Lễ Mình Máu Thánh Chúa/A Tuần X TN - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thứ sáu - 05/06/2026 18:51  16

Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô/A 

NGÀY TƯỞNG NIỆM CHÚA

I.

Những ngày gần đây, tại Hoa Kỳ, chúng ta đã kỷ niệm "Ngày Tưởng niệm", ngày mà toàn thể quốc gia dừng lại để tưởng nhớ những người nam nữ đã hy sinh mạng sống cho đất nước. Đài tưởng niệm, quốc kỳ, nghĩa trang quân đội, các buổi lễ công cộng: một dân tộc không nhớ lịch sử của mình cũng sẽ đánh mất bản sắc của mình.

Sau đó, còn có một ngày lễ khác rất được người Mỹ yêu thích: "Ngày Lễ Tạ Ơn". Vào ngày đó, các gia đình quây quần để bày tỏ lòng biết ơn về những món quà nhận được trong năm.

Ký ức và lòng biết ơn: đây là hai trong số những từ quan trọng nhất trong cuộc sống. Bởi vì khi chúng ta quên, chúng ta trở nên hời hợt; khi chúng ta ngừng biết ơn, chúng ta trở nên bất hạnh.

Các nhà tâm lý học nhắc nhở chúng ta rằng những người biết ơn thường thanh thản hơn, lạc quan hơn và hạnh phúc hơn. Những người biết nói lời cảm ơn sống tốt hơn. Những người chỉ nghĩ đến những gì họ thiếu, thay vì những gì họ có, cuối cùng sẽ cảm thấy nghèo khó mãi mãi.

II.

Nếu tôi phải giải thích cho mọi người về Corpus Christi (Mình Thánh Chúa Kitô) , tôi có lẽ sẽ nói với họ rằng đó vừa là Ngày Tưởng niệm của Kitô giáo vừa là Ngày Lễ Tạ Ơn. Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu phán: "Hãy làm điều này để tưởng nhớ đến Ta." Bí tích Thánh Thể, trước hết và trên hết, là sự tưởng nhớ. Không chỉ đơn thuần là tưởng nhớ quá khứ, mà còn là hiện thực hóa những gì Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta trên thập tự giá. Mỗi Thánh Lễ là một sự tưởng nhớ tình yêu vĩ đại nhất trong lịch sử.

Nhưng Bí tích Thánh Thể cũng là sự tạ ơn. Từ "Thánh Thể" xuất phát từ tiếng Hy Lạp "eucharistía" và có nghĩa là "tạ ơn". Đó là lý do tại sao Giáo Lý Công Giáo nói rằng Thánh Thể là sự tạ ơn của Giáo Hội đối với Chúa Cha vì tất cả những ơn lành của Ngài. Trong mỗi Thánh Lễ, chúng ta tưởng nhớ và tạ ơn. Chúng ta tưởng nhớ một tình yêu đã hiến dâng chính mình đến cùng. Chúng ta tạ ơn vì một sự hiện diện tiếp tục đồng hành cùng chúng ta mỗi ngày.

Thật là những lời phi thường mà chúng ta đã nghe trong Tin Mừng của lễ trọng này: "Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì được sự sống đời đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày cuối cùng. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì ở trong Ta, và Ta ở trong người ấy. Ai ăn Ta thì sẽ sống nhờ Ta ."

III.

Có lẽ vấn đề thực sự là chúng ta đã quá quen thuộc với Bí tích Thánh Thể. Chúng ta vào nhà thờ, tham dự Thánh Lễ, rước lễ, và mọi thứ dường như bình thường. Nhưng không có gì bình thường về những gì xảy ra trên bàn thờ. Mỗi lần, phép lạ vĩ đại nhất trong lịch sử được tái hiện: Chúa Kitô hiến dâng chính mình cho chúng ta như lương thực và thức uống của sự sống đời đời. Thánh Gioan Maria Vianney nói rằng nếu chúng ta thực sự hiểu những gì xảy ra trong Thánh Lễ, chúng ta sẽ chết vì vui sướng. Có lẽ Thiên Chúa ban cho chúng ta một loại màn che phủ mầu nhiệm, một loại "thuốc gây tê tâm linh", nếu không chúng ta sẽ không thể cảm nhận được trọn vẹn sự vĩ đại của nó. Lễ trọng Mình Thánh Chúa mời gọi chúng ta khám phá lại sự quyến rũ của nó, để nhớ đến hồng ân vô bờ bến này và để tạ ơn. Bởi vì Mình Thánh Chúa nhắc nhở chúng ta chính điều này: rằng Kitô giáo được sinh ra từ ký ức và sống trên lòng biết ơn. Từ một ký ức không quên tình yêu đã nhận được. Từ một lòng biết ơn biến đổi toàn bộ cuộc sống thành sự tạ ơn.

Cuối cùng, Bí tích Thánh Thể có nghĩa chính xác là điều này: để nhớ và tạ ơn. Và mỗi khi chúng ta cử hành Thánh Lễ, "Ngày Tưởng niệm" và "Lễ Tạ ơn" của Thiên Chúa gặp nhau trên bàn thờ.

 

Những mẩu bánh mì trên đường phố thế giới

Đã bao nhiêu lần chúng ta thu hẹp Bí tích Thánh Thể vào một chiều kích riêng tư và thân mật, thành một loại sùng kính cô lập chúng ta? Sự trọng thể này giúp chúng ta đối diện với thực tại, đưa chúng ta ra khỏi những tiện nghi tâm linh và thay vào đó hướng về bàn thờ như trung tâm của đời sống Kitô giáo, chứ không phải là nơi ẩn náu. Bí tích Thánh Thể phải trở thành trụ cột và một lối sống cụ thể.

Chúng ta, những linh mục, thường nghe những điều như: Tôi đến Thánh lễ, tôi rước lễ, nhưng rồi tôi về nhà và cuộc sống của tôi chẳng thay đổi gì cả. Tôi luôn cảm thấy trống rỗng, như thể đang đi trong sa mạc.

Hãy cẩn thận, câu trả lời nằm ở cách chúng ta nhìn nhận mẩu bánh đó. Nếu chúng ta coi nó như một liều thuốc thần kỳ để tránh đau khổ, nó sẽ không bao giờ hiệu quả. Bí tích Thánh Thể không phải là thuốc gây tê để làm tê liệt các vấn đề. Nó là một loại nhiên liệu để đối mặt với chúng.

Một người bạn làm bánh đã nói với tôi một điều khai sáng có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Bí tích Thánh Thể.

Bánh ngon không đến từ lò nướng, mà đến từ thời gian bạn dành để nhào bột và để bột nở trong bóng tối. Đây là điều Chúa Giê-su làm: Ngài bước vào những nơi tăm tối của chúng ta, hòa quyện cuộc sống của Ngài với những công việc của chúng ta, và biến đổi chúng ta thành điều tốt đẹp cho người khác. Bánh mà chúng ta nhận được trên bàn thờ được ban cho chúng ta để ăn ở bên ngoài, trên đường phố, trong nhà của chúng ta. Nếu sau khi rước lễ, chúng ta không thay đổi cách đối xử với những người xung quanh, thì chúng ta chỉ tham dự một nghi lễ, chứ không phải một cuộc gặp gỡ.

Điều này giúp chúng ta hiểu các đoạn Kinh Thánh trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay.

Chúng ta được dẫn vào sa mạc, nơi dân chúng được mời gọi nhớ lại những thử thách mà họ đã phải đối mặt trong sa mạc và rằng để chống lại cơn đói, họ đã ăn manna.

Do đó, Bí tích Thánh Thể, như một nghi thức tưởng niệm, khuyên nhủ chúng ta, ngay cả những người trong chúng ta dễ bị chán ăn về mặt tâm linh, hãy tự nhắc nhở mình rằng giữa những khó khăn, Chúa, Đấng đã trở thành bánh và rượu, không bỏ rơi chúng ta.

Vì vậy, khi chúng ta đến gần bí tích này, dù bằng cách ăn hay tôn thờ, chúng ta cũng được mời gọi nhớ rằng chúng ta không bao giờ cô đơn.

Trong bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô nói với chúng ta bằng những lời lẽ mạnh mẽ : "Bánh chúng ta bẻ ra, há chẳng phải là sự hiệp thông với Mình Thánh Chúa Kitô sao? Vì chỉ có một tấm bánh, nên dù chúng ta nhiều, chúng ta cũng chỉ là một thân thể . "

Vị tông đồ đang nói với một cộng đồng bị chia rẽ, đó là cộng đồng Cô-rinh-tô, nơi mọi người chỉ nghĩ đến bản thân mình và người nghèo bị bỏ rơi. Vị tông đồ nói với chúng ta một điều vừa khủng khiếp vừa đẹp đẽ: bạn không thể hiệp nhất với Chúa Kitô nếu bạn tách rời khỏi anh em mình.

Về mối liên kết không thể tách rời giữa Mình Thánh Chúa Kitô trên bàn thờ và Mình Thánh Chúa Kitô nơi người nghèo, Thánh Gioan Chrysostom đã viết những lời sắc bén như gươm:

“Chúa Kitô có lợi thế gì nếu bàn thờ tế lễ đầy ắp những vật dụng bằng vàng, trong khi Ngài lại chết đói trong thân xác người nghèo? […] Thân thể Chúa Kitô trên bàn thờ không cần áo choàng, nhưng cần những linh hồn thanh khiết; trong khi những gì ở bên ngoài lại cần được chăm sóc chu đáo.”

Tuy nhiên, hãy cẩn thận đừng rơi vào sai lầm ngược lại: đó là coi thường vẻ đẹp của phụng vụ nhân danh chủ nghĩa nghèo khó giả tạo. Chính Thánh Phanxicô Assisi, người nghèo nhất thế giới, người đã hiến dâng cuộc đời mình cho sự tự hy sinh triệt để, đã trở nên vô cùng khắt khe khi nói về Bí tích Thánh Thể. Trong Thư thứ nhất gửi các Giám quản, ngài đã mạnh mẽ khuyên nhủ:

“Tôi cầu xin các anh chị em… chén thánh, khăn trải bàn thờ, đồ trang trí bàn thờ và mọi thứ dùng cho lễ hy sinh phải được quý trọng. Và nếu ở bất cứ nơi nào thân thể thánh thiện nhất của Chúa được đặt một cách khốn khổ, thì hãy đặt và bảo vệ nó ở một nơi quý trọng.”

Tại sao Phanxicô lại yêu cầu điều này? Không phải vì phô trương hay sự phù phiếm của con người, mà là vì lòng yêu thương thuần khiết và sự kinh ngạc. Áo lễ và đồ trang trí không phải để linh mục hay giáo xứ tự hào, mà là dành cho Chúa. Nếu bạn yêu thương ai đó, bạn sẽ tìm kiếm những điều đẹp đẽ nhất cho họ, chứ không phải những thứ thừa thãi. Vẻ đẹp của phụng vụ và sự trang hoàng của bàn thờ phản ánh sự cao cả của Mầu nhiệm được hoàn thành ở đó. Không có sự mâu thuẫn nào giữa Chrysostom và Phanxicô: việc chăm lo vẻ đẹp của bàn thờ và việc chăm lo cho người nghèo đều xuất phát từ cùng một tình yêu dành cho cùng một Mình Thánh Chúa Kitô.

Cuối cùng, Tin Mừng Gioan đã phơi bày thực tại triệt để và khó chịu nhất trước mắt chúng ta: "Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì ở trong Ta, và Ta ở trong người ấy ." Chúa Giêsu không ban cho chúng ta một biểu tượng trừu tượng, mà là sự sống cụ thể của Ngài, được hiến dâng đến tận máu. Khi chúng ta ăn Bánh này, chúng ta được "Kitô hóa", trở thành điều chúng ta lãnh nhận. Nếu chúng ta đồng hóa Ngài, chúng ta phải bắt đầu suy nghĩ, yêu thương và tha thứ như Ngài, để cho Bí tích Thánh Thể biến đổi chúng ta thành Chúa Kitô.

Chẳng bao lâu nữa, ở nhiều nơi, chúng ta sẽ rước Mình Thánh Chúa và mang ra đường phố. Việc rước kiệu là một hành động mang tính tiên tri, để nói với cộng đồng rằng chúng ta muốn trở thành bánh được bẻ ra cho người khác.

Đừng ngại thể hiện đức tin của bạn bên ngoài bức tường nhà thờ. Chúng ta hãy mang hy vọng và lòng bác ái đến những nơi tăm tối nhất. Cùng với Chúa Giê-su, chúng ta hãy trở thành bánh thơm ngon, được bẻ ra cho sự sống của thế giới.

 

Thứ hai Tuần X Thường niên 

Sẽ được ủi an 

Chủ đề chung cho các bài đọc hôm nay là sự an ủi vì đau khổ. ‘Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an’: là một trong những mối phúc; thánh Phaolô trong thư gởi Corintô đã lấy bản thân mình để minh họa: vừa trải qua một đau khổ lớn lao nhưng trong cơn đau khổ này ngài đã nhận được sự an ủi của Thiên Chúa và giờ đây Ngài chúc tụng Chúa: ‘Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách’. Thánh vịnh cũng có cùng một đề tài như vậy: ‘Tôi đã tìm kiếm Chúa và Ngài đã đáp lại lời tôi, đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ…Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe và Ngài sẽ giải thoát họ khỏi mọi nỗi âu lo’. Là sứ điệp hết sức quý giá của niềm vui và của sự an ủi. Tuy nhiên chúng ta cần biết rằng điều kiện để được an ủi trước tiên chính là đón nhận đau khổ: Thiên Chúa không thể an ủi những người không hề bị sầu khổ. Đây là ý nghĩa của những mối phúc. Cần có một tình trạng tiêu cực để Thiên Chúa mới có thể thực thi công việc tích cực của Ngài. Phúc cho những người sầu khổ chứ không phải cho những người đang sống trong hạnh phúc, trong niềm vui, phúc cho những người sầu khổ vì họ sẽ được ủi an. Và thánh Phaolô: ‘Vì cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Kitô, thì nhờ Người, chúng ta cũng được chan chứa niềm an ủi’. Cần phải chiến đấu cùng với Thiên Chúa trong cơn đau khổ thì mới nhận được chiến thắng, sự an ủi của Ngài, vì không thể có vinh quang nào mà không chiến đấu. Chúng ta học cho biết sự đau khổ là điều kiện để được niềm vui của Thiên Chúa.

Thật vậy, đau khổ luôn đè nặng và là một thử thách làm ta không còn tin vào Thiên Chúa nữa. Ngài an ủi ta nếu chúng ta chiến đấu cùng với Ngài, vững vàng trong đức tin và đức cậy.

Chiến đấu như thế nào? Chiến đấu trong cầu nguyện, lời cầu nguyện thật khó khăn, bởi vì trong đau khổ, người ta chẳng còn muốn cầu nguyện nữa. Một lời cầu nguyện liên lĩ, đích thực làm cho mình gần kề bên thập giá Chúa Giêsu. Khi đó những khổ đau của ta sẽ thực sự trở nên ‘những đau khổ của Đức Kitô trong chúng ta’, mở đầu cho chiến thắng và sự an ủi, làm ta hát mừng lên: ‘Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao’! Chỉ sau chiến thắng ta mới chắc chắn vui mừng và ca tụng lòng nhân lành của Thiên Chúa.

Nơi thánh Phaolô kinh nghiệm đau khổ và sự an ủi là một kinh nghiệm của người tông đồ: ‘Chúng tôi có phải chịu gian nan, thì đó là để anh em được an ủi và được cứu độ. Chúng tôi được an ủi, thì cũng là để anh em được an ủi’ bởi vì chiến đấu và chiến thắng thì chính Ngài đã sống để thông truyền và củng cố đức tin. Và sự an ủi được tỏ ra để ‘anh em có sức kiên trì chịu đựng cùng những nỗi thống khổ mà chính chúng tôi phải chịu’. Và như vậy, nhờ vị Tông Đồ, con đường đã được vạch ra cho mọi tín hữu.

Chúng ta cầu xin Chúa để hiểu giá trị của những đau khổ và ơn giúp kiên trì trong những nghịch cảnh, vững vàng trong lòng tin kiên trung kề bên thập giá Đức Kitô, cho đến khi chiến thắng, trong sự an ủi của Thiên Chúa.

+++

Phúc cho ai….!

Biểu thức này rất quen thuộc trong các Thánh vịnh và sách khôn ngoan, giờ đây vang lên trên môi miệng của Chúa trong bài giảng trên núi.

Tác giả Thánh vịnh và các ngôn sứ nghĩ rằng hạnh phúc được ban tặng cho người công chính tuân giữ lề luật, kính sợ Thiên Chúa, tin tưởng và phụng thờ Người…Nhưng cũng được tặng ban cho những ai có lòng thương xót, cho cha mẹ của những gia đình đông con. Đức Giêsu đến không phải để hủy bỏ nhưng để làm cho nên trọn, vẫn giữ lại nền tảng của các mối phúc cổ xưa ấy và còn thêm vào mười điều khác nữa. Những điều này làm định hướng cho ý nghĩa của hạnh phúc. Nếu Cựu ước nhìn nhận hạnh phúc cho những người kính thờ Thiên Chúa chân thật, Đức Giêsu nói cho ta biết ai là những người kính thờ đích thực Thiên Chúa của Ápraham: là những người có tinh thần nghèo khó, những người hiền lành, những người đói khát sự công chính, những người có lòng thương xót, những người có lòng thanh sạch.

Nếu Cựu ước gọi là ‘hạnh phúc’ những kẻ nương tựa nơi Thiên Chúa, thì Đức Giêsu nói cho ta biết ai là những người Thiên Chúa mong chờ để được an ủi và bảo vệ. Đó là những người đau khổ, những người khao khát sự công chính và lề luật, những người bị bách hại, những kẻ chết vì đạo!

Ta có phải là những người tôn thờ đích thực không? Ta có phải là những người con cái đích thực của Thiên Chúa không?

+++

1 V 17:5-6: Ê-lia làm theo lời Chúa truyền; ông đi đến ở bên suối Cherith [...]. Chim quạ mang bánh đến cho ông vào buổi sáng và thịt vào buổi tối; ông uống nước suối.

 Ê-lia là một trong những vị tiên tri vĩ đại nhất. Thật vậy, theo một nghĩa nào đó, ông là biểu tượng của lời tiên tri trong Cựu Ước. Điều này được chứng minh bởi thực tế là trong khoảnh khắc mặc khải tột cùng của Biến Hình, cùng với Chúa Giê-su và Môi-se, người đại diện cho Luật pháp của Đức Chúa, Ê-lia đã hiện diện: thế giới của lời tiên tri. Tên Ê-lia có nghĩa là "Đức Gia-vê là Đức Chúa Trời". Vị tiên tri này, trên thực tế, là người của Đức Chúa một cách xuất sắc. Ông liên hệ với Ngài như là Đấng Tuyệt Đối mà nếu thiếu Ngài thì sự sống của con người sẽ thất bại, trống rỗng và khô héo hoàn toàn. Ê-lia, người sống trong nhận thức về Sự Hiện Diện vĩ đại của Chúa, bằng cách nào đó tham gia vào quyền năng của Ngài. Với Akhab, vị vua bất trung, Chúa phán rằng: "Trong những năm này sẽ không có sương hay mưa, trừ khi ta nói vậy." Mệnh lệnh của Chúa dành cho Ê-lia là phải rời bỏ vùng đất gian ác đó, đi về phía ĐÔNG (nơi ánh sáng chiếu rọi!), ẩn náu gần một dòng suối (cũng ở phía đông) để uống nước và được nuôi dưỡng bởi những gì Chúa gửi đến cho ông qua những con quạ. Tình huống này tượng trưng cho những gì xảy ra ngày nay. Những "lãnh đạo vĩ đại của các quốc gia" thống trị dân chúng, quay lưng lại với Chúa, bởi vì họ tìm kiếm lợi ích riêng của mình và của những kẻ quyền lực, bỏ qua nhu cầu của người nghèo. Và Chúa rút lui, gửi đến hạn hán, sự khô héo của sự sống, sự suy tàn của nó. Kinh Thánh chép rằng con người không chỉ đói bánh và khát nước, mà còn đói Lời Chúa! Nhưng họ làm gì với lòng ngoan cố tôn thờ tiền bạc và của cải vật chất, tích trữ chúng cho "kho bạc" của người giàu? Họ ngừng dòng chảy của những phước lành của Ngài, được tượng trưng ở đây bằng nước. Kìa: hạn hán là lời "không" đối với sự trù phú của mùa màng và sức khỏe của sự sống. Nhưng có một sự khô hạn trong tâm linh đang bóp nghẹt mọi sự sống.

Hôm nay, trong khoảnh khắc tĩnh lặng suy tư, tôi sẽ nhìn bằng con mắt của trái tim mình đến Chúa của sự sống, đồng thời cũng nhìn vào tình hình chính trị - xã hội mà chúng ta đang sống ngày nay. Tôi sẽ nương náu tâm hồn mình trong Chúa, Đấng TỐT LÀNH TUYỆT ĐỐI duy nhất trong đời tôi, và tôi sẽ thưa với Ngài: Lạy Chúa, "không có Ngài thì con chẳng có gì tốt lành." Xin ban cho con ân sủng của Ngài và đừng tước đoạt phước lành của Ngài khỏi dân Ngài. Thay vào đó, xin hãy dấy lên những người có trách nhiệm về chính trị và kinh tế, những người quan tâm đến lợi ích chung phù hợp với luật lệ của Ngài.

Thứ ba Tuần X Thường niên 

Hủ bột đã không vơi, vò dầu đã chẳng cạn, đúng như lời Đức Chúa đã dùng ông Êlia mà phán

Sách Các Vua quyển I trong tuần này thuật lại những câu chuyện lý thú về ngôn sứ Êlia, một nhân vật có thể giúp ta tìm cách sống thực đời sống làm người tín hữu kitô của mình. Vào thời hạn hán, đói kém, đời sống con người thật mỏng manh, Êlia được xem như là người mang hy vọng. Lời tiên báo về tương lai mà Thiên Chúa trao cho ông, ông chia sẻ không phải với những người quyền thế. Ông chọn một bà góa và một trẻ mồ côi để thách đố với điều không thể và mở ra cho điều khả thể tương lai. Với một nắm bột và một ít dầu có thể cứu sống cho cả mẹ lẫn con ngày cuối cùng, ông đã cụ thể hóa tính an toàn chắc chắn: một chút ít đó sẽ không thêm nhiều lên cũng không giảm ít hơn. Một chút ít vừa đúng để nuôi sống đó trở nên dấu chỉ của sự sống phát sinh, không cần những dư thừa thái quá, bảo đảm đời sống đầy đủ và phong nhiêu cho tất cả mọi người.

Lạy Chúa, trong thời đại của chúng con sự giàu của một ít người gây ra cảnh nghèo khó cho nhiều người, thật buồn cười và vô lý. Xin giúp con chiến đấu chống cảnh đói nghèo vật chất và tinh thần, khiến chúng con được tự do và chân thực.

Người nghèo, trước mặt người đời chẳng có chút giá trị nào, nhưng chính họ mở cửa trời cho ta, là giấy thông hành đưa ta vào thiên đàng (ĐTC Phanxicô)

+++

“Ta không đến để bãi bỏ, nhưng để làm trọn.” Chúa Giê-su nói rằng Ngài không đến để bãi bỏ các điều răn của Môi-se, nhưng để làm trọn chúng. Sự “làm trọn” Luật pháp này đòi hỏi một nền công lý cao hơn. Ngài nói với các môn đệ: “Nếu các ngươi không công chính hơn các thầy dạy luật và người Pha-ri-siêu, thì các ngươi sẽ không vào được Nước Trời” (Mt 5:20). Ví dụ, luật trả thù, “mắt đền mắt, răng đền răng,” được làm trọn bằng câu “hãy đưa má kia ra.” Chúa Giê-su đang vượt ra ngoài nền công lý của việc cho mỗi người phần của mình. Ngài chỉ ra và đề xuất cho những người theo Ngài con đường cao nhất: sự hoàn hảo của tình yêu, yêu thương vượt lên trên mọi tính toán, vượt lên trên mọi lợi ích cá nhân, yêu thương ngay cả khi người kia có những hành vi không đáng yêu. Giờ đây, chúng ta biết rằng chúng ta không có khả năng làm được điều này, và chỉ tuân giữ một luật lệ bên ngoài là không đủ. Các chuẩn mực pháp lý không đủ nếu lòng chúng ta không được Thánh Linh ngự trị. Chỉ nhờ đức tin vào Chúa Kitô, chúng ta mới có thể mở lòng đón nhận sự tác động của Thánh Linh, Đấng cho phép chúng ta kinh nghiệm tình yêu thiêng liêng. Điều tốt là chúng ta nên tự hỏi mình đang loại bỏ điều gì trong cuộc sống. Đôi khi chúng ta loại bỏ hoặc cắt ngắn một tình bạn, một tình yêu, một hành trình đức tin cộng đồng vì những tình huống phát sinh đòi hỏi chúng ta phải vượt qua sự tự cho mình là đúng. Có những thời điểm trong cuộc sống, có những biến cố khó khăn mà chỉ có thể đối mặt, trải nghiệm và vượt qua bằng tình yêu của Chúa. Chỉ có tình yêu của Chúa mới ban cho chúng ta sức mạnh để hoàn thành cuộc sống của mình. Chúng ta cũng hãy cầu xin ơn để có thể nói vào cuối cuộc đời trần thế này, như Chúa Giê-su đã nói trên thập tự giá: "Mọi sự đã hoàn thành."

+++

Trung tín 

Hôm qua phụng vụ trình bày cho ta đề tài về sự an ủi, hôm nay đề tài về sự trung tín. ‘Chính anh em là muối cho đời. Nhưng nếu muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại’? Muối không thể nên nhạt được, phải giữ đặc tính của nó, phải ‘trung tín’ với chính mình nó. Như thế chúng ta cần phải trung thành với tư cách là con cái Thiên Chúa của chúng ta, để ngăn thế gian, đang đầy dẫy sự băng hoại, không phải đi đến sự hủy diệt. 

‘Chính anh em là ánh sáng cho trần gian’, ánh sáng cháy sáng lên chứ không phải tắt ngúm, ‘để soi chiếu cho mọi người trong nhà’. 

Thánh Phaolô trong thư thứ hai gởi Corintô, giải đáp những chỉ trích và những lên án chống đối Ngài, bằng cách bảo vệ sự trung tín của Ngài: ‘Lời chúng tôi nói với anh em chẳng phải vừa là ‘có’, vừa là ‘không’. Ngài nại đến sự trung tín của Thiên Chúa. Quả thực ‘lòng trung tín của Chúa tồn tại đến muôn đời’. Tất cả những gì Thiên Chúa làm đều trường tồn. Thiên Chúa không rút lại những dự tính của Ngài, không chùn bước trước bao chướng ngại gặp phải trong khi thực hiện, luôn tìm kiếm điều thiện hảo cách trung tín: Thiên Chúa luôn trung tín, Ngài không vừa là ‘có’ vừa là ‘không’. Nơi Đức Giêsu chỉ toàn là ‘có’. 

Điều Đức Giêsu xin cho ta: ‘Ánh sáng của anh em phải chiếu giải trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp của anh em, mà tôn vinh Cha của anh em Đấng ngự trên trời’, Ngài đã thực hiện điều đó. Con của Chúa Cha, đã tôn vinh Cha bằng sự luôn ‘có’ của thiên Chúa. Nơi Đức Giêsu mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là ‘có’, được hoàn tất nơi Ngài; Đức Giêsu là ‘có’, khi thi hành ý muốn của Chúa Cha: ‘Ta làm điều đẹp lòng Người’. Nên chúng ta có thể cậy dựa vào Ngài cách tin tưởng. Là con người, chúng ta hay đổi thay và hay tìm cách thanh minh cho sự bất tín của chúng ta; cái ‘có’ của thiên Chúa nơi Đức Giêsu luôn thường hằng. Muôn đời Thiên Chúa yêu thương chúng ta, muôn đời Thiên Chúa thương xót chúng ta, muôn đời Ngài nâng đỡ chúng ta trong mọi nghịch cảnh.

Chúng ta hãy mở lòng và đón nhận lòng trung tín của Chúa, tư tưởng của Ngài là niềm vui cho ta và chúng ta cầu xin Chúa ban ơn làm vững mạnh lòng chúng ta để trung thành với Ngài, để mọi người nhìn thấy những việc lành của chúng ta mà tôn vinh Thiên Chúa. 

+++

Lạy Chúa, có quá lời không, khi gọi con là muối đất, là ánh sáng thế gian? Có thể được không?

Nếu đây là những lời của một người xu nịnh, có lẽ tôi sẽ không vênh mặt lên như những người kiêu hãnh vui mừng trước những lời ca tụng. Nhưng bởi vì đây là những lời của Chúa. Nên phải là những lời chân thực. Thế nên tôi buộc phải suy tư để tìm ra đâu là ý nghĩa thâm sâu.

Con suy tư và cảm nhận Chúa hiện diện trong con. Chúa ở trong con và hành động trong con và qua con. Người nhìn bằng đôi mắt của con, nghe bằng đôi tai của con, nói bằng miệng lưỡi con, yêu bằng quả tim của con. Vậy làm sao con không thể là muối đất và ánh sáng thế gian khi mà con là chiếc nhà tạm chứa đựng Chúa?

Lạy Chúa, xin làm cho con nên trung thành luôn với sự hiện diện của Chúa, để những người gặp gỡ con, đều nhận ra khuôn mặt của Chúa nơi con. 

Thứ tư Tuần X Thường niên 

Giao ước mới 

Trong bài đọc 1 thánh Phaolô diễn tả tất cả lòng hăng say của Ngài đối với giao ước mới, là ân ban khôn vời của Ba Ngôi cho con người: Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần mời gọi con người vào sống thân tình với Ngài. Thánh Tông đồ gọi tên cả ba Ngôi ngay từ đầu đoạn văn này, nhờ Đức Kitô mà thánh nhân tin tưởng vào Chúa Cha, Đấng biến ngài nên thừa tác viên của giao ước mới trong Thánh Thần. Đức Kitô, Chúa Cha, Chúa Thánh Thần. Và ân ban giao ước mới này được thực hiện đặc biệt trong bí tính Thánh Thể, nơi đó vị linh mục lập lại cùng những lời của Chúa Giêsu: ‘Đây là chén máu giao ước mới’. 

Chúng ta cũng đầy lòng hăng say như Phaolô đối với giao ước mới, thực tại tuyệt vời mà ta đang sống, giao ước mà Ba Ngôi ban cho Giáo Hội, giao ước mới đổi mới mọi sự, luôn luôn đưa ta vào sự mới mẻ của cuộc sống, cho ta tham dự vào mầu nhiệm sự chết và sống lại của Đức Kitô. Máu giao ước mới, mà ta nhận được từ Thánh Thể, nối kết chúng ta với Ngài, trung gian của giao ước mới. Thánh Phaolô so sánh giao ước cũ với giao ước mới. Ngài bảo giao ước cũ được khắc ghi từng chữ trên đá. Đề cập đến giao ước Sinai, nơi Thiên Chúa khắc ghi các điều răn, lề luật của Ngài trên bia đá, để ai tuân giữ thì lưu lại trong giao ước với Ngài. Phaolô đối chiếu giao ước chữ viết với giao ước trongThần Khí. 

Giao ước bằng chữ viết khắc ghi trên bia đá, làm nên những luật lệ bên ngoài, giao ước trong Thần Khí thì nội tại bên trong, viết trong lòng, như tiên tri Giêrêmia đã phán. 

Cụ thể hơn, đề cập đến việc biến đổi con tim: Thiên Chúa tặng ban một quả tim mới để thông truyền Thần Khí mới, Thần Khí của Ngài. Giao ước mới của Thần Khí, Thánh Thần Thiên Chúa. Ngài là giao ước mới, là luật nội tâm mới. Không còn lề luật với những lệnh truyền bên ngoài nữa, nhưng là luật vững chắc, lực thúc đẩy bên trong, tìm nếm cảm việc thực thi ý Chúa, trong khao khát sống phù hợp với tình yêu đến từ Thiên Chúa, hướng ta đến Thiên Chúa, với tình yêu cho ta tham dự vào sự sống của Ba Ngôi. 

Chữ viết thì giết chết, còn Thần khí mới ban sự sống. Chữ viết thì giết chết vì là những lệnh truyền, nếu không tuân giữ sẽ bị kết án. Thần Khí, trái lại, ban sự sống vì làm cho ta có khả năng thi hành ý Chúa và ý Chúa luôn luôn sống động, Thần Khí là sự sống, động lực nội tại bên trong. Do đó niềm vui của giao ước mới thì vượt lên trên niềm vui của giao ước cũ. 

Về giao ước cũ Phaolô nói đến việc phục vụ sự chết, có liên hệ đến hình phạt để ngăn cản con cái Israel sống lầm lạc: bởi vì sức mạnh bên trong chưa có, nên hậu quả tất yếu dẫn đến cái chết. Tuy vậy việc phục vụ sự chết này đã được vinh quang bao phủ: con cái Israel đã không thể nhìn vào thẳng mặt ông Môsê khi ông xuống từ núi Sinai, cũng như khi ông từ Lều Giao Ước trở về, vì mặt ông quá sáng chói. Thánh Phaolô suy luận: ‘Vậy thì việc phục vụ Thần Khí lại không được vinh quang hơn sao? Không nói đến việc phục vụ sự chết, nhưng là sự sống: nếu việc phục vụ án chết mà còn được vinh quang như thế, thì việc phục vụ đức công chính lại chẳng vinh quang hơn lắm sao? Một đàng là sự chết, một đàng là sự sống, một bên là án chết một bên là đức công chính; một đàng là vinh quang chóng qua, một đàng là vinh quang trường tồn, vì giao ước mới thiết lập chúng ta muôn đời trong tình yêu.

+++

Không dễ dàng theo Đức Giêsu. Đối với Chúa lề luật được thiết lập là để giúp ta được hạnh phúc. Điều này không làm hài lòng những con người thời nay, họ tưởng mình biết rõ hơn Đấng tạo hóa của họ điều gì là tốt cho họ. Tựa các bệnh nhân, tin mình biết rõ về loại thuốc trị liệu hiệu nghiệm hơn cho trường hợp của họ, hoặc tựa các trẻ em, cho rằng mình có kinh nghiệm giáo dục hơn cha mẹ. 

Đức Giêsu càng dịu dàng với tội nhân bao nhiêu thì Ngài lại càng gay gắt với tội lỗi bấy nhiêu. Đây là điều mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II không ngừng nhắc đến trong những chuyến tông du.

Thời nào cũng thế, con người luôn muốn định hình Tin mừng theo ý muốn riêng của họ. Do đó sinh ra những giáo phái. Người ta loại bỏ điều quấy rầy họ. Ta hãy đọc lại bài diễn từ của Phaolô trước mặt tổng trấn la-mã Phêlích (Cv 24,24-25). Phêlích cho vời Phaolô đến để nghe ngài nói về niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Nhưng khi Phaolô nói về sự công chính, sự tiết độ và cuộc phán xét mai sau, Phêlích phát sợ và lệnh cho ông lui ra, hứa sẽ gọi ông vào dịp khác.

Cũng thế, nhiều người cảm thấy bị quấy rầy khi một diễn từ đề cập đến vấn đề tiết dục, chay tịnh, tha thứ, công chính hoặc một vài điều khác nữa. Họ rời bỏ nhà thờ và viện đủ mọi lý do để khỏi đến nữa. Nhưng trong thâm tâm họ, trong thẳm sâu của cô tịch, không phải họ đang cảm thấy sợ sao?

Ta phải hết sức khách quan: không có một Tin mừng cho chủ và một tin mừng khác cho nô lệ, không có một tin mừng cho người giàu và một tin mừng khác cho kẻ nghèo. Làm sao có nhiều mặt trời soi chiếu theo yêu sách của từng người được. Thật vậy theo Đức Giêsu không dễ dàng chút nào. Tuy nhiên Ngài nói với ta: ‘Anh em hãy mang lấy ách của tôi…Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng’ (Mt 11,29-30). Hãy tin tưởng nơi Chúa. Ngài biết rõ những giới hạn của ta. Hơn nữa, tất cả những ai bước theo lề luật của Ngài với lòng yêu mến, sẽ được hạnh phúc đời này và cả đời sau nữa.

+++

Các ngươi nhảy khập khiểng hai chân cho tới bao giờ? Nếu Đức Chúa là Thiên Chúa, hãy theo Người; còn nếu là Baan, thì cứ theo nó

Êlia có lời Thiên Chúa trong lòng, trong tâm trí, trong xương thịt. Niềm tin giúp ông coi khinh mọi hình thức tôn giáo khác, qua những cách thức con người, tìm cách sáng tạo ra một ngẫu thần. Bài đọc hôm nay thuật lại cho ta việc Êlia thách thức 450 sư sãi thần Baan: cả hai bên đều có một lễ vật như nhau, một con bò sẵn sàng làm lễ tế nhưng không phải do bàn tay con người. Các sư sãi Baan nhảy nhót la hét suốt ngày, hầu mong xin sự can thiệp của Thiên Chúa theo cách nghĩ của riêng họ. 

Êlia, không cần những công thức ma thuật và những nghi lễ lạ thường, ông khẩn cầu sự hiện diện của Thiên Chúa, bằng cách nhắc cho dân nhớ lại lịch sử mạc khải cứu độ qua Ápraham và Giácóp. Và quả thực Thiên Chúa đã tỏ mình cho toàn dân bằng cách cho lửa thiêu toàn bộ lễ vật.

Lạy Chúa, xin tha thứ cho chúng con khi chúng con yếu đức tin và chạy theo những cách thức cầu khẩn sai lạc, mê tín.

Tôn giáo không phải là một việc trình diễn ngoạn mục. Đức tin cũng không phải là một việc trình diễn ngoạn mục: nhưng là Lời Thiên Chúa và Thánh Thần hoạt động trong lòng.

Thứ năm Tuần X Thường Niên 

Thánh Barnaba 

Chúa Giêsu trải tấm lòng của Ngài nơi mỗi trang tin mừng. Nơi trang tin mừng hôm nay, là một diễn từ sai đi, chúng ta thấy tấm lòng rộng lượng của Ngài. Tính thần khó nghèo tin mừng không được xem như là sự bủn xỉn, nhưng là mở rộng lòng để tin tưởng và quảng đại: như những lời nói của Đức Giêsu minh chứng và như thánh Barnaba đã sống. Đức Giêsu muốn chúng ta sống nghèo vì Ngài muốn chúng ta là những con người tự do, có thể ban phát cách rộng rãi cho mọi người, vì Nước Trời. ‘Các con đã nhận cách nhưng không, thì hãy cho cách nhưng không’. 

Cuộc đời thánh Barnaba minh họa trang tin mừng này. Đoạn sách Công Vụ Tông Đồ thuật lại việc thánh nhân đã bán đi thửa ruộng của mình và mang số tiền lại cho các Tông Đồ, thực hành theo từng chữ một đòi hỏi của Đức Giêsu đối với chàng thanh niên giàu có: ‘Hãy về bán tất cả những gì ngươi có, bố thí cho kẻ nghèo, rồi hãy đến mà theo Ta’. Lòng tin tưởng vào Thiên Chúa thúc đẩy Ngài làm cử chỉ đó, đồng thời cũng cho thấy lòng tin tưởng của ngài đối với người khác. Đến Antiokia, thay vì lo lắng bận tâm cho những người dân ngoại vừa trở lại với Tin Mừng, Barnaba có một phản ứng cởi mở, đầy tin tưởng: ‘Khi tới nơi và thấy ơn Thiên Chúa như vậy, ông Barnaba mừng rỡ’. Không phải là một con người làm tắt đi những nhiệt huyết của người khác bằng những việc buộc tuân giữ tỉ mỉ các luật lệ, ngài là ‘người tốt, đầy ơn Thánh Thần và lòng tin’ và khuyên nhủ mọi người bền lòng gắn bó cùng Chúa: quan trọng là gắn bó cùng Đức Kitô. Và như thế ‘có thêm rất nhiều người theo Chúa’. 

Một nét khác của lòng quảng đại của ngài. Thay vì giữ cho mình độc quyền rao giảng nơi một môi trường thuận lợi, ông đã đi Tarsô tìm Phaolô: ‘Tìm được rồi, ông đưa Saolô đến Antiokia’. Và khi Phaolô trở nên quan trọng hơn ông trong công việc tông đồ cho dân ngoại, sách Công Vụ cũng lập lại những lời nói về ông khi vừa đặt chân đến Antiokia: ‘Thấy ơn Thiên Chúa như vậy, ông mừng rỡ’. 

Nhưng Barnaba không dừng lại nơi việc cổ vũ người khác. Luôn sẳn sàng để Đức Kitô trưng dụng, do đó Thánh Thần dành riêng ông cho sứ vụ rộng lớn hơn: rao giảng tin mừng cho mọi dân tộc. 

Tin tưởng và quảng đại xuất phát từ tâm hồn khó nghèo: đó là điều ta thấy rực sáng lên nơi cuộc đời thánh Barnaba. Chúng ta cầu xin Chúa giúp ta bước đi vui vẻ trên con đường ấy, thành những con người nhân hậu, luôn sẵn sàng, cổ vũ những người mình tiếp cận.

+++

Sách Công vụ các Tông đồ giới thiệu cho chúng ta về Ba-na-ba ngay từ chương 4: Giô-sép, được các tông đồ gọi là Ba-na-ba, có nghĩa là "con trai của sự khích lệ", là một người Lê-vi gốc Síp; ông cũng sở hữu tài sản mà ông đã rộng lượng hiến dâng (x. 4:36-37). Vì vậy, ông là một người Do Thái sống lưu vong, quen thuộc với cuộc sống trong một môi trường văn hóa và tôn giáo phức tạp khác với cộng đồng Kitô hữu đầu tiên ở Giê-ru-sa-lem. Sau này, ông trở thành một trong những nhân vật chính trong các câu chuyện ở phần đầu sách Công vụ: một người truyền giáo không mệt mỏi, năng động và khiêm tốn; một người bạn đồng hành được yêu mến, quyết tâm và trên hết là kiên nhẫn, phù hợp để đồng hành cùng sứ đồ Phao-lô nhiệt thành trong giai đoạn đầu của hành trình Kitô giáo của ông và người mà ông không ngần ngại nhường "ưu tiên".

Các Tông đồ đã giao cho ông những nhiệm vụ tế nhị, đặc biệt là ở Antiôkia. Là một người đức hạnh tràn đầy Thánh Linh và đức tin, ông nhận biết được ân điển đang hoạt động trong con người, vui mừng trước điều đó và khuyến khích họ kiên trì giữ vững lòng trung thành. Ông tìm kiếm và hoan nghênh sự giúp đỡ trong sứ mệnh giảng dạy những người sắp được gọi là Kitô hữu. Nếu hôm nay tôi có thể được gọi là "Kitô hữu", thì tôi cũng mang ơn Barnaba, vì chức vụ khiêm nhường, chu đáo, sáng tạo và vui vẻ của ông... Nhưng liệu có ai nhìn thấy tôi ngày qua ngày có thể nhận ra những đặc điểm này trong tôi và nhận thấy trong hành động của tôi một chức vụ vị tha vì sự phát triển của Giáo hội không? 

Lạy Thánh Barnaba, tông đồ và nhà truyền giáo Tin Mừng, xin ban cho chúng con cũng tin tưởng vào Giáo Hội, giúp chúng con vượt qua những xung đột, bất hòa và tranh cãi, biến chúng con thành những chứng nhân, những người truyền bá Tin Mừng và những người làm việc thiện. Amen.

+++

Một thanh niên kitô hữu bị lạm dụng bởi một người cuồng tín, chỉ biết mỉm cười. Bị đánh đập tàn bạo nhưng anh thanh niên vẫn tiếp tục mỉm cười. Tức tối, kẻ cuồng tín la to: ‘Hãy nói đi, hãy nói cái gì đó đi! Mày chỉ là tên chết nhát! Không được cười nữa, nếu không tao sẽ bắn! Chàng thanh niên kitô hữu trả lời: ‘Này người anh em, nếu công việc của anh, một người cuồng tín là đánh đập tôi, thì công việc của một kitô hữu là tha thứ cho anh’. 

Ba năm sau, người cuồng tín ấy đã lãnh nhận phép Thanh tẩy. Kitô giáo cùng chia sẻ với các tôn giáo khác niềm tin vào Thiên Chúa, sự công chính và lòng bác ái, nhưng khác biệt tận căn với các tôn giáo khác về những điều liên quan đến luân lý.

Luật trả thù (mắt đền mắt răng đền răng) thay thế cho luật rừng (luật của kẻ mạnh), trong khi luật của Đức Kitô đòi hỏi nơi con người điều vượt hơn sức người có thể làm. Chính Thiên Chúa đấng yêu thương và tin tưởng nơi con người, không thể làm gì khác hơn là thần hóa con người, và trở thành con người.

‘Anh em giống như Thiên Chúa’, ‘Anh em là con cái của Thiên Chúa’. Là lời đáp trả cho cám dỗ chọn thiên đàng trần thế.

Và con người sẽ là con cái Thiên Chúa, khi yêu thương địch thù mình bằng sự tha thứ, là điều vượt trên những giới hạn của con người.

Niềm tin tưởng vào Thiên Chúa này khiến ta phải bật khóc vì cảm tạ và tràn đầy sức mạnh và niềm hãnh diện. Đúng thế, tôi phải nhủ lòng rằng tôi có thể làm được tất cả, cùng với Thiên Chúa, hành động như Người, yêu thương như Người và khước từ mọi đố kỵ ghen ghét. Thiên Chúa ở trong tôi, nên cùng với Người và nhờ Người tôi có thể làm được điều không thể.

+++

Khi các ngươi đi, hãy rao giảng rằng: “Nước Thiên Đàng đã gần đến rồi.” Hãy chữa lành người bệnh, làm cho người chết sống lại, tẩy sạch người phong cùi, đuổi quỷ. Các ngươi đã nhận được cách miễn phí, hãy cho đi cách miễn phí.

+++

Mt 10:7-16

Chúa Giê-su đã chọn những cộng sự thân cận nhất của Ngài, hướng dẫn họ và sai họ đi. Ngài trao vào tay họ những việc làm của sự sống: "Chữa lành người bệnh, làm cho người chết sống lại, tẩy sạch người phong cùi, xua trừ ma quỷ." Đó là một món quà mà các tông đồ phải chia sẻ trên đường đi. Cách tiếp cận của họ là sự nhẹ nhàng và nghèo khó, không cho phép tích lũy, mà tìm kiếm sự chấp nhận, một mái nhà mà họ có thể mang lại bình an. Chúng ta thấy cùng một cách tiếp cận đó, ngày qua ngày, được thể hiện trong cuộc đời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, người khiêm nhường tìm cách giới thiệu lại chính Chúa Giê-su, Tin Mừng của Ngài, cho toàn thế giới. Còn chúng ta thì sao? Lạy Chúa, xin giúp chúng con vui vẻ bước đi trên cùng một con đường, nghĩa là trở thành những người nhân ái, sẵn sàng giúp đỡ và khích lệ những người chúng con gặp gỡ.

Thứ sáu Tuần X Thường Niên 

Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu

Hãy học cùng tôi

Trong ngày lễ trọng hôm nay, Giáo hội mời gọi chúng ta suy niệm mầu nhiệm Trái Tim của một Thiên Chúa cảm động và tuôn đổ tất cả tình yêu của Ngài cho nhân loại. Một tình yêu mà, trong các văn bản của Tân Ước, được mặc khải cho chúng ta như là lòng nhiệt thành vô bờ bến của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Trong bài đọc thứ hai, thực tế, chúng ta thấy sự khẳng định lặp đi lặp lại rằng " Thiên Chúa là tình yêu ". Về đoạn này trong thư thứ nhất của Thánh Gioan, Đức Giáo hoàng Benedictô XVI đã viết một thông điệp tuyệt đẹp, Deus caritas est (Thiên Chúa là tình yêu). Trong tiếng Ý, từ "amore" có nghĩa là "không chết". Yêu thương ai đó có nghĩa là làm cho họ hiểu rằng họ sẽ không bao giờ chết vì chúng ta và rằng chúng ta sẵn sàng hi sinh mạng sống của mình cho họ.

Đã bao nhiêu lần chúng ta nghe thấy: "Tôi yêu bạn đến chết". Thật là một lời diễn đạt tuyệt vời!

Lời thốt lên này có nghĩa là chúng ta thực sự yêu thương chỉ khi chúng ta sẵn sàng chết vì người khác và chết đi chính mình để cho người khác được sống trọn vẹn. Trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa không chỉ nói với chúng ta, mà còn cho chúng ta thấy rằng Ngài yêu thương chúng ta đến chết. Làm sao chúng ta, những người đang đắm chìm trong thực tại tuyệt vời của tình yêu thương từ Chúa Cha, lại không yêu thương nhau? Làm sao chúng ta có thể giữ gìn được dòng máu sự sống tuôn chảy từ cây nho, tức là từ Chúa Giê-su, đến những cành cây là chính chúng ta?

Tình yêu—tình yêu đích thực, chứ không phải đam mê, dục vọng, bản năng, sự thỏa mãn…—tạo nên bản sắc của người môn đệ, được sinh ra bởi tình yêu: “ Hãy yêu thương nhau, vì tình yêu đến từ Thiên Chúa: ai yêu thương thì được sinh ra từ Thiên Chúa và biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu ”, và nó chỉ ra con đường để biết Thiên Chúa. Tình yêu bày tỏ lịch sử của Thiên Chúa trong lịch sử: “ không phải chúng ta yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta và sai Con Ngài đến chuộc tội cho chúng ta ”. Vì vậy, tình yêu của cộng đồng Giáo hội là sự đáp lại sáng kiến ​​tự do của Thiên Chúa: “ Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như vậy, thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau. Chưa ai từng thấy Thiên Chúa”. Nếu chúng ta yêu thương nhau, Đức Chúa sẽ ở trong chúng ta, và tình yêu của Ngài sẽ được trọn vẹn trong chúng ta .” Vì vậy, tình yêu thương anh em trở thành thước đo và sự thử nghiệm tình yêu của chúng ta dành cho Chúa.

Thánh sử viết: “ Hãy đến với Ta […] và Ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi .” Điều này có nghĩa là chúng ta phải học cách yêu thương và cầu nguyện với Chúa thường xuyên hơn và tha thiết hơn, không chỉ trong những lúc tăm tối, khó khăn, nản chí. Chúng ta hãy học cách “hiền lành và khiêm nhường trong lòng”, luôn luôn chú ý phân biệt trong cử chỉ và lời nói của Chúa sự hiền lành, sự khiêm nhường trong lòng Ngài, nhận thức rằng chúng ta không bao giờ ngừng học hỏi và hai thái độ này là cần thiết trong đời sống của một Kitô hữu.

Chúng ta hãy thường xuyên hơn, với lòng tin tưởng lớn lao, phó thác mình vào vòng tay của Chúa!Chúng ta cầu xin sự hiền lành của Ngài!

Nếu quả thật lời mời gọi của Chúa Giêsu "hãy ở lại trong tình yêu của Người" (x. Ga 15:9) dành cho mọi người đã được rửa tội, thì trong Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, Ngày Thế giới Thánh hóa các Linh mục, lời mời gọi này càng vang vọng mạnh mẽ hơn đối với các linh mục. Chúng ta hãy luôn cầu nguyện cho các ngài, để các ngài có thể làm chứng hữu hiệu cho tình yêu của Chúa Kitô.

+++

Trong những bình sành 

‘Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi…Nếu tay phải anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi…’ Những lời cứng rắn đó đã được thốt ra từ môi miệng của Đấng được định nghĩa là đấng hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, Đức Giêsu. Đấng tuyên bố ách của ngài êm ái và gánh của ngài nhẹ nhàng. Lòng nhân từ không phải là sự nhu nhược. Đức Kitô, vô cùng nhân từ, đã chết trên thánh giá để giải thoát ta khỏi tội lỗi, không hề thỏa hiệp với tội. 

Trong bài đọc 1, mầu nhiệm của sự chết nhờ qua sự sống lại, đã được thánh Phaolô diễn tả một cách khác: ‘Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp, hoang mang, bị ngược đãi, bị quật ngã…’ Hình như vô lý và gây hoang mang. Gây hoang mang nếu không liên kết với mầu nhiệm của Đức Kitô. Và Phaolô còn thêm: ‘Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi’. ‘Chúng tôi mang sứ vụ tông đồ nơi mình như chứa đựng kho tàng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi’. 

Thật phi lý nếu người kitô hữu muốn sống yên tĩnh, không gặp khó khăn, không thử thách, không xáo trộn: đấy không phải là con đường của Chúa và không thể là con đường của chúng ta. 

Chúa giúp ta nhận ra trong mỗi đau khổ thánh giá của Ngài, nghĩa là con đường đưa đến sự sống. Những lời cứng rắn của tin mừng giống như con dao trong tay của chúng ta để cứu thoát mình bằng những thái độ khiêm tốn và thua thiệt đối với xã hội của chúng ta, là xã hội chỉ muốn thỏa mãn lập tức, hạnh phúc bề ngoài đến từ thuốc phiện, từ ly dị, từ phá thai. Họ tuyên bố đó là những giải phóng và không thấy rằng, từ tội ác này đến tội ác khác, con người đang tiến dần đến tình trạng suy đồi hoàn toàn nhân phẩm. 

Mỗi ngày trong khiêm tốn, chúng ta cầu xin Chúa cho chúng ta được soi chiếu bằng ánh sáng của mầu nhiệm Ngài, để chúng ta có thể trở nên ánh sáng cho đời.

Thứ bảy Tuần X Thường Niên 

Lễ Trái Tim Ven sạch Đức Mẹ

Luca 2:41-51 Luca 2:41-51

Sau lễ trọng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, hôm nay chúng ta cử hành lễ kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Mẹ Maria.

Tin Mừng mà phụng vụ dâng cho chúng ta kể về việc Chúa Giêsu bị lạc trong đền thờ. "Nhưng Hài nhi Giêsu ở lại Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ Người không biết" (2:43). Cha mẹ Người lên đường về nhà, nhưng Chúa Giêsu vẫn ở lại thành thánh. Như vậy, một khoảng cách đã được tạo ra giữa họ. Nhận thức được khoảng cách này không dễ dàng; tất cả các bậc cha mẹ đều phải vật lộn để chấp nhận việc con mình đi theo con đường riêng. Chúng ta có thể hình dung những suy nghĩ và lo lắng của hai bậc cha mẹ bình thường. Khi họ tìm thấy Chúa Giêsu ba ngày sau đó, Đức Mẹ Maria mô tả tình trạng nội tâm và tâm lý của họ như sau: "Cha và mẹ đã lo lắng tìm kiếm con". Tuy nhiên, rõ ràng là không phải Chúa Giêsu bị lạc, mà là cha mẹ đã lạc mất Chúa Giêsu. Thật an tâm khi nghĩ đến khả năng thực sự điều này cũng có thể xảy ra với chúng ta: coi việc Chúa Giê-su hiện diện trong cuộc sống của mình là điều hiển nhiên, trong khi thực tế Ngài không ở đó. Nhưng điều quan trọng không phải là đánh mất Ngài, mà là bắt đầu tìm kiếm Ngài khi chúng ta nhận ra Ngài không còn "ở giữa" cuộc hành trình nữa. Đức Mẹ Maria và Thánh Giuse đã lên đường tìm kiếm: động từ này cho thấy sức sống mãnh liệt được sinh ra từ tình yêu mà không nỗi sợ hãi nào có thể dập tắt.

Trái tim của Đức Mẹ Maria sẽ như thế nào? Một trái tim không còn đau khổ, không xấu hổ khi quay trở lại, để hoán cải. Một trái tim có khả năng kinh ngạc, đón nhận nhiệm vụ đặt câu hỏi. Một trái tim không giả vờ luôn hiểu hoặc chia sẻ kế hoạch của Chúa, mà chấp nhận bước đi khiêm nhường trong sự tương phản của đức tin. Một trái tim biết cách chờ đợi chính xác bởi vì nó không phân tán mà thu gom và giữ gìn mọi thứ trong chính mình.

"Lạy Mẹ Maria, Mẹ của Chúa Giêsu, xin ban cho con trái tim của Mẹ, thật đẹp đẽ, tinh khiết, vô nhiễm, tràn đầy tình yêu thương và khiêm nhường, để con có thể đón nhận Chúa Giêsu trong Bánh Sự Sống, yêu thương Người như Mẹ đã yêu thương Người, và phụng sự Người như người nghèo khổ nhất trong số những người nghèo khổ ." (Mẹ Teresa thành Calcutta)

Lời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô: "Trong gia đình thành Nazareth, sự kinh ngạc chưa bao giờ thiếu, ngay cả trong khoảnh khắc bi kịch như việc Chúa Giêsu bị lạc: đó là khả năng kinh ngạc trước sự hiển lộ dần dần của Con Thiên Chúa. Đó cũng là sự kinh ngạc đã tác động đến các thầy thông thái trong đền thờ, những người đã ngưỡng mộ "sự hiểu biết và những câu trả lời của Ngài" (câu 47). Nhưng kinh ngạc là gì, ngạc nhiên là gì? Ngạc nhiên và kinh ngạc là trái ngược với việc coi mọi thứ là điều hiển nhiên, trái ngược với việc chỉ diễn giải thực tại xung quanh chúng ta và các sự kiện lịch sử theo tiêu chí của riêng mình. Và một người làm như vậy không biết kinh ngạc là gì, ngạc nhiên là gì. Ngạc nhiên là mở lòng với người khác, hiểu lý do của người khác: thái độ này rất quan trọng để hàn gắn những mối quan hệ rạn nứt giữa mọi người, và cũng là điều không thể thiếu để chữa lành những vết thương lòng trong gia đình."  Kinh Truyền Tin, ngày 30 tháng 12 năm 2018

+++

Nếu ta học ở trường lớp của Mẹ Maria, Mẹ sẽ dạy ta lòng khiêm nhượng và sự từ bỏ. Mẹ Maria đã làm cách hoàn hảo bao điều mà Phaolô nói về sự yếu đuối của ngài: ‘Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi’. Mẹ Maria đã chấp nhận thân phận yếu hèn của mình, bé nhỏ và mẹ cảm thấy hạnh phúc vì nhận ra đó là nguyên do cái nhìn cúi xuống của Thiên Chúa: ‘Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi, phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới’.

Nhưng thông thường bằng lòng với số phận khiêm tốn và bé nhỏ, thật khó biết bao! Thật khó khiêm tốn biết bao khi có nhiều lý do để vênh vang! Thánh Phaolô cảnh giác nguy hiểm của sự tự hào ‘vì sự cao cả của những mạc khải Chúa đã ban’; Mẹ Maria được sứ thần chào là đấng đầy ân phúc, luôn bình lặng, vui lòng, hoàn toàn buông mình vào thánh ý Thiên Chúa, chỉ quan tâm một mình Ngài. Và khi Thiên Chúa muốn mẹ làm mẹ của một người con bị kết án thập giá như kẻ phạm thượng, sự đau khổ không làm thay đổi thái độ nội tâm của mẹ: mẹ dõi theo Đức Giêsu, hoàn toàn gắn bó với chương trình của Thiên Chúa, trong bình an, phó thác, cho đến đồi Calvê.

Xin Mẹ giúp ta biết sống khiêm nhu, phó thác, vâng phục thánh ý Chúa trong mọi hoàn cảnh cụ thể.

+++

Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng ta 

Đoạn văn của bài đọc 1 hôm nay giống như một cơn gió xoáy cuốn hút chúng ta vào trung tâm: TÌNH YÊU. Từ đây khởi động những bước chân của người tông đồ. Từ đây xuất phát ‘điều mới mẻ mà các ngôn sứ đã nhắc đến: này đây phát sinh một điều mới: các ngươi không để ý sao? Vâng, người để mình bao bọc bởi ngọn lửa bùng cháy của tình yêu là Đức Kitô, sẽ trở thành ‘một tạo vật mới’, có khả năng định hình cuộc sống mình theo những đòi hỏi của tin mừng. Việc giao hòa trở nên cần thiết không thể không có. Giao hòa với Thiên Chúa để đón nhận ân ban của Ngài, Đấng khép lại cách dứt khoát quá khứ đen tối, vì tội lỗi; giao hòa với anh em, cần đi bước trước đến với anh em. Là sự mới mẻ của một cuộc sống đánh dấu bởi tình yêu mở rộng ra cho cả thế giới, tất cả đều đổi mới. Một bổn phận cho chúng ta ngày nay, các kitô hữu của thế kỷ XXI. Chúng ta không có quyền khóc cho một xã hội đang suy sụp, để từ chối chiến đấu cho Nước Thiên Chúa, cho những giá trị của Nước Thiên Chúa. Với Đấng Phục sinh, tình yêu đã làm dậy sóng cả thế giới. Đức Kitô-Tình yêu đã sống lại: chúng ta đầu tư tất cả cho điều mới mẻ này. Sự mới mẻ này cần phải được thấm sâu vào cuộc sống chúng ta, biến đổi nó thành một ân ban của tình yêu, thể hiện qua từng cử chỉ nhỏ nhặt của cuộc sống hằng ngày. 

Ý thức tình yêu của Đức Kitô, đấng đã chết vì tôi, vì yêu tôi và đã sống lại vì tôi. Tôi cảm nếm mầm mống sự sống mới đang ngấm sâu vào trong tôi và như nguồn sức mạnh, thúc đẩy tôi thực thi những cử chỉ đầy mới mẻ, vì đầy tình yêu.

Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh Antôn Padova

Là một đặc ân lớn cho một tông đồ của Chúa được áp dụng cho chính mình lời ngôn sứ Isaia mà Đức Giêsu đáp từng áp dụng: ‘Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn…’. 

Quả thực Thần Khí Chúa đã ngự trên thánh Antôn Padova, người đã thành công lạ lùng trong việc mang tin mừng cho người nghèo. Ngài đã băng bó những tâm hồn tan vỡ, đã loan báo sự giải thoát cho tù nhân, cách lạ lùng, đến độ được phong thánh chỉ một năm sau khi qua đời. Là điều ngày nay xem chừng ra không thể, nhưng điều đó muốn nói lên lòng tôn kính của dân kitô hữu đối với vị thánh thật lớn lao này.

Trong đoạn văn của ngôn sứ Isaia, ta nhận thấy rõ hoạt động của Thần Khí đấng an ủi, băng bó vết thương tâm hồn, an ủi những người sầu khổ, ta lưu ý đến việc loan báo sự tự do, cho thấy Thần Khí hoạt động như đấng sáng tạo, như đọc thấy trong thánh thi ngày lễ Hiện xuống.

Tất cả chúng ta bị tù đày bởi biết bao ràng buộc, đến từ tâm tính của ta, do hoàn cảnh, do tình trạng sức khỏe, do những tương quan liên vị không luôn hòa hợp…và ta tìm kiếm sự giải thoát.

Nhưng sự giải thoát đích thực đến một cách bất ngờ, một cách ngược đời từ Thần Khí của Thiên Chúa, đấng không giải quyết các vấn đề, nhưng vượt lên trên, đưa chúng ta sống cao thượng hơn.

Trong cuộc đời thánh Antôn Padova, ta nhận thấy sự giải thoát này của Thần Khí. Antôn lẽ ra có thể đã thất vọng, buồn chán ê chề, vì mọi dự tính của ngài đều bị đảo lộn. Ngài muốn làm nhà thừa sai, muốn chết tử đạo nên đã xuống tàu đi đến vùng đất hồi giáo. Nhưng hành trình của ngài không đến đích: thay vì đến vùng dân Árập, ngài lại cập bến đảo Sicilia, Ý, giữa những kitô hữu.

Lẽ ra ngài có thể khóc than suốt cuộc đời còn lại: ‘Tôi không thể thực hiện được ơn gọi của tôi! Trái lại, ngài đã tỏa sáng bất cứ nơi nào mà Chúa mang ngài đến cách bất ưng: ngài bắt đầu rao giảng, phục vụ hết sức mình và để lại danh thơm lạ lùng.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

ducchasi
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập66
  • Máy chủ tìm kiếm16
  • Khách viếng thăm50
  • Hôm nay38,409
  • Tháng hiện tại146,297
  • Tổng lượt truy cập66,896,463

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây