Gẫm chữ "Mắt" từ mắt người đến con mắt đức tin

Thứ bảy - 03/10/2026 18:34  15

 

GẪM CHỮ “MẮT”:

TỪ MẮT NGƯỜI ĐẾN CON MẮT ĐỨC TIN

Nguyễn Kim Binh

 

MỞ ĐẦU: NHÃN TIỀN

Lên sáu, học giáo lý với cha Anrê Nguyễn Lộc Huệ, tôi được nghe: “được xem thấy Chúa nhãn tiền.” Bấy giờ, nhãn tiền với tôi chỉ đơn giản là trước mắt.

Nhiều năm sau, trên giảng đường đại học, tôi gặp lại hai chữ ấy trong bài Cáo tật thị chúng của Mãn Giác thiền sư:

Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tòng đầu thượng lai.

Một từ ngữ, hai lần gặp. Có lẽ, phải đi qua một quãng đời, ta mới bắt đầu gẫm được một chữ.

I. MỞ MẮT: TỪ THẤY ĐẾN HIỂU

Ta bắt đầu cuộc đời bằng một cử động rất đẹp: mở mắt chào đời. Đứa trẻ chưa biết gì về thế giới, nhưng đôi mắt đã bắt đầu nhìn: khuôn mặt mẹ, ánh sáng, màu sắc, chuyển động chung quanh. Từ cái nhìn đầu tiên ấy, con người bắt đầu làm quen với thế giới. Mắt giúp ta nhìn thấy.

Ngôn ngữ học tri nhận chỉ ra: cơ thể con người chính là cội nguồn của mọi ẩn dụ ý niệm. Những thực thể vật lý quen thuộc chính là chất liệu để nhận thức và diễn tả thế giới vô hình của nội tâm. Trong đó, đôi mắt là biểu tượng trung tâm: “Đôi mắt em là cửa sổ tâm hồn” (Xuân Hồng). Có mắt, tiếng Việt sản sinh ra nhiều cách nhìn: nhìn, ngắm, xem, dòm, ngó, quan sát, chiêm ngưỡng... Mắt gợi tả muôn hình vạn trạng của cái đẹp: mắt trong, mắt xanh, mắt biếc, mắt nai…

Mắt đi vào thơ ca, âm nhạc, tình yêu như một lẽ thường tình. Sức mạnh tri nhận của đôi mắt càng thăng hoa khi nó vượt qua giới hạn sinh học để ôm cả một vũ trụ nhận thức và cảm xúc: “Trong đôi mắt em, anh là tất cả...” (Đức Huy). Giác quan nhỏ bé ấy đủ rộng đủ lớn để ôm trọn cả thế giới và tâm hồn con người.

Trong kho tàng từ ngữ Hán–Việt, mục, thị, nhãn đều mang nghĩa với mắt nhưng mang sắc thái riêng. Rõ nhất là nhãn: nhãn tiền, nhãn quan, nhãn lực. Đặc biệt, nhãn quan đã vượt xa con mắt sinh học để thành cách nhìn, tầm nhìn, quan điểm. Từ “người trần mắt thịt” hữu hạn, tiếng Việt mở rộng ra vô vàn sắc thái: mắt biết, mắt cảm, mắt sợ, mắt thương…

Nhưng mắt vẫn dung chứa đầy những nghịch lý. Có khi nhìn mà chẳng hiểu. Thấy trước mắt nhưng mãi vẫn không nhận  ra. Sự việc, hiện tượng tưởng chừng chứng kiến “tận mắt”, nhưng sống càng lâu ta càng nghiệm ra: thấy vậy nhưng không phải vậy.

Chuyện Khổng Tử và Nhan Hồi là một minh họa. Khổng Tử tận mắt nhìn thấy Nhan Hồi lấy cơm trong nồi ăn trước, rồi buồn vì nghĩ học trò ăn vụng. Mãi sau ông mới nhận ra Nhan Hồi ăn phần cơm đã bị bụi bẩn rơi vào, vì không muốn bỏ phí khi mọi người đang đói. Tận mắt thấy thật đó, mà vẫn có thể hiểu sai.

Trưởng thành, vì thế, đâu chỉ là nhìn thấy được nhiều hơn, mà còn là học cách nhìn sâu hơn, rộng hơn và cao hơn.

 

II. NHÌN NGANG, NHÌN THẲNG: ĐỂ GẶP MỘT CON NGƯỜI

Ta thường nhìn ngang để thấy người bên cạnh. Nhưng thấy một người chưa chắc đã là nhận ra được con người ấy, dẫu là thân quen.

Trên đường Emmaus, trong nỗi thất vọng và chán chường sau cái chết của Đức Giêsu, hai môn đệ đã gặp Người, cùng đi và nghe Người giải thích Kinh Thánh. Thế mà họ vẫn không nhận ra. Mãi đến lúc Người bẻ bánh, mắt họ mới sáng ra và nhận ra Người (x. Lc 24,13-35).

Hóa ra, có những lúc ta đi ngay cạnh một người, nhưng ta vẫn chưa thật sự gặp được họ.

Eye Gazing for Couples: A Step-by-Step Guide to Deep Connection - VitarsisNhạc sĩ Hoàng Vân từng viết: “Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt”. Quả thật, ánh mắt có thể là điểm khởi đầu của một mối tình, nhưng không thể thay thế cả một hành trình để thấu hiểu một con người.

“Thanh xuân” của tôi nối dài qua hai thập niên, hai thế hệ. Thập niên 80, thời mà tiếng Nga còn được khuyến khích thì câu thơ của nữ thi sĩ Armenia Silva Kaputikyan như đã nằm lòng:

“Sao anh không tin đôi mắt?
Sao anh lại tin lời nói?”

Bẵng một thời gian, tôi trở lại với giảng đường, và lại nghe người trẻ hát về đôi mắt bằng một ngôn ngữ sôi nổi hơn, khác với gam màu xưa:

“Hãy nhìn vào đôi mắt em đây
Hãy nhìn vào tận trái tim này
Hãy nhìn vào đôi mắt thơ ngây
Anh sẽ hiểu được trái tim em.”

Con gái - Ngọc Lễ

Hai thập niên, hai cách nói, nhưng dường như cùng gửi gắm một thông điệp rất người: muốn được nhìn để được hiểu.

Bởi người ta cũng lạ lắm: miệng có thể thốt ra những lời giận hờn, che đậy, nhưng ánh mắt nhiều khi lại không biết dối gian. Lắm lúc, chỉ một câu hỏi rất khẽ cũng đủ xao xuyến, khắc khoải:

“Sao anh không nhìn vào mắt em?”

Ta đâu chỉ muốn được nhìn mà còn muốn được hiểu, muốn “nửa kia” hiện hữu bằng cả tâm hồn và con tim.

Để hiểu một người, ta cần nhìn sâu hơn: ngắm khuôn mặt khi họ vui, ánh mắt họ lúc buồn, nhìn thấy cách họ đối xử với người yếu thế, và cả những điều họ làm khi chẳng ai quan sát.

Nhìn thẳng còn có nghĩa là dám nhìn vào sự thật, không né tránh điều khó chịu và càng không để thành kiến che mờ thực tế.

Trong một thời đại mà người ta thích dán mắt vào màn hình mỗi ngày, câu hỏi đặt ra lại càng đáng suy gẫm:

Kết nối có đồng nghĩa với để mắt đến nhau không?

Mở mắt ra, ta có thể nhìn thấy cả một thế giới: những điều đang xảy ra rất xa, trố mắt ngạc nhiên với những sự kiện, con người cách mình nửa vòng trái đất, dõi mắt theo bao khuôn mặt mà mình chưa từng gặp. Nhưng liệu ta có trơ mắt hờ hững với người bên cạnh? Có còn nhìn vào mắt của những người thân thuộc đang ở ngay trước mắt mình không?

Bỏ nhiều giờ gắn chặt mắt mình vào màn hình nhỏ xíu, nhưng đôi khi ta lại bịt mắt ngó lơ trước một nỗi buồn ngay chính trong nhà mình. Ta háo hức mở mắt ra với thế giới, nhưng lại nhắm mắt dửng dưng với người kề cận và thân thuộc. 

Bởi có những khoảng cách không đo bằng cây số mà chỉ bằng một ánh mắt. Người Việt thường tự nhủ: “Nhìn lên thấy mình không bằng ai, nhìn xuống thì thấy chưa chắc ai bằng mình.”

Nghe qua, có lẽ là hơn thua. Nhưng gẫm kỹ, câu ấy còn dạy ta về cách nhìn:  Nhìn lên hay nhìn xuống cũng chỉ là để so sánh mình với người khác. Hai hướng nhìn, nếu quy về hơn thua, đều có thể kéo ánh mắt trở về với cái tôi.

Điều quan trọng, có lẽ, không phải là nhìn về đâu, mà là nhìn bằng đôi mắt nào.

Nếu nhìn ngang giúp ta gặp một người, thì nhìn xuống, không phải để xem thường, mà là cúi mình để gần với phận người hơn.

Luke 6:36 Prayer: A Prayer for Divine Mercy and Compassion | Bible ArtIII. MẮT CẢM: CÚI XUỐNG ĐỂ THẤY NGƯỜI

Có những nỗi đau mà mắt thịt thường khó thấu thị: giọt nước mắt không rơi, nỗi buồn giấu sau nụ cười. Điều cần cho những nỗi đau hữu hình ấy không phải là con mắt soi mói, xét nét đúng sai, mà là một ánh mắt biết dừng lại đủ lâu, đủ ấm để người đau không thấy mình lẻ loi. Đó là lúc đôi mắt không chỉ thấu thị mà là bắt đầu thấu cảm.

Ta càng hiểu hơn vì sao Trịnh Công Sơn lại viết: “Còn hai con mắt khóc người một con.”

Thật diệu kỳ khi mắt mình có thể rơi lệ vì nỗi đau của một người khác, bước ra khỏi cái tôi chật hẹp để chung một nhịp đập với tha nhân.

Trớ trêu thay, đôi mắt cũng có những góc tối: sự đố kỵ.

Lời Chúa vang lên qua câu hỏi sắc sảo của Đức Giêsu:

“Hay mắt anh ghen tỵ vì tôi nhân lành?” (Mt 20,15).

Giới trẻ ngày nay vẫn đùa với tiếng lóng GATO - ghen ăn tức ở, nhưng gẫm kỹ, con mắt ghen tỵ thì chưa bao giờ là chuyện đùa. Nó là thứ độc dược gặm nhấm tâm hồn. Mỗi ngày, ta lướt mắt, ngắm nghía bao “thành công” của người khác trên mạng, rồi so sánh, bình phẩm, có khi biến những thành công ấy thành “gai mắt”, “chướng mắt” trong con mắt mình. Đáng buồn hơn là khi ta lại thấy “vui mắt”, “vừa mắt” khi người khác thất bại, đau khổ.

Những gì ta thấy trên màn hình vốn chỉ là một phần của đời sống. Thế nhưng, mắt cứ nhìn, lòng cứ so, rồi từ đó sinh ra hơn thua, từ hơn thua mà sinh ra đố kỵ. Có khi lòng ta khó chịu không phải vì mình thiếu thốn, mà chỉ vì thấy người khác có điều mình không có.

Con mắt ấy đâu chỉ gây nên sự hằn học, tổn thương tha nhân, mà còn quay ngược lại, tự đày ải chính mình vào ngục tù của sự cay đắng.

Định kiến và tị hiềm tựa chiếc “kính lọc” bóp méo mọi thiện ý. Bởi vậy, mắt không chỉ cần mở, mà còn cần được thanh lọc để:

  • Nhìn sâu hơn một hành vi.

  • Nhìn xa hơn một lầm lỡ.

  • Nhìn vượt qua vẻ bề ngoài.

  • Nhìn thấy con người trước khi nhìn thấy lỗi lầm của họ.

Đó là ánh mắt xót thương. Xót thương không làm ta mờ mắt, hay mù lòa trước cái sai, nhưng là không “tối mắt” trước phẩm giá của một con người. Đức Giêsu đã từng nhắc nhở: “Sao ngươi nhìn cái rác trong con mắt của người anh em, mà lại không nhận thấy cái xà trong con mắt chính mình?” (Mt 7,3). Người không bảo ta nhắm mắt trước lỗi lầm của người khác nhưng mời gọi ta nhìn lại chính mình, trước khi đưa mắt xét đoán tha nhân.

Bởi có khi, điều cần rửa sạch trước tiên không phải là con mắt của người khác, mà là cách nhìn của con mắt mình.

IV. NGƯỚC MẮT: ĐỂ THẤY XA HƠN VÀ CON MẮT ĐỨC TIN

Nếu nhìn ngang giúp ta gặp người, nhìn xuống giúp ta thấy người, rồi nhìn lại giúp ta thấy chính mình, thì đôi mắt còn có một hướng nhìn khác: ngước lên.

Không chỉ nhìn được những gì có trước mặt, mắt còn có thể ngước lên bầu trời vợi xa; khép hờ mi mắt trong thinh lặng cầu nguyện, để nhận ra có những điều mà giác quan chẳng thể chạm tới. Từ đây, “mắt” bước vào một chiều kích khác: con mắt đức tin. Thánh Luca kể lời ông Simêon:

“Chính mắt con đã được thấy ơn cứu độ.” (Lc 2,30). Nhưng Đức Giêsu lại nói: “Phúc thay những ai không thấy mà tin.” (Ga 20,29).

Có những điều mắt thấy mà lòng chưa chắc hiểu; cũng có những điều mắt không thấy mà lòng vẫn tin. Cho nên,  ngước mắt còn là sự trông đợi.

Trong đời sống, có những đôi mắt đợi chồng, ngóng con, mong ngày trở về. Hòn Vọng Phu của người Việt đứng đó như một biểu tượng của sự chờ đợi. Tuy nhiên, có những sự đợi chờ trong đời lại dẫn đến thất vọng hay vô vọng. Bởi, ta không thể chờ mãi điều mà không bao giờ đến.

Con mắt đức tin thì khác. Đó cũng là một con mắt chờ đợi, nhưng là chờ đợi trong hy vọng.

“Mắt tôi mòn mỏi trông chờ lời Chúa hứa.” (Tv 119,82).

Dân Israel đi trong sa mạc cũng đã có một cách nhìn như thế. Họ chưa biết con đường phía trước sẽ dẫn đến đâu, nhưng đêm đến, “cột lửa vẫn đi trước họ”, như một dấu chỉ Thiên Chúa vẫn đang dẫn đường (x. Xh 13,21-22).

Blagdan Sveta tri kralja - Velika Gorica OnlineRồi một đêm khác, những nhà chiêm tinh từ phương Đông “nhìn thấy một vì sao”. Họ nhận ra dấu chỉ, lên đường và cuối cùng gặp được Hài Nhi Giêsu (x. Mt 2,1-11).

Có lẽ ngước mắt không chỉ là nhìn lên mà còn là một tư thế của lòng tin: tin rằng phía trước còn có một điều đáng để chờ đợi, và Đấng mình trông cậy đang dẫn mình đi.

Ta bắt gặp đôi mắt ấy ở Thánh nữ Mônica, những giọt nước mắt chờ đợi chồng con trở về với Chúa; các tín hữu bị bách hại vẫn kiên trì trong niềm tin; các Thánh Tử đạo Việt Nam hiên ngang bước vào cái chết, đặt trọn niềm tín thác vào sự sống đời sau.

Có lẽ, con mắt đức tin không phải là con mắt đã thấy hết, biết hết, hiểu hết mà là con mắt vẫn ngước lên khi chưa thấy. Ngước lên để trông chờ. Trông chờ trong hy vọng. Và từ hy vọng, phó thác vào Đấng mình tin thờ.

Bởi vậy, hành trình của đôi mắt không chỉ là thấy → hiểu → cảm → thương → tin, mà còn phải bước tiếp: tin → trông cậy → phó thác.

Có những lúc nước mắt làm nhòe mắt ta, nhưng chính trong những giọt nước mắt ấy, ta vẫn có thể ngước lên cao, hướng về phía trước.

 

KẾT: TA PHẢI NHÌN ĐỜI BẰNG ĐÔI MẮT NÀO?

Sau cùng, “gẫm” chữ mắt không phải để tìm thêm một khái niệm thuần túy của ngôn ngữ học, mà để tự hỏi chính mình:

Ta đang nhìn cuộc đời này bằng đôi mắt nào?

Có lẽ, ta luôn cần một đôi mắt biết nhìn chậm lại để hiểu sâu hơn, cúi xuống để thương, nhìn thẳng để sống thật, và ngước lên để trông cậy.

Bởi từ mắt đến lòng chưa bao giờ là một con đường thẳng. Thấy có thể dẫn đến hiểu; hiểu có thể mở ra cảm thông; cảm thông có thể đưa ta đến yêu thương. Và thậm chí, khi mắt không còn thấy rõ đường đi, ta vẫn có thể tín thác và nhìn lên cao, hướng về phía trước. 

Ta mở mắt chào đời, rồi suốt một đời cặm cụi học cách nhìn, cho đến một ngày… nhắm mắt xuôi tay.

Điều còn lại, có lẽ, chẳng phải là ta đã chiêm ngưỡng bao nhiêu thứ lấp lánh trên đời, mà là: trong hành trình ngắn ngủi của phận người, ta đã thực sự gặp được bao nhiêu người, đã thấu cảm và xót thương bao nhiêu phận đời, và nhất là có nhận ra Đấng vẫn âm thầm hiện hữu: nhãn tiền.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Từ điển và ngữ liệu tiếng Việt

  • Hoàng Phê (Chủ biên, 2020). Từ điển tiếng Việt. Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học.

  • Nguyễn Lân (2000). Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam. Hà Nội: NXB Văn học.

2. Ngôn ngữ học tri nhận & Văn học

  • Lakoff, George; & Johnson, Mark (1980). Metaphors We Live By. Chicago: University of Chicago Press.

  • Trần Văn Cơ (2007). Ngôn ngữ học tri nhận: Ghi chép và suy nghĩ. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.

  • Silva Kaputikyan (Thơ phỏng dịch/ký ức văn học Xô Viết).

3. Kinh Thánh và tài liệu phụng vụ

  • Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (2011). Kinh Thánh. Hà Nội: NXB Tôn giáo.

 

 

Tác giả: peternguyen

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

ducchasi
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập182
  • Máy chủ tìm kiếm8
  • Khách viếng thăm174
  • Hôm nay42,382
  • Tháng hiện tại133,385
  • Tổng lượt truy cập71,009,800

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây