. Khi suy niệm về điều này, chúng ta muốn nắm bắt hai khía cạnh.
Bước đầu tiên là nuôi dưỡng bản thân bằng Chúa Giêsu. Khía cạnh này có điều gì đó tuyệt vời cao cả muốn nói với chúng ta: Chúa Giêsu không đến để xin chúng ta điều gì đó, nhưng Người biến mình thành một món quà, Người hiến mình đến mức trao Mình Người làm của ăn và Máu Người làm thức uống. Người biến mình thành của ăn để chúng ta có thể thỏa mãn cơn đói khát vĩnh cửu. Người đổ máu để tha thứ tội lỗi cho chúng ta. Chúa Giêsu sinh ra tại Bethlehem , có nghĩa là ‘thành phố bánh mì’, và được đặt trong máng cỏ vì Người phải được ăn. Chúa Kitô làm điều này với chúng ta; Người hoàn toàn sẵn sàng để chúng ta tùy ý sử dụng để Người trở thành một phần trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta, bất chấp tất cả các Thánh lễ mà chúng ta đã tham dự, vẫn đấu tranh để tin vào một Thiên Chúa dễ tiếp cận như vậy. Tuy nhiên, khi chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể, điều này được tuyên bố: hãy ăn Mình Ta, hãy uống Máu Ta... Tuy nhiên, chúng ta đấu tranh để chấp nhận tình yêu tự do này, chúng ta muốn được ổn như vậy. Có những người không đến với Bí tích Thánh Thể vì họ cảm thấy không xứng đáng, nhưng nếu một mặt, ý nghĩ này là một nhận thức đẹp đẽ, mặt khác, nó nói lên sự bất lực trong việc chấp nhận một món quà. Khi nào chúng ta mới xứng đáng để đón nhận Chúa của mình? Chúng ta không nói trong Thánh lễ, trước khi đến với Bí tích Thánh Thể: ‘Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ lành mạnh’ sao? Chúa Giêsu trao ban chính mình cho chúng ta như bánh; bánh là một biểu tượng rõ ràng, đó là nguồn dinh dưỡng cơ bản gắn liền với sự sống còn. Chúng ta có thể sống thiếu nhiều thứ nhưng không thể thiếu Chúa Giêsu. Sự hiện diện của Người trong cuộc sống của chúng ta, Mình Người, Máu Người không phải là tùy chọn, nhưng là cần thiết để có được sự sống vĩnh cửu! Nếu Người hiện diện, sự dịu dàng của Người, sự quan phòng của Người thì mọi sự đều tốt đẹp. Điều này được thấy ở nhiều Kitô hữu sống thanh thản mà không lo lắng về nhiều thứ, và điều này không có nghĩa là họ không gặp vấn đề, nhưng một nỗi thống khổ dâng lên Chúa Giêsu trong Thánh lễ trở thành câu chuyện về sự cứu rỗi của chúng ta. Một nỗi thống khổ dâng lên Người, Người làm cho nó trở nên quan trọng, nó trở thành ngai tòa của Thiên Chúa.
Khía cạnh thứ hai mà chúng ta rút ra từ Tin Mừng hôm nay là trở thành thức ăn cho người khác... Đám đông đi theo Chúa Giêsu, nhưng khi chiều đến, các môn đệ mời Người giải tán họ. Tất cả những người này được coi là một vấn đề cần phải đối mặt: cơn đói của người khác khiến chúng ta rơi vào khủng hoảng. Chúng ta thường chạy trốn khỏi những vấn đề của mọi người vì chúng gây bất tiện cho chúng ta, vì chúng đòi hỏi sự phản hồi của chúng ta và chúng ta không có hoặc không muốn cho chúng, chúng ta muốn giao phó trách nhiệm này cho người khác. Nhưng Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta giải pháp: Người không giải quyết mọi việc trực tiếp mà gián tiếp: Người muốn sử dụng chúng ta! Chúng ta có thể tìm kiếm cái cớ rằng chúng ta không có đủ cho mọi người, nhưng Chúa Giêsu không yêu cầu chúng ta những gì chúng ta không có mà là những gì chúng ta có. Vấn đề không phải là có đủ để nuôi đám đông mà là cho đi những gì chúng ta có, tin tưởng vào Chúa Giêsu. Chính Người là Đấng nhân lên những gì ít ỏi của chúng ta; nhưng chúng ta có sẵn lòng cho đi những gì ít ỏi của mình để nuôi dưỡng cơn đói của biết bao người không?
Đây là những gì Đức Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận, người đã trải qua chín năm trong phòng giam biệt lập, đã nói về việc cử hành Thánh Thể. ‘Khi tôi bị bắt, tôi phải rời đi ngay lập tức, tay không. Ngày hôm sau, tôi được phép viết thư cho gia đình để xin những thứ cần thiết nhất: quần áo, kem đánh răng... Tôi viết: ‘Xin gửi cho tôi một ít rượu, như thuốc chữa đau bụng’. Các tín hữu hiểu ngay. Họ gửi cho tôi một chai rượu nhỏ để làm lễ, dán nhãn là ‘thuốc chữa đau bụng’, và một số bánh thánh giấu trong lọ chống ẩm. [...] Tôi sẽ không bao giờ có thể diễn tả được niềm vui lớn lao của mình: mỗi ngày, với ba giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay, tôi cử hành thánh lễ. Đây là bàn thờ của tôi và đây là nhà thờ chính tòa của tôi! [...] Mỗi lần tôi có cơ hội giơ tay ra và đóng đinh mình vào thập giá với Chúa Giêsu, để uống chén đắng nhất với Người. [...] Đó là những Thánh lễ đẹp nhất trong cuộc đời tôi’.
+++
Chúa Nhật XII TN /B
Trong đoạn tin mừng này, mọi biến cố đều nhằm diễn tả tình trạng của nhân loại trong diễn tiến từ từ của lịch sử và mọi sự đều nhằm mục đích loan báo kế hoạch thần linh mà Con Thiên Chúa muốn thực hiện. Màn đêm buông xuống: đêm của sợ hãi và nghi ngờ; sự kết thúc của ban ngày và của những điều chắc chắn phù du chóng qua. Chúa Giêsu mời gọi Giáo Hội của Người hãy ra khơi và ‘vượt qua’ bờ bên kia. Đó là một lời mời gọi Vượt Qua, là một ‘lối đi’: vượt Biển Đỏ dành cho dân được chọn, được giải phóng khỏi ách nô lệ và dẫn đưa đến tự do; hành trình vượt qua cái chết đến Con Người được giải thoát khỏi tội lỗi và dẫn đến vinh quang. Phía bên kia là bến bờ của Thiên Chúa, bến bờ mà ta không nhìn thấy được nhưng Chúa Giêsu chỉ cho ta lối đi (Ga 14:4). Chiếc thuyền vượt biển hồ với các môn đệ và Chúa Giêsu là Giáo Hội. Giống như con tàu của Nô-ê, nó được xây dựng đặc biệt để ‘đi qua’. Nhưng một cơn bão nổ ra. Các thế lực của cái ác được tung ra chống lại Giáo hội. Chiếc thuyền đầy nước, ở đây là biểu tượng của sự chết: nước lấy đi hơi thở là sự sống của con người. Cái ác chiến đấu chống lại Thần Khí.
Và Chúa Giêsu đang ngủ. Sự vắng mặt của Chúa Giêsu đè nặng lên tâm hồn của các kẻ tin: không nhìn thấy Chúa Giêsu, họ sợ hãi và thậm chí nghĩ rằng họ sẽ không bao giờ có thể thành công để vượt qua và phải chi họ đã chẳng bao giờ phải ra khơi trong chiếc thuyền đó. Nhưng lời cầu nguyện kiên định của các kẻ tin, gọi Ngài, đã được Chúa Giêsu lắng nghe. Ngài tỉnh giấc. Ngài ở đó, như Ngài đã hứa (Mt 28:20). Chúa Giêsu cứu thoát Giáo Hội của Ngài khỏi tất cả những cơn bão đang đe dọa nhấn chìm Giáo Hội. Chúa Giêsu không quở trách họ tại sao không đánh thức Ngài ngay lập tức, nhưng thay vào đó chỉ cho họ thấy rằng họ thiếu đức tin.
Chúng ta phải cầu nguyện với Ngài, và cầu nguyện với Ngài bằng đức tin. Nỗi sợ chết, vốn là điều tiêu cực, sau đó đã được thay bằng sự kính sợ Thiên Chúa, đó là sự vâng phục của các kẻ tin đối với Đấng Cứu Độ của họ. Đây là tình trạng của chúng ta: sự yếu đuối của con thuyền đời mỗi người chúng ta kéo xuống cho ta sức mạnh từ sự hiện diện của Chúa Kitô: Người giúp chúng ta vượt qua.
Lạy Chúa, xin gia tăng đức tin của chúng con
Bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay là bài Tin Mừng về cơn bão được Đức Giêsu dẹp yên. Hãy nhanh chóng xem lại những gì đã xảy ra. Thánh Marcô viết “ khi trời tối ”, Chúa Giêsu xuống thuyền và nói với các tông đồ: “ Chúng ta hãy qua bờ bên kia ”. Tác giả Tin Mừng lưu ý rằng khi Chúa Giêsu ở trên thuyền với các tông đồ “ Ngài ngồi ở đuôi thuyền, bó gối mà ngủ ”. Trong lúc đó, một cơn bão lớn nổi lên nước ập vào thuyền, nhiều đến mức đầy thuyền (Hồ Galilê là một hồ nhỏ, nhưng nổi tiếng với những cơn bão bất ngờ ập đến do cấu hình địa lý đặc biệt của khu vực xung quanh núi). Vô cùng lo lắng, các tông đồ đánh thức Chúa Giêsu dậy và kêu lên: « Thưa Thầy, chúng ta sắp chết mà Thầy không quan tâm sao? ». Khi thức dậy, Chúa Giêsu ra lệnh cho biển yên lặng: « Hãy im đi, hãy lặng đi! ». Gió ngừng thổi và chỉ còn sự yên tĩnh tuyệt vời. Rồi Người nói với họ: « Tại sao các con sợ? Các con vẫn chưa có đức tin ư? ».
Sự thiếu đức tin của các tông đồ bao gồm điều gì? Không hẳn là họ không tin vào quyền năng của Chúa Giêsu, mà là họ nghi ngờ tình yêu của Người. Họ đặt câu hỏi liệu Chúa Giêsu có thực sự quan tâm đến họ, mạng sống và sự an toàn của họ hay không. Họ đặt câu hỏi về khả năng hoặc sự sẵn lòng của Chúa Kitô trong việc chăm sóc những người được giao phó cho Ngài, lòng vị tha, sự quan tâm của Người đối với người khác.
Nào, bây giờ chúng ta hãy cố gắng nắm bắt thông điệp chứa đựng trong trang Tin Mừng này. Việc vượt qua Biển hồ Galilê biểu thị sự vượt qua của đời sống. Biển là gia đình tôi, cộng đồng tôi, trái tim tôi. Những vùng biển nhỏ nhưng có thể gây ra những cơn bão lớn và bất ngờ. Ai lại chưa từng trải qua những cơn bão trong cuộc đời, khi mọi thứ trở nên tối tăm và con thuyền nhỏ của cuộc đời chúng ta bắt đầu bị rò rỉ tứ phía, trong khi Chúa dường như vắng mặt hoặc đang ngủ? Một phản hồi đáng báo động từ bác sĩ, và chúng ta đang ở giữa một cơn bão. Một đứa con trai đi vào con đường xấu, khiến người ta phải xầm xì về nó, chính là cha mẹ đang trong cơn bão táp. Thất bại về tài chính, mất việc làm, thất bại trong tình yêu nam/nữ, vợ/chồng, và chúng ta đang ở giữa cơn bão. Phải làm gì đây? Chúng ta nên bám vào cái gì và thả neo ở đâu? Chúa Giêsu không ban cho chúng ta một công thức kỳ diệu để tránh mọi giông bão trong cuộc đời. Người không hứa sẽ cất khỏi chúng ta mọi khó khăn; thay vào đó Ngài hứa ban cho chúng ta sức mạnh để vượt qua giông bão, nếu chúng ta biết thưa lên với Ngài.
Thánh Phaolô kể cho chúng ta về một vấn đề nghiêm trọng mà ngài phải đối mặt trong cuộc đời và vấn đề mà ngài gọi là “cái dằm đâm vào xác thịt” (x. 2 Cr 12.7). Ngài nói: “Ba lần” (nghĩa là vô số lần), “tôi đã cầu xin Chúa đem nó xa khỏi tôi” (x. 2Cr 12,8) và cuối cùng Chúa đã trả lời tôi. Chúa đã trả lời ông điều gì? Thánh Phaolô viết rằng Chúa đã nói với tôi: Ơn của Thầy đã đủ cho con rồi; vì sức mạnh được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối' (x. 2 Cr 12:9).
Kể từ ngày đó, thánh Tông đồ viết: “Tôi hân hoan khoe mình về những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Chúa Kitô ngự trong tôi. Vì thế, tôi cảm thấy vui khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, gặp khó khăn, bắt bớ, đau khổ vì Chúa Kitô: thực vậy, khi tôi yếu đuối, chính là lúc tôi mạnh mẽ” (x. 2 Cr 12,9 -10).
Vì vậy, sứ điệp của Tin Mừng là hãy tin tưởng vào Thiên Chúa, ngay cả khi Thiên Chúa dường như vắng mặt, dường như ở rất xa, nhưng thực tế, Ngài luôn ở bên chúng ta. Vì vậy, trong những lúc đen tối, trong những giông bão của cuộc đời, chúng ta đừng quay về với Chúa với giọng điệu buộc tội Ngài, nhưng hãy cầu xin Người gia tăng đức tin của chúng ta.
Điều đã cứu các môn đệ khỏi vụ đắm thuyền là việc “họ đã đưa Chúa Giêsu lên thuyền” trước khi bắt đầu cuộc vượt biển. Và đây cũng chính là sự đảm bảo tốt nhất cho chúng ta trước những giông bão của cuộc đời. Có Chúa Giêsu ở với chúng ta. Cách thức để giữ Chúa Giêsu ở trong con thuyền nhỏ của cuộc đời và gia đình mình là đức tin, lời cầu nguyện và việc tuân giữ các giới răn. Mọi người đều có những thử thách: nhưng trong những thử thách chúng ta nhận ra ai là người tin vào Thiên Chúa; và trong thử thách chúng ta cũng nhận ra ai là người tự lừa dối mình để tin vào Thiên Chúa. Những năm tháng sống trần thế là thời gian kiểm chứng cho mọi người!
Ngày xưa, khi bão nổi lên trên biển, các thủy thủ thường tạt dầu vào sóng để làm sóng yên. Chúng ta cũng hãy đổ dầu niềm tin phó thác nơi Thiên Chúa vào những làn sóng sợ hãi và đau khổ. Thánh Phêrô đã khuyến khích những Kitô hữu đầu tiên hãy tin tưởng vào Thiên Chúa khi đối mặt với sự bách hại, khi nói rằng: “Hãy trao mọi lo lắng cho Người, vì Người quan tâm đến chúng ta”. (x. 1Pr 5,7). Vâng, Chúa “quan tâm” đến chúng ta, Ngài “quan tâm” đến chúng ta bằng cách riêng của Ngài!
Cùng nhau kết thúc suy tư này bằng một giai thoại mà nhiều người ưa thích. Một người đàn ông có một giấc mơ. Anh nhìn thấy hai cặp dấu chân in trên cát và hiểu rằng một cặp là dấu chân của anh và đôi kia là dấu chân của Chúa Giêsu đang đi bên cạnh anh. Đến một thời điểm nhất định, cặp dấu chân thứ hai biến mất và anh hiểu rằng điều này xảy ra chính xác vào thời điểm mà anh gặp khó khăn trong cuộc đời. Sau đó, anh ta phàn nàn với Chúa, Đấng đã bỏ anh ta một mình trong lúc thử thách: “Nhưng Ngài ở đâu khi con cần Ngài?”. -“Nhưng Ta đã ở với con mà!” - “Làm sao Chúa ở với con được, nếu trên cát chỉ có dấu hai bàn chân của con?”. -“Chúng là của Ta!”, Chúa Giêsu trả lời “Trong những giây phút đó, Ta đã vác con trên vai!”.
Và vì vậy, chúng ta hãy luôn nhớ rằng Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta và sẽ không bao giờ để chúng ta cô đơn bởi vì Ngài, Đấng Tình Yêu vô biên, luôn dõi theo con đường của chúng ta cho đến khi kết thúc cuộc hành trình trần thế. Vì thế chúng ta hãy cầu xin Chúa gia tăng đức tin của chúng ta mỗi ngày.
[Maranatha dịch DẤU CHÂN TRÊN CÁT Du An]
PHẦN II: (Mẩu chuyện rất ít người biết)
Tiếp tục giấc mơ và bạn thấy Chúa Giêsu vẫn cùng với bạn bước đi. Trên một đoạn đường dài, dấu chân Chúa đi rất thẳng hàng, vững chải và hầu như không thay nhịp bước. Nhưng dấu chân của bạn lại xiêu vẹo, nghiêng qua, ngả lại, lúc xuôi, lúc ngược, đi tới, đi lui.
Trên một đoạn đường dài, bước đi của bạn như thế đó; nhưng dần dần, dấu chân bạn thẳng hàng hơn và như song hành với dấu chân của Chúa. Bạn và Chúa cùng bước đi bên nhau như đôi bạn thân tình. Và rồi một điều tuyệt diệu xảy ra: Dấu chân của bạn từng để vết lại trên cát bên cạnh dấu chân của Chúa, thì giờ đây dấu chân nhỏ nhắn của bạn nằm gọn trong dấu chân của Ngài.
Đi như thế được vài dặm, rồi dần dần bạn để ý một sự thay đổi nữa. Những dấu chân nhỏ trong dấu chân lớn có vẻ như lớn dần ra. Đến một lúc nào…chúng trùng khớp với nhau…và chỉ còn có một dấu chân thôi. Đi như thế được một khoảng thời gian, bỗng dấu chân thứ hai xuất hiện trở lại; và lần này thì còn tệ hơn trước nữa. Dấu chân của bạn lại xiêu vẹo ngã nghiêng lên cát. Vết sâu, vết cạn, lúc tới, lúc lui. Những dấu chân rối rắm quay cuồng. Và dấu chân Chúa cũng lệch lạc loay hoay. Bạn ngạc nhiên và hốt hoảng, và bạn giật mình thức giấc.
Giờ đây bạn cầu nguyện: “Lạy Chúa, con hiểu vì sao những bước chân của con lại xiêu vẹo trong những ngày đầu. Lúc bấy giờ, con còn nhỏ dại trong đức tin; con đang học đi với những bước đi tập tễnh vụng về xiêu vẹo. Chúa đã đi vào vùng bão tố và dạy con bước đi theo Ngài.”-“Phải rồi”
“… Khi dấu chân nhỏ của con nằm trong dấu chân lớn của Chúa, ấy là lúc con đang học bước đúng theo bước chân của Chúa; con đã theo Chúa thật gần.”-“Khá lắm. Đến đây thì con đã hiểu rồi!”
-“… Khi dấu chân nhỏ lớn dần và trở nên trùng khớp với dấu chân Chúa, con nghĩ rằng ấy là lúc con trở nên giống Chúa mỗi ngày.”-“Đúng vậy!”
-“Thế nhưng, Chúa ơi, sau đó là một sự sa sút hay sao vậy? Những dấu chân lại tách rời nhau và còn tệ hơn lúc khởi đầu nữa?”
Chúa im lặng một lúc rồi mỉm cười âu yếm: “Con không biết sao? Đấy là lúc chúng ta đang cùng nhau nhảy múa ấy mà!”
Thứ hai Tuần XII Tn
Năm Lẻ
Bài đọc I hôm nay khởi đầu chuyện kể về Ápraham, gương mẫu hành trình đức tin cho mọi tín hữu.
Những lời đầu tiên Thiên Chúa ngỏ với ông khi Người chọn ông, cho ta thấy một tình yêu gây không ít hoang mang: ‘Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi’. Để đi đến đâu? ‘Tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi’. Tất cả đều mơ hồ, chỉ có một ánh sáng duy nhất tuyệt vời là lời hứa: ‘Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi’. Ápraham vâng lệnh Chúa, không bàn cãi gì cả: ‘Ông Ápraham ra đi như Đức Chúa đã phán với ông’.
Ápraham cùng với gia nhân mình đến đất Canaan như khách lạ, nhưng tại đây khởi đầu phác họa chương trình của Thiên Chúa: ‘Ta sẽ ban đất này cho dòng dõi ông’. Ápraham chết đi, các thế hệ con cháu kế tiếp ông sẽ có sự sống. Và ông đi từ nơi này đến nơi khác: ‘Ông cắm lều…ông dựng một bàn thờ để kính Đức Chúa…rồi ông nhổ lều’…đó là những điệp ngữ được lập đi lập lại. Chỉ cần mối tương quan tốt đẹp giữa ông với Chúa và luôn làm theo ý Chúa.
Như thế Thiên Chúa dạy dỗ Ápraham cũng như mọi tín hữu biết thực hiện những từ bỏ, có thể rất khó chịu, nhưng thực tế lại là một sự giải thoát. Cần phải chọn lựa: hoặc để cho lòng ích kỷ chiếm hữu vì muốn sở hữu hoặc trở thành người biết cho đi. Ápraham đã trao ban chính mình như quà tặng vô điều kiện, không cần biết điều gi sẽ xảy ra cho ông. Đó là đức tin: mở lòng, chấp nhận bước đi trong đêm tối cách dứt khoát, gặp gỡ với một đấng mà ta tín thác, bằng lòng cho ngài tất cả những gì ngài yêu cầu, yêu mến ngài, đặt ngài làm niềm vui và tình yêu của ta, trong một tương quan cá biệt mà Chúa muốn luôn thực hiện cách tốt đẹp hơn nữa. Những điều còn lại là thứ yếu. Các thánh dạy: thánh ý Chúa là thiên đàng của tôi.
‘Hãy đi’…Đó là lời mà Thiên Chúa không nói với ta một lần thay cho tất cả, bởi lẽ luôn luôn sự tự do của ta cần phải được giải thoát. Hãy chấp nhận lời đó với sự từ bỏ tín thác trong lòng và trong cuộc sống.
+++
Năm Chẵn
Vu khống…nói xấu…Có ai mà không đau khổ vì nó? Nhưng có ai, với tất cả lương tâm, có thể khẳng định rằng mình không bao giờ dùng đến nó?
Vua Đavít sợ phạm tội vì miệng lưỡi lắm nên đã cầu xin Chúa ‘đặt một người lính canh nơi miệng lưỡi’. Và trong sự khôn ngoan của Thiên Chúa, Ngài đã đặt lưỡi của ta vào trong một loại hàng rào là cái miệng của ta.
Nhưng cái lưỡi như thế vẫn có thể chạy thoát để phun nọc độc, mà tác giả thánh vịnh nói, để có thể chế ngự nó, phải xin sự trợ giúp của Thiên Chúa.
Nhân danh sự công chính và đức ái, ta tin rằng mình có quyền xét đoán, vu khống hoặc nói xấu chăng? Cho rằng ta hoàn hảo (là điều ít khi xảy ra trên trần gian này), ta cần biết rằng sự hoàn hảo bao gồm đức khiêm tốn, nghĩa là lòng khoan dung, sự tha thứ, lời cầu nguyện để nâng đỡ tội nhân (ta cũng thuộc thành phần này), sự trợ giúp thiêng liêng, và những lời khuyên nhủ bác ái.
Thánh Giacôbê đã không sợ khi quả quyết rằng một người không phạm tội vì cái lưỡi là một vị thánh. Còn thánh Phaolô: ‘Bạn là ai mà dám xét đoán anh em mình? Tất cả chúng ta đều phải ra trước tòa án của Đức Kitô’.
Một câu châm ngôn dân Liban: ‘Ai có ngôi nhà bằng kính phải tránh ném đá kẻ khác’. Một thi sĩ Árập nói: ‘Lưỡi của bạn chẳng nói gì về sự bất toàn của người khác. Bạn đầy những bất toàn, và những người khác cũng đều có lưỡi’. Có lẽ chính vì chiếc lưỡi hoạt động chỉ để ‘tất cả mọi sự được nâng lên cao’ mà chiếc lưỡi của thánh Antôn Pađôva vẫn còn giữ nguyên vẹn?
Sự xét đoán duy nhất nghiêm khắc mà ta có bổn phận phải thực hiện là cho chính chúng ta.
Ôi, nếu chúng ta có thể xét đoán kẻ khác cùng với lòng khoan dung mà ta thực hiện cho chính mình, thì thiên đàng đã hiện diện trên mặt đất này rồi!
Thứ ba Tuần XII Tn
Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả
Đoạn tin mừng hôm nay là một phần của những tường thuật về thời thơ ấu của Đức Giêsu. Cách đặc biệt, đoạn này theo sau cảnh Mẹ Maria thăm viếng ‘nhà ông Zacaria’ (Lc 1,40 ), sau biến cố truyền tin của sứ thần, sứ giả cuộc tạo dựng mới. Việc loan báo mở đầu trong hân hoan việc Thiên Chúa hoàn tất những lời Ngài hứa với dân Người (Lc 1,26-38 ). Niềm vui của thời đại mới, ngập tràn lòng Mẹ Maria, và giờ đây cả tâm hồn bà Elisabét nữa. Bà vui vì lời Mẹ Maria loan báo (Lc 1,41). Mẹ Maria ngợi khen Thiên Chúa (Lc 1,46) vì Người đã làm những điều kỳ diệu nơi Mẹ, cũng như đã thực hiện những việc lạ lùng cho dân tộc của Ngài đang cần ơn cứu độ.
Thành ngữ ‘khi thời gian đã mãn’ không chỉ đánh động bà Elisabét đang mang thai mà còn mạc khải một điều mới lạ trong chương trình của Thiên Chúa. Nên Thánh Phaolô nói rằng ‘khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới lề luật, để chuộc những ai sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử (Gal 4,4).
Trong tin mừng Đức Giêsu cũng nói về thời gian viên mãn, đặc biệt trong tin mừng Gioan. Hai thời điểm được nhắc đến: tiệc cưới Cana (Ga 2,1-12) và trong cơn hấp hối trên thập giá, Đức Giêsu đã kêu lên: ‘Mọi sự đã hoàn tất’ (Ga 19,30 ). Trong việc hoàn tất thời gian Đức Giêsu mở đầu một thời đại cứu độ. Việc sinh hạ Gioan Tẩy Giả khởi đầu thời gian cứu độ. Gioan đã nhảy mừng trong lòng mẹ là bà Elisabét khi Đấng Cứu Thế đến với mình (Lc 1,44). Sau này ông đã tự ví mình như bạn hữu của tân lang (Giêsu) vui mừng vì tiệc cưới với tân nương là Giáo Hội (Ga 3,29).
Đứa con trai không được gọi bằng tên của Cha mình mà lại gọi là Gioan. Zacaria nhắc chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa không quên dân Ngài. Tên của Gioan có nghĩa là ‘Thiên Chúa nhớ đến’. Con của Ngài bây giờ không thể còn gọi là ‘Thiên Chúa nhớ đến’ nữa, vì những lời hứa của Thiên Chúa đã được hoàn tất. Sứ vụ tiên tri của Gioan nêu lên lòng thương xót của Thiên Chúa. Nó được gọi là Johanan nghĩa là ‘Thiên Chúa thương xót’. Lòng thương xót Chúa biểu hiện trong cuộc viếng thăm dân Người, ‘như đã hứa qua miệng các ngôn sứ từ ngàn xưa’ (Lc 1,67-70). Tên gọi nêu rõ căn tính và sứ vụ của trẻ sơ sinh. Zacaria viết tên con ông trên tấm bảng nhỏ để mọi người đều có thể nhìn thấy với lòng kinh ngạc (Lc 1,63 ). Tấm bảng ấy làm vọng lại việc Philatô truyền viết tấm bảng treo trên thập giá. Những chữ viết này nói lên căn tính và sứ vụ của Đấng bị đóng đinh: ‘Giêsu Nagiarét, Vua dân do thái’ (Ga 19,19). Việc viết tấm bảng này cũng gây kinh ngạc cho những người đến Giêrusalem dự lễ.
Gioan là vị tiền hô của Đức Kitô. Ngay khi sinh, thời thơ ấu, Ngài đã chỉ cho biết Đức Kitô: ‘Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây?’ Ngài là ‘tiếng kêu trong sa mạc’ (Ga 1,23 ). Thôi thúc mọi người dọn đường cho Chúa đến. Ngài ‘không phải là Đấng Cứu Thế’ (Ga 1,20 ), nhưng ngài chỉ cho biết qua việc rao giảng và nhất là qua cung cách sống nhiệm nhặt trong hoang địa. Ngài ‘càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh’. ‘Sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Israel’ (Lc 1,80 ).
+++
Năm Lẻ
Đối với người tín hữu biết để cho đức tin hướng dẫn, sự từ bỏ là một tự do tinh thần lớn lao biết dường nào. Theo lẽ thường, những người giàu có lo lắng làm sao để gìn giữ và làm tăng thêm sự giàu sang của họ; ngược lại, Ápraham quan tâm đến kẻ khác hơn là chính mình. Ông muốn tránh xung đột xảy ra giữa ông và Lót và với sự tự do tinh thần lớn lao ông đã thực hiện bước trước luật vàng mà Đức Giêsu dạy: ‘Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính mình cũng hãy làm cho người ta’. Ông nói với cháu mình: ‘Sao cho đừng có chuyện tranh chấp giữa bác và cháu…vì chúng ta là họ hàng với nhau. Tất cả xứ chẳng ở trước mặt cháu đó sao? Cháu hãy xa bác đi! Nếu cháu đi về bên trái thì bác sẽ đi về bên phải; nếu cháu đi về bên phải thì bác sẽ đi về bên trái’. Cách tốt nhất: là để cho người khác chọn lựa. Nhưng thật khó khăn, vì chúng ta thấy ngay những quyền lợi và bổn phận của người khác.
Lót đã chọn thung lũng màu mỡ Giordanô và Ápraham còn lại phần đất đồi núi khô cằn.
Ta thấy ở đây một áp dụng trước văn tự huấn giáo của Đức Giêsu dạy trong đoạn tin mừng hôm nay: ‘Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong…; còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống’. Ngài chính là con đường, con đường hẹp qua cái chết đưa đến sự sống; Ngài chính là cửa hẹp của từ bỏ, mở ra cho hạnh phúc.
Và lịch sử minh chứng là Ápraham có lý: cửa rộng dẫn đưa đến Sôđôma và Gômôra, biểu trưng của sự hủy diệt; đất Canaan là đất hứa: ‘Đứng lên! Hãy đi ngang dọc khắp miền đất này, vì Ta sẽ ban nó cho ngươi và cho con cháu ngươi’.
Quả thật ta tìm thấy niềm vui trong việc cho đi hơn là lãnh nhận. (‘cho thì có phúc hơn là nhận’)
+++
Năm Chẵn
Vua Atsua lại sai sứ giả đến với vua Khitkigia, vua bảo họ: Các ngươi sẽ nói với Khítkigia, vua Giuđa thế này: Đừng để Thiên Chúa của ông là Đấng ông tin tưởng, lừa dối ông rằng: Giêrusalem sẽ không bị nộp vào tay vua Át sua…Khítkigia cầm lấy thư chính tay các sứ giả trao cho mà đọc, rồi lên Nhà Đức Chúa, mở thư ra trước nhan Đức Chúa. Vua cầu nguyện trước nha Đức Chúa…
Chuyện kể trong bài đọc thường là bằng chứng hùng hồn, cho thấy các trang sách Kinh Thánh làm chứng. Átsua đe dọa Giuđa, muốn bắt nó làm chư hầu. Để đạt mục đích ấy, địch thù bắt đầu cuộc hành quân bằng cách gửi một lá thư, với nội dung nhằm xói mòn niềm tin tưởng của dân Israel vào Đức Chúa, quyền lực của Ngài bị làm trò cười và xem chẳng ra gì.
Khítkigia, Vua Giuđa, phản ứng bằng cách mở thư ra trước nhan Đức Chúa và đặt mình hoàn toàn phó thác trong tay Ngài. Và địch thù buộc phải lui xa trước khi giao tranh.
Thành lũy đích thực của Thiên Chúa, trước khi xét như một dân tộc, là quả tim của mỗi người mà tên thù địch tìm cách vây hãm và đe dọa bằng cách làm giảm bớt lòng tin tưởng vào Thiên Chúa. Kẻ thù của ta biết rằng không thể làm được gì bao lâu mà con người còn bám chặt vào Thiên Chúa. Chỉ cậy dựa vào phương sách riêng của con người, cùng với việc loại trừ Thiên Chúa là chọc ra một lỗ thủng trong thành lũy. Tôi chính là người duy nhất phải quyết định đặt niềm tin tưởng vào ai: vào Thiên Chúa, vào chính mình hay vào một ngẫu tượng khác.
Trong phút hồi tâm hôm nay, đặt trước mặt tôi những nỗi sợ hãi của mình để trải chúng ra trước mặt Chúa là đấng mà tôi muốn tái khẳng định lòng tin tưởng hoàn toàn của mình.
Lạy Chúa, Chúa biết bao nhiều điều hối thúc trong lòng con. Ý thức tính mỏng giòn thường làm con run sợ trước những tình cảnh mà con không biết giải quyết thế nào. Nhưng Chúa luôn ở với con và con lao vào cánh tay Chúa với tất cả lòng tin tưởng và phó thác.
Đừng phàn nàn vì Thiên Chúa bỏ rơi ta trong cuộc đời! Thiên Chúa là đấng trung tín. Ngài không bỏ con bao giờ, Ngài đặt ngai của Ngài nơi lòng con. Nếu các cành cây che lấp ánh sáng mặt trời, không có nghĩa là mặt trời đã tắt. Hãy nhìn kỹ xem và con sẽ thấy mặt trời sẽ chiếu sáng lại vừa ngay khi các cành lá rung nhẹ.
+++
Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Môsê và lời các ngôn sứ là thế đó.
Tác giả thánh vịnh viết: ‘Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh, Luật Chúa thật quý giá, khiến người dại nên khôn’.
Những lời khẳng định trên cần thiết để hiểu Lời Chúa, nếu được sống hết lòng, thực hiện Lề Luật của Chúa và đồng thời thỏa mãn yêu sách ngàn đời của con người: nhìn tha nhân như sự nối dài của ta, nên cảm nhận những đòi hỏi của họ như là của mình. Hãy tự hỏi cách chân thành: tại sao lời Chúa hôm nay được gọi là ‘luật vàng’?
Nguyên do thật rõ ràng: Thiên Chúa dựng nên ta bằng tình yêu. Người là nguồn cội Tình Yêu. Thiên Chúa biết rằng mỗi người chúng ta (dù có ý thức hay không) đều cần yêu và được yêu. Chính vì ‘cái nhu cầu’ nền tảng đó của con người làm tăng thêm giá trị của Lề Luật: là tuyệt đối quan trọng. Lưu ý: cũng mang tính chữa trị cho người dấn thân thực thi lề luật. Nếu tôi sống mà để ý điều chỉnh cung cách sống của tôi đối với tha nhân giống như cung cách sống mà tôi muốn tha nhân có đối với tôi, sẽ là hòa bình, ánh sáng và hơi thở của sự sống đích thực và tốt đẹp, thoát khỏi mọi tinh thần vị luật, thói nệ hình thức. Như thế Lề luật Thiên Chúa nâng cao phẩm giá con người và giúp con người thực hiện một thực tại an bình và thiện hảo: cho mình và cho kẻ khác.
Lạy Chúa, thay vì lắng nghe những đòi hỏi của con dưới ánh đèn mờ của tính vị kỷ, xin làm cho con biết lắng nghe những đòi hỏi dưới ánh sáng của tin mừng Chúa, thúc đẩy con thực hiện điều thiện hảo bằng cách thực hiện chính điều thiện hảo ấy cho kẻ khác.
Tội tê hại nhất chống lại anh em mình không phải là ghen ghét, nhưng là dửng dưng: đó là cốt lõi của tính vô nhân. George Bernard Shaw
Thứ tư Tuần XII Tn
Người ta tính có khoảng ba ngàn giáo phái tại Hoa Kỳ và hai ngàn năm trăm tại Âu châu. Mỗi giáo phái tự cho mình độc quyền sở hữu sự thật, và do đó tìm cách thuyết phục bạn rằng ngoài giáo thuyết của họ, bạn đang mục nát trong sự sai lạc.
Thời gian qua có nhóm người theo phái Truyền Đạo trên hệ thống truyền hình Hoa Kỳ than phiền về sự giảm sút số lượng người xem, do một vài bài giảng của họ, hoặc do việc làm tai tiếng của họ. Mọi người đều nhớ James Jones, ở Guyana, bắt buộc chín trăm tín đồ của mình phải tự sát. Việc tẩy não không bao giờ làm biến đi được những mục tiêu trong đầu của ông.
Các thủ lãnh các giáo phái tự xem mình như được Thiên Chúa ủy thác một sứ mạng cứu độ đặc biệt. Họ xem mình là những người được tuyển chọn, thanh sạch, nên họ bị người khác hiểu lầm và bách hại. Họ có khả năng gây ra rối loạn, hoảng sợ và bất an cho các tín đồ của họ, làm cho họ thoái hóa cách nào đó, đến độ khiến các tín đồ ấy không còn khả năng ‘hiện hữu’ bên ngoài sự thao túng của giáo phái. Một vài thủ lãnh còn đạt đến độ đe dọa giết chết những ai dám từ chối ‘niềm tin của họ’.
Những người được cho là soi sáng này (hoặc những kẻ trục lợi này) rất biết cách vận dụng niềm tin của những người đạo đức, vừa dịu dàng vừa kiên quyết, cả một nghệ thuật. Họ dẫn dụ những người hâm mộ, và cuối cùng nhận chìm họ vào sự hoang tưởng. Mỗi lần mà niềm tin hoặc sự thực hành tôn giáo thụt lùi, các giáo phái phát triển.
Sự bất khoan dung của các nhà sáng lập giáo phái đối với những người không nghĩ giống như họ, thường dẫn đến sự hung bạo. Đáng tiếc, hình như đức ái không ở trong con tim của họ. Và không có đức ái, người ta chỉ là những tiên tri giả.
Một ngày nọ người ta hỏi một mục sư của một giáo phái về tình trạng giáo hội của ông. Ông trả lời: Không tốt đẹp lắm! Nhưng cám ơn Chúa những giáo hội khác cũng chẳng tốt gì hơn.
Lạy Chúa, cảm tạ Chúa vì sự thanh thản, bình an mà Giáo hội Chúa ban cho con.
+++
Nghe những lời ghi chép trong sách Luật, vua xé áo mình ra
Việc tuyển chọn Giosia lên làm vua đánh dấu một thời đại phục hưng tôn giáo. Đền thờ, tượng trưng toàn thể quốc gia, được xem như là dân của Đức Chúa, đòi hỏi những việc tu bổ khẩn cấp để không phải bị sụp đổ. Hình ảnh tiêu biểu của việc suy thoái là Israel tuột dốc. Việc tìm thấy một quyển sách luật chỉ cho thấy sự hờ hững đáng trách và từ đó sự tẻ nhạt trong tương quan của dân chúng đối với Thiên Chúa. Người ta đề ra một công việc phục hồi (vượt trên các bức tường của thánh điện): là đền thờ của tâm hồn cần phải được sửa chữa, là sự gắn kết yêu thương với Lời hằng sống của Thiên Chúa, là giao ước với Thiên Chúa. Và lịch sử đã minh chứng cho thấy một thời đại mới.
Những trang sách cuộc đời được sao chép lại nơi mỗi thời đại, khi mà hình như chân trời bị che tối. Sự hưng phấn của cái mới, của điều chưa công bố, mang đến cho những giá trị vững chắc và vượt qua những con đường mà đôi lúc xem như là những ngõ cụt. Thật vậy, ngay cả một sự cứng nhắc bất di bất dịch của việc ‘trước sao sau vậy’ cho thấy mình đang thụt lùi! Không phải là thay thế những đền thờ cũ bằng những đền thờ mới, nhưng là nhẫn nại phục hồi đền thờ duy nhất có giá trị muôn đời: đền thờ của tâm hồn. Và đây là việc, giữa những nếp gấp của cuộc đời, tìm thấy quyển sách mà ta nhận thấy cách ngạc nhiên những trang sách đã được viết bằng chính máu của Con Thiên Chúa và nói về chúng ta, là những trang của chính cuộc sống của chúng ta được tìm thấy và được phục hồi trong dấu chỉ của tình yêu.
Trong phút hồi tâm, tôi suy nghĩ điều trên, loại bỏ cám dỗ của việc than khóc vô ích về thời đại của mình.
Lạy Chúa, xin hãy sửa chữa cùng với sự hiện diện sống động của Thần Khí Ngài, những rạn nứt trong đền thờ nội tâm của con.
Thứ Năm Tuần XII Tn
Chúa Giêsu ngỏ lời với những người cho mình có đức tin. Ngài nói cho họ biết nếu họ không mang ra thực hành đức tin đó, họ sẽ không thể vào Nước trời.
Đức Kitô thực rõ ràng. Những ai tưởng nắm giữ Nước trời bằng những lời tuyên bố, bằng những kinh nguyện, mà không có xác tín trong lòng và không nắn đúc đời sống theo niềm tin của họ, họ lầm lẫn lớn. Đức tin không có việc làm là đức tin chết (thánh Giacôbê).
Tôi là người tin nhưng không phải là người thực hành, quá nhiều kitô hữu tuyên bố như thế. Phải trả lời thế nào cho điều đó: Đức tin của bạn vô ích. Điều gì cho bạn làm nền tảng? Điều gì làm biến đổi bạn?
Các bạn nói: ‘Mặt trời chiếu sáng’. Và thật đẹp. Nhưng nếu các bạn cứ bướng bĩnh nhắm mắt lại, hoặc nếu các bạn không mở cửa chính và cửa sổ cho các tia nắng chiếu vào, các bạn sẽ ở trong tối tăm.
Các bạn còn nói tiếp: ‘Lửa cháy’. Nhưng nếu bạn đứng cách xa, các bạn tiếp tục run cầm cập. Ích lợi chi khi nói rằng mặt trời và lửa hiện hữu?
Tin vào Đức Giêsu Kitô hoặc sống vì Đức Giêsu Kitô, sự khác biệt hệ tại chính điều này. Từ tầm xa, một bông hoa giả có thể đánh lừa con mắt ta. Khi đến gần người ta sẽ thấy ngay nó thiếu một cái gì dịu dàng, duyên dáng, tinh khiết. Ân sủng của Đức Giêsu Kitô là chính cái hương thơm, cái dịu dàng, duyên dáng tinh khiết ấy được biểu lộ nơi chính chúng ta.
Một người dân miền núi lần đầu tiên đến thành phố. Buổi sáng, theo thói quen quê nhà, anh không ngớt chào hỏi mọi người mà anh gặp gỡ. Anh chào luôn cả những hình mẫu trong các cửa hàng và lấy làm ngạc nhiên về sự im lặng và cứng đờ của chúng.
Không thực hành đức tin chúng ta chẳng khác nào những hình nộm.
Thi hành ý Cha
Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa! Lạy Chúa! Là sẽ vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời’. Những đòi hỏi của Đức Giêsu thật quyết liệt, hầu như khó có thể chịu nỗi đối với chúng ta, là những kẻ yếu đuối và mỏng giòn. Bài giảng trên núi, là một lời mời gọi mạnh mẽ cho việc thi hành ý Thiên Chúa với tất cả sự trong sáng, quảng đại, hoàn hảo, và chúng ta biết rõ chúng ta có là chi đâu. Nhưng khi trình bày các đòi hỏi ấy, Đức Giêsu đặt vào trong lòng chúng ta niềm ao ước đáp trả và đó chính là cách thức và sức mạnh Ngài ban cho ta.
Một cách thức: ‘Vậy ai nghe những lời Ta nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá’. Lời của Đức Giêsu cho ta biết ý của Chúa Cha; nếu ta lắng nghe, chúng ta sẽ không còn phải sợ xa cách Ngài: chúng ta được dìm trong Lời và trong ngày ấy Đức Giêsu sẽ nhận biết chúng ta giữa những người được Cha Ngài chúc phúc.
Sức mạnh: Đức Giêsu ban cho chúng ta một quả tim mới, cho chúng ta quả tim của Ngài, bởi lẽ duy chỉ với quả tim vâng phục của Ngài chúng ta mới có thể thi hành ý của Chúa Cha, cho dù trong đời ta có gặp phải mưa sa, nước cuốn hay bão táp thử thách ập vào, vì chúng ta được xây trên nền đá. Với sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn, chúng ta có sức mạnh của Ngài, niềm vui của Ngài, chúng ta sống như trên thiên đàng rồi.
Thứ sáu Tuần XII Tn
Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu
Nghệ thuật kitô giáo sơ khai trình bày Đức Giêsu như một người mục tử ân cần vác trên vai mình con chiên. Hình ảnh ấy lấy cảm hứng từ dụ ngôn về lòng thương xót mà ta nghe trong đoạn tin mừng hôm nay. Sự quan tâm của Chúa dành cho con chiên lạc được nhắc đến trong phụng vụ lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu. Người mục tử nhân lành không để ý đến chính mình mà hoàn toàn để tâm đến các con chiên của mình. Lo lắng cho những nhu cầu của chúng, chữa lành thương tích của chúng, bảo vệ chúng khỏi thú dữ. Ngài biết rõ từng con một, Ngài gọi đích danh từng con. Ngài quan tâm cách riêng đến con chiên lạc và không ngần ngại bày tỏ niềm vui khi tìm được nó về. Một con chiên lạc hoàn toàn không được bảo vệ, có thể rơi xuống hố hoặc bị cầm chân trong một bụi gai. Trong tình trạng nguy hiểm như thế mới thấy đáng quý và cần thiết biết bao vai trò của người mục tử: sau khi tìm được, người ấy vui mừng vác nó lên vai mang về đàn. Khi bị sói tấn công, người mục tử nhân lành không trốn chạy, nhưng thí mạng sống vì con chiên. Đó là trái tim của người mục tử nhân lành.
Con nào bị mất Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về, con nào bị thương, Ta sẽ băng bó, con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào mập béo, con nào khỏe mạnh, Ta sẽ canh chừng. ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng
Nghề chăn chiên thời Chúa Giêsu, các con chiên có một giá trị lớn. Làm mục tử không chỉ có nghĩa là làm một công việc mà còn đi vào trong bình diện tình cảm nữa. Hãy nhớ câu chuyện ngôn sứ Nathan kể cho Đavít nghe để giúp vua ý thức về tội phạm của mình. Người có con chiên con, yêu thương nó biết bao? Cũng thế hình ảnh của người mục tử chăm sóc con chiên hết sức ý nghĩa. Liên hệ đến một Thiên Chúa yêu thương tạo vật của mình. Người chăm sóc từng con một, con đi lạc, con bị thương tích, con bệnh tật, con khỏe mạnh…
Hình ảnh của một tình yêu đặc biệt. Là điều chính Đức Giêsu thực hiện trong cuộc đời mình, một trái tim bị lưỡi đòng đâm thâu, chết trên thập giá. Vì thế ngày lễ hôm nay không chỉ là một việc đạo đức tình cảm nhưng còn giúp ta lớn lên trong đời sống thiêng liêng nữa.
Trong phút hồi tâm, tôi nhẫm lại trong lòng những câu thánh vịnh 22, mục tử nhân lành chăn dắt con chiên. Đức Giêsu là mục tử nhân lành cho cuộc đời của tôi, hiến thân vì tôi và đưa dẫn tôi đi trên những con đường đầy ánh sáng của tình yêu Ngài.
+++
Lễ Trọng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, ngày thế giới xin ơn thánh hóa các linh mục. Mời gọi mọi người cùng cầu nguyện. Nhưng những người phải cầu nguyện trước hết là chính các linh mục, tốt nhất trước Thánh Thể Chúa.
Lời sấm ngôn ‘không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập’ liên kết với lời sấm ngôn của Giacaria: ‘Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu’. Gioan loan báo hồng ân tin mừng cho muôn dân, mà người đại diện là tên lính đâm giáo vào cạnh sườn của Chúa Giêsu.
Lưỡi giáo đâm vào cạnh sườn Đức Kitô là tiên báo ngày lễ Hiện Xuống, ngày sinh nhật của Giáo hội, xuất phát từ hy tế tình yêu của Đức Giêsu Kitô. Máu và nước tượng trưng hy tế của Chúa và hồng ân của Thánh Thần.
Lễ Thánh Tâm liên hệ đến nữ thánh Magarita Maria Alacoque, nữ tu thuộc dòng Thăm Viếng, sinh ra và sống tại Pháp (1647-1690). Thánh nữ chết ở tuổi 43, sau 19 năm trong dòng tại Paray- le- Monial, nơi mà chị đã được Đức Giêsu tỏ mình cho thấy và trò chuyện thân tình với chị. Tên của thánh nữ nhắc ta đến việc tôn sùng Trái Tim Chúa Giêsu.
Việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu là trường dạy nên thánh, đòi hỏi một sự tái huấn luyện con tim, giả thiết phải đổi mới cảm tình, làm cho con tim của mình hòa nhịp với quả tim của Đấng Cứu Thế. Đó chính là tất cả sự phong phú (và những yêu sách) của tin mừng Đức Kitô.
Thánh nữ Magariata chứng tỏ một tình yêu lớn lao đối với Thánh Thể, một sự nhảy cảm sâu xa đối với người nghèo và những người đau khổ. Sứ điệp của Chị nhận được từ những mạc khải của Chúa Giêsu có thể tóm trong những lời này: ‘Đây là Trái Tim yêu thương loài người vô cùng…mà loài người đáp lại bằng vô ơn, bất kính đối với bí tích Thánh Thể, những phạm thánh’. Sứ điệp luôn tập trung vào điều này là ‘Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con của Ngài’; Đức Kitô tỏ cho thấy trái tim của Ngài như biểu trưng tình yêu vô bờ bến đối với nhân loại. Đức Kitô hứa ban những ân huệ của lòng thương xót cho những ai tôn sùng Thánh Tâm và Thánh Thể Chúa. Mời gọi mỗi người tham dự vào việc đền bù phạt tạ những xúc phạm đối với Thiên Chúa.
+++
Tôi muốn, anh hãy được sạch
Toàn bộ Kinh Thánh nói về mầu nhiệm của Đức Kitô, về sự khổ nạn và sống lại của Ngài. Hiến chế tín lý về mạc Khải số 16 nói rằng ‘Thiên Chúa đã khôn ngoan sắp xếp cho Tân Ước được tiềm ẩn trong Cựu Ước, và Cựu Ước trở nên sáng tỏ trong Tân Ước…Các sách Cựu Ước vẫn được xử dụng trọn vẹn trong sứ điệp phúc âm, đạt được và bày tỏ đầy đủ ý nghĩa trong Tân Ước. Tân ước cũng được sáng tỏ và giải thích nhờ Cựu Ước’.
Như vậy trong bài đọc 1 hôm nay đề cập về việc sống lại. Thánh Phaolô trong thư gởi Rôma giải thích rằng Ápram, qua việc tin vào lời loan báo việc Isaac sinh hạ, ông đã tin vào sự phục sinh của Đức Kitô mà không hề biết, bởi vì ông và Sara đã già rồi, ‘đã gần đất’ rồi; ông tin rằng Thiên Chúa, từ hai con người đã gần đất xa trời, có thể làm phát sinh một người con, Isaac: là sấm ngôn và lời hứa về sự sống lại.
Tin mừng cũng là lời loan báo về sự sống lại. Đức Giêsu chạm đến một người phong hủi và chữa lành anh ta: ‘Chúa Giêsu giơ tay đụng vào anh…và lập tức, anh được sạch bệnh phong’. Cái chạm đến người bệnh phong mà người thời ấy xem như là kẻ tội lỗi, ô uế, là biểu tượng lòng thương xót của Chúa Giêsu. Đức Giêsu, là con người, đã chạm đến bệnh phong hủi của chúng ta; chính ngài trong cuộc khổ nạn, bị xem như đồ phong hủi, tội nhân vì chúng ta, và ngược lại, cùng với cái chết và sự sống lại của Ngài, suối nguồn sự sống, Ngài đã chữa lành chúng ta.
Hãy đến bên Thánh Thể với lòng tin tưởng cùng với những chứng bệnh phong hủi của chúng ta, cùng với cái chết của ta, để Đức Giêsu làm cho ta được sống lại. Mỗi thánh lễ cần phải chuẩn bị chúng ta sẵn sàng đi phục vụ anh em, nhờ sự sống lại của Đức Giêsu.
Thứ bảy Tuần XII Tn
Lễ Trái Tim Vẹn sạch Đức Mẹ
Nói một cái gì ‘vô nhiễm’ là không tì vết nhơ bẩn. Không có khiếm khuyết, bất toàn. Khi ta nói ‘căn phòng này vô nhiễm’ có ý muốn nói căn phòng rất sạch. Nói về ai đó ‘vô nhiễm’, có ý muốn nói y phục của người ấy được ủi tươm tất, ngay ngắn và trong tư cách thanh lịch, mọi điều khác cũng rất đúng mực. Trái tim là cơ quan bơm máu đi khắp thân thể. Nên từ ngữ ‘trái tim’ cũng thường được dùng để chỉ trung tâm cảm xúc của một người. Tình yêu và ghét bỏ, can đảm và sợ hãi…đều phát xuất từ con tim. Nói ai đó có ‘trái tim’ có ý muốn nói rằng có lòng thương cảm. Một vài chức năng của não bộ, đôi lúc cũng được xem như phát xuất từ trái tim.
Maria, Mẹ Chúa Giêsu ‘giữ các điều ấy trong con tim mình’. Sau khi hạ sinh Đức Giêsu và việc các mục đồng kính viếng, Mẹ Maria ‘giữ các điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng’ (Lc 2,19). Mẹ cũng làm như thế sau khi tìm lại được Đức Giêsu lạc mất trong đền thờ (Lc 2, 51). Trong trái tim thanh sạch của Mẹ, lưu giữ những việc diệu kỳ Thiên Chúa mạc khải cho dân Người.
Thiên Chúa tiếp tục tỏ mình ra trong trái tim của mỗi người. Điều này thường xảy ra trong lúc ta suy niệm: ngồi yên lặng, không nói lời nào, suy tư về những biến cố trong ngày; tìm kiếm sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời thường, trong những gặp gỡ vì công việc, trong những trao đổi trong bữa ăn, trong khi trở về nhà buổi chiều dùng bữa tối cùng với gia đình…Trong mọi biến cố ấy, ta có thể khám phá ra Thiên Chúa, Đấng hướng dẫn và chuẩn bị trước cho ta mọi điều; chính Người giúp ta lớn lên trong ân sủng, thấu hiểu những lối đường của Người. Khi suy tư những điều ấy, ta đang giữ những điều đó trong tim mình, trong lòng mình.
+++
Khách đến, Đức Kitô đến
Bài đọc 1 phụng vụ trình bày cho ta hôm nay là một bài học về lòng hiếu khách và nêu rõ Thiên Chúa chứng nhận giá trị.
Abraham, ‘vào lúc nóng nực nhất trong ngày’ ngồi nghỉ nơi cửa lều. Chắc chắn ông không muốn bị quấy rầy. Sách thánh nói: vừa thấy ba người khách đến gần ông một cách lạ lùng, ông chạy ra đón họ, sụp xuống đất lạy… và xin họ dừng chân nơi nhà ông và mời các vị một ít bánh. Đối với ông thật là một vinh hạnh được đón tiếp các vị khách mà ông chưa hề gặp lần nào, và ông bảo bà Sara lo chuẩn bị cho họ một bữa ăn thịnh soạn. Quả là một lòng hiếu khách đáng quý: dễ mến, nhã nhặn và quảng đại. Tường thuật nói rằng chính Chúa mà Abraham đón nhận và tiếp đãi và trước khi rời nhà ông, Ngài đã hứa cho ông một con trai, ngược lại mọi suy tư của con người. Nhưng ‘nào có điều gì kỳ diệu vượt sức Thiên Chúa’ đâu?
Lòng hiếu khách, giá trị đặc biệt của người phương đông, nơi Abraham đã mặc lấy một tính cách tôn giáo và trở thành, trong Tân Ước, một giá trị kitô, mà Đức Giêsu hứa khen thưởng: ‘Ai tiếp đón người công chính sẽ được phần thưởng của người công chính’.
Tác giả thư do thái khuyến khích các tín hữu: ‘Anh em đừng quên tỏ lòng hiếu khách, vì nhờ vậy có những người đã được tiếp đón các thiên thần mà không biết’ (Dt 13,2). Và thánh Benêdictô đã ghi trong luật dòng ngài: Khách đến, Đức Kitô đến (Hospes venit, Christus venit).
Đón tiếp người khác cho ta cơ hội đón tiếp chính Đức Kitô. Như thế là cuộc đón tiếp long trọng nhất: đón tiếp Đức Giêsu, như chính Ngài muốn được đón tiếp. Matta đã chuẩn bị nhiều việc để đón Ngài, nhưng chính Maria đã tiếp Ngài như Ngài muốn: bà ngồi dưới chân Chúa mà nghe lời Ngài.
Đức Giêsu cũng muốn được tiếp đón một cách ‘sâu xa’ hơn: bằng cách đón nhận trong thân xác của ta những đau khổ của Ngài, vì lợi ích của giáo hội Ngài, để hoàn tất công trình cứu độ của Ngài, như thánh Phaolô viết cho tín hữu Côlossê.
Cầu xin cho chúng ta được ơn sẵn sàng tiếp đón Chúa như ngài muốn, với cả lòng tri ân và khiêm nhuợng. Lúc đó Ngài sẽ ăn tối với ta và ta với Ngài.
+++
Người đã mang lấy trên mình mọi tật bệnh của chúng ta.
Pascal đã đặt trên miệng Đức Giêsu những lời này: ‘Các thầy thuốc không chữa lành bệnh cho ngươi đâu! Chính Ta mới chữa lành và làm cho thân xác nên bất tử!’
Đức Giêsu mang trên mình mọi bệnh tật thể lý và luân lý của chúng ta. Đừng e ngại nói cho Ngài biết! Hãy biết thưa với ngài bằng đức tin của viên đại đội trưởng, của bà nhạc mẫu thánh Phêrô, của cha mẹ những kẻ bị quỷ ám, của những bệnh nhân.
Ngài sẽ nói với ta như với viên đại đội trưởng: ‘Ông cứ về đi! Ông tin thế nào, sẽ được như vậy!’ Ngài sẽ nắm lấy tay ta, như đã làm với bà nhạc mẫu thánh Phêrô. Ngài có thể dùng lời quyền năng mà xua trừ ma quỷ ra khỏi chúng ta.
‘Lạy Chúa Giêsu, các thầy thuốc không chữa khỏi con, nhưng Chúa chữa lành con! Xin ban cho con đức tin của viên đại đội trưởng, của bà nhạc mẫu thánh Phêrô. Xin chữa lành con, xin xua trừ ma quỷ ra khỏi con. Xin chạm đến con. Xin hãy phán một lời, thì con sẽ lành mạnh!
+++
Ngôn sứ của ngươi tỏ cho người thấy toàn điều hư ảo, toàn chuyện khói mây, còn lỗi lần ngươi, chúng không vạch rõ để đảo ngược vận số của ngươi. Điều chúng thấy là điều huyền hoặc, chỉ đưa ngươi vào ảo tưởng mà thôi.
Vị ngôn sứ vẽ nên tình cảnh bi thảm của Giêrusalem, thành thánh, đối tượng tình yêu của Thiên Chúa, đã lánh xa Chúa. Cảnh tượng: người già, người trẻ ngồi câm lặng trong khi nạn đói đang hoành hành, ngay cả trẻ thơ cũng chết trong vòng tay bất lực của mẹ chúng.
Ai sẽ mở mắt cho ta đúng lúc bằng cách cảnh báo cho ta biết ta đang gặp nguy hiểm? Họ không chỉ thinh lặng, nhưng còn bảo ta những lời huyền hoặc ảo tưởng.
Người kitô hữu, nhờ bí tích thanh tẩy, đảm nhận chức năng ngôn sứ. Không được liên kết với kẻ khác để đọc cách sai lạc những biến cố xảy ra do sự hời hợt, cho rằng ‘mọi người đều làm thế’ hoặc ‘có ích gì phải đứng vào một tư thế khác’.
Như một công dân, như một người có đức tin, cần phải là người cổ xúy cho những lựa chọn đảm bảo cho một tương lai tốt đẹp hơn và mở ra những chân trời hy vọng, không bao giờ là hoa quả của sự dễ dãi.
Trong phút hồi tâm tôi suy nghĩ đến chức năng ngôn sứ của mình. Lạy Chúa, xin mở cho con đối mắt để chúng nhìn thấy vượt qua cái tức thời và bề ngoài mà thấu hiểu ý nghĩa thâm sâu của những gì chúng con đang sống và biết chỉ, nhất là cho giới trẻ, những nẻo đường hy vọng.
Chú gà trống cùng với tiếng gáy là mẫu hình của những ai có sứ mạng đánh thức anh chị em xung quanh mình: nó cất tiếng gáy khi hừng đông ló dạng, khi mặt trời xuất hiện ở chân trời; nó làm cách trung thành công việc của nó! Những ai có bổn phận đánh thức lương tâm con người, các dân tộc cũng phải trung thành như chú gà kia vậy. Helder Camara
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Lễ Trọng Kính Thánh Phêrô và Thánh Phaolô Tông Đồ
Để hiểu được tác động và toàn bộ vẻ đẹp của bài tường thật tin mừng, cần phải biết bối cảnh địa lý của nó. Vùng Xêdarê Philiphê trải dọc theo chân núi Ermon. Một trong những hang động được dành cho thần Pan và các trinh nữ [theo thần thoại Hy-lạp, Pan là vị thần, yêu thích cả phái nữ và phái nam. Khi không thành công trong việc đeo đuổi đối tượng đam mê của mình, Pan sẽ buông thả theo những trò dâm dật]. Trên đỉnh núi đá, Hêrôđê đã cho xây một đền thờ để kính Hoàng Đế Xêdarê Augustô, sau đó Philíphê, con trai ông, đã mở rộng thêm và đặt tên là Xêdarê. Tôn thờ một ngẫu thần hay một con người, đối với dân Do thái, được xem là một việc làm ma quỷ, cho nên hang động đó cũng được xem như là cửa dẫn vào vương quốc Satan: hoả ngục. Người ta mong đợi, một ngày nào đó, các vực thẳm âm phủ sẽ làm rung chuyển núi đá và sẽ nuốt chửng ngôi đền phạm thánh đó.
Chính tại nơi đáng sợ ấy lại diễn ra cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống và Simon, con ông Giona. Đức Giêsu nói đến một đá tảng khác, trên đó Ngài sẽ xây một đền thờ khác, Hội Thánh của Thiên Chúa. Không một quyền lực hỏa ngục nào có thể thắng nó được. Simon, trong cương vị người có trách nhiệm bảo vệ, đã nhận lãnh chìa khóa, và như thế có quyền cầm buộc cũng như tháo cởi, nghĩa là quyền dạy dỗ và quản trị Hội Thánh. Nhờ đó, Simon trở thành đá tảng hữu hình, bảo đảm trật tự, đoàn kết và sức mạnh của Hội Thánh. Satan và tử thần không thể thắng được Hội Thánh, bởi lẽ chính Đức Kitô sống và hoạt động trong Hội Thánh. Mỗi vị Giáo Hoàng là Phêrô cho thời đại của mình.
Thánh Irênê
Lời nguyện nhập lễ: Lạy Thiên Chúa, Chúa đã ban ơn cho thánh Giám Mục Irênê củng cố Giáo hội Chúa trong chân lý và bình an…’ bằng cách chỉ rõ công việc mà thánh nhân đã thực hiện, trong cương vị là Giám mục Giáo hội tại Lyon vào thế kỷ thứ II.
Vào thời đó giáo lý kitô giáo bị đe dọa bởi thuyết ngộ đạo, biến tất cả thành trừu tượng; Irênê, qua việc rao giảng và các công việc của mình, đã bảo vệ tính vẹn toàn của giáo lý kitô giáo bằng cách đào sâu việc hiểu biết Kinh Thánh và những mầu nhiệm đức tin: Ba Ngôi, Đức Kitô trung tâm của lịch sử, Thánh Thể nuôi dưỡng chúng ta bằng Mình Máu thánh Đức Kitô ‘làm cho xác thịt của ta làm vui lòng của Thiên Chúa’.
Irênê là một vị thánh hết sức lạc quan. Lời tuyên bố của Ngài: Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống động’. Có nghĩa là gì?
Tin mừng hôm nay nói về vinh quang: ‘Vinh quang mà Cha đã ban cho con, con đã ban cho chúng, để chúng nên một như chúng ta là một. Vinh quang là sự hiệp nhất mọi người trong tình yêu, phản ánh sự hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhân tính, trở nên hoàn hảo trong sự hiệp nhất’, là vinh quang của Thiên Chúa, gương phản chiếu vinh quang của Thiên Chúa trong Đức Kitô.
Cổ xúy cho chân lý, Irênê còn là người đề xướng cho hòa bình trong Giáo hội, tự mình làm trung gian hòa giải trong tranh luận về ngày mừng lễ Phục Sinh, là việc chẳng có gì quan trọng, nhưng lại đe dọa tính hiệp nhất và hòa bình của các kitô hữu vào thế kỷ ấy.
Ta hãy cầu xin, nhờ lời chuyển cầu của thánh nhân, cho Giáo hội hôm nay: Lạy Thiên Chúa, Chúa đã ban ơn cho thánh Giám Mục Irênê củng cố Giáo hội Chúa trong chân lý và bình an, xin ban cho chúng con biết đổi mới trong đức tin và trong tình yêu và luôn tìm kiếm điều cổ xúy sự hiệp nhất và hòa thuận.