Suy Niệm Tuần XIV TN - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thứ bảy - 05/07/2025 05:15  434
Chúa Nhật XIV TN/C
Cộng đồng hiếu khách, được hình thành trong Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô và truyền giáo
Cộng đồng hiếu khách
Vào cuối thời kỳ lưu đày ở Babylon, khi người Do Thái có thể trở về vùng đất Juđa và Israel, mọi người đều mơ về việc tái thiết đền thờ Jerusalem và một tương lai hòa bình. Đây là ý nghĩa chung của lời tiên tri Isaia, được trao cho chúng ta tại bàn tiệc Lời Chúa vào Chúa Nhật này. Jerusalem mới, được tiên tri Isaia công bố, trở thành hình ảnh tượng trưng cho Giáo hội đối với chúng ta. Jerusalem mới có thể được so sánh với mọi cộng đồng Kitô giáo hiện diện trên thế giới, được kêu gọi trở thành dấu chỉ bí tích và chồi non của vương quốc hòa bình và công lý của Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại và trong sự chăm sóc khẩn cấp cho sự bền vững của ngôi nhà chung của chúng ta, đó là hành tinh Trái đất của chúng ta, đang bị dày vò bởi các sự kiện khắc nghiệt của khí hậu, hạn hán và lũ lụt, nạn phá rừng và hỏa hoạn và bởi năm mươi sáu cuộc chiến tranh đang gây chết chóc cho nhiều dân tộc trong những ngày này, gây ra sự hủy diệt hơn nữa đối với cuộc sống con người và ô nhiễm môi trường.
Đoàn kết trong đức ái, chúng ta được kêu gọi đảm bảo rằng cộng đồng Kitô giáo của chúng ta chào đón như một người phụ nữ trao tặng sữa mẹ cho đứa con của mình. Theo cách này, chúng ta có thể thấy phần đầu tiên của lời tiên tri của Isaia trở thành sự thật: ‘Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy hân hoan vì thành, hỡi tất cả những ai yêu mến thành. Hãy vui mừng với thành, hỡi tất cả những ai than khóc thành. Như vậy, các ngươi sẽ bú và được no nê bên bầu ngực an ủi của thành; các ngươi sẽ bú và vui sướng bên bầu ngực vinh quang của thành’(Is 66:10-11).
Mỗi người chúng ta phải giúp cộng đồng Kitô hữu của mình ngày càng hiếu khách hơn, trở thành nơi bình an, nơi không ai cảm thấy bị loại trừ hay phán xét, nhưng có thể tìm thấy sự an ủi điển hình của một đứa trẻ được nuôi dưỡng an toàn trong bầu ngực của mẹ mình.
Điều này có thể xảy ra vào mỗi Chúa Nhật, khi cộng đồng tụ họp để cử hành Ngày của Chúa, thông qua việc chăm sóc mục vụ chào đón, coi trọng mỗi người bước vào nhà thờ để tạo nên cộng đồng phụng vụ để họ cảm thấy như ở nhà.
Điều này cũng có thể xảy ra thông qua các nhóm và phong trào mục vụ cung cấp những cơ hội tuyệt vời cho các mối quan hệ trong các nhóm nhỏ và lớn, nơi có khả năng cụ thể để trải nghiệm các mối quan hệ tự do của tình anh em và chia sẻ đức tin và cuộc sống.
Trong lễ mừng Chúa Nhật của Ngày của Chúa, được chuẩn bị chu đáo với các thừa tác vụ phụng vụ thực hiện hoạt động của dân Chúa, Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Con trong Chúa Thánh Thần, hiến mình cho mỗi người chúng ta như một người mẹ an ủi, qua đó hiện thực hóa phần thứ hai trong lời tiên tri của Isaia: ‘Vì Chúa phán thế này: 'Này, Ta sẽ ban cho nó sự bình an như một dòng sông, và vinh quang của các dân tộc như một trận hồng thủy. Các ngươi sẽ được bú mớm và ẵm trong cánh tay Ta, và được vuốt ve trên đầu gối Ta. Như người mẹ an ủi con mình, Ta cũng sẽ an ủi các ngươi; các ngươi sẽ được an ủi tại Giêrusalem’ (Is 66:12-13).
Đó là hành động của chính Thiên Chúa thay mặt chúng ta, vì chúng ta là dân của Người. Sự an ủi mà chúng ta nhận được từ chính Thiên Chúa vào lúc cử hành Ngày của Chúa là sữa mẹ của Lời Chúa và sự âu yếm của sự hiệp thông Thánh Thể của chúng ta với Mình và Máu Chúa Kitô. Đó là sự an ủi nhận được nhờ vào món quà là Lời Chúa và Bí tích Thánh Thể.
Cộng đoàn được hình thành trong Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô
Sự an ủi của sữa mẹ của Lời Chúa và sự thân thiết của sự hiệp thông Thánh Thể, mà chúng ta có thể trải nghiệm trong lễ Chúa Nhật mừng Ngày của Chúa, ngày càng củng cố cộng đoàn của chúng ta trong việc tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô đã chết và đã sống lại và trong chứng tá hoán cải làm cho chúng ta trở thành những tạo vật mới.
Tất cả chúng ta đều muốn vinh danh thập giá của Chúa Giêsu Kitô, là sự cứu rỗi của chúng ta, là sự sống của chúng ta, là hy vọng phục sinh của chúng ta, và qua Người chúng ta đã được cứu và giải thoát.
Tất cả chúng ta đều muốn vinh danh thập giá của Chúa Giêsu Kitô. Qua Người, thế gian bị đóng đinh vì chúng ta, cũng như chúng ta bị đóng đinh vì thế gian, vì điều quan trọng là trở thành một tạo vật mới. Mỗi người chúng ta, bằng cách thường xuyên tham gia vào bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, sẽ có thể định hình cuộc sống của mình bằng cách tập trung vào mầu nhiệm về cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, và sẽ có thể biến lời chứng của sứ đồ Phaolô thành của riêng mình: ‘Tôi chẳng khoe khoang gì ngoài thập giá của Chúa chúng ta là Chúa Giêsu Kitô, nhờ thập giá đó thế gian đã bị đóng đinh đối với tôi, và tôi đối với thế gian. Vì điều quan trọng không phải là cắt bì hay không cắt bì, mà là anh em là một tạo vật mới’ (Gal 6:14-15).
Trong mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu, chúng ta giữ ngọn lửa hy vọng của mình luôn cháy sáng, tin rằng Chúa Kitô phục sinh vẫn tiếp tục là Chúa của cuộc sống chúng ta và của lịch sử nhân loại, và tin tưởng vào quyền năng biến đổi của Chúa Thánh Thần.
Cộng đồng truyền giáo
Do đó, chúng ta chỉ sẵn sàng cho sứ mệnh, tất cả đều hiệp nhất, khi chúng ta được an ủi và củng cố trong đức tin của mình vào Chúa Kitô, Đấng đã chết và sống lại. Sứ mệnh bên ngoài Giáo hội là một thách thức lớn vì ‘vì Chúa Kitô, trung tâm của cuộc sống chúng ta, thế gian đã bị đóng đinh vì chúng ta’ (Gal 6:14b).
Có nhiều dấu hiệu của cái chết đến với chúng ta, khi phải sống trong thế giới này: họ là những nạn nhân bị đóng đinh của chiến tranh, bất công và thiên tai, những người không thể tìm thấy hòa bình và một cuộc sống đàng hoàng. Họ là những nạn nhân bị đóng đinh của tệ nạn rượu, ma túy, thuốc lá, cờ bạc và tiếp xúc độc quyền trong thế giới ảo của các mạng xã hội. Họ là những nạn nhân bị đóng đinh của chứng trầm cảm, cô lập và tuyệt vọng vì đã mất liên lạc với Chúa Thánh Thần đang sống trong họ, vì họ bị lừa dối bởi sự sùng bái giả dối của chủ nghĩa tiêu dùng, tiền bạc, hư vinh và sự tự do vô điều kiện. Họ là những người bị đóng đinh, những người đau khổ vì đau đớn, bệnh tật, bị bỏ rơi, họ là những người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất, chẳng hạn như trẻ em và người già.
‘Vì Chúa Kitô đã chết và sống lại, là trung tâm của cuộc sống chúng ta, chúng ta đã bị đóng đinh vì thế gian’ (Gal 6:14c). Chúng tôi sẵn sàng hy sinh bản thân để biến cộng đồng Kitô hữu của chúng ta thành một Giáo hội hướng ngoại có lòng can đảm vươn tới các vùng ngoại vi xã hội, văn hóa và hiện sinh của nhân loại, thúc đẩy các hoạt động từ thiện thông qua tổ chức Caritas và các hội đoàn nhỏ của các nhóm Kinh thánh, để mang đến cơ hội gặp gỡ cầu nguyện với Lời Chúa tại nhà của mọi người. Gặp gỡ cầu nguyện với Lời Chúa hoặc với kinh mân côi, được thực hiện tại nhà của mọi người, mang đến sự bình an của Chúa Kitô phục sinh, củng cố đức tin, thắp lại hy vọng và thúc đẩy chúng ta làm từ thiện.
Sự cởi mở truyền giáo khiến chúng ta sợ hãi, bởi vì chúng ta cảm thấy bất lực trước nỗi đau khổ của mọi người và sự chai đá trong lòng của nhiều người, được tiếp cận thông qua lời công bố và chứng tá cuộc sống của chúng ta.
Những chỉ dẫn mà Chúa Giêsu ban cho bảy mươi hai môn đồ mà Người sai đi khiến chúng ta tin nhiều hơn vào sự chủ động của Chúa Thánh Thần hơn là vào chính chúng ta và vào những phương tiện chúng ta có trong tay. Mặc dù chúng ta bước đi như những con chiên giữa bầy sói, vì chúng ta luôn bị bách hại khi chúng ta muốn trở nên nhân từ, trong sạch trong tâm hồn và là những người thúc đẩy hòa bình, chúng ta tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa không bao giờ để chúng ta thiếu những gì chúng ta cần để sống một cách đàng hoàng và thực hiện công việc truyền giáo của mình. Chúa Thánh Thần đi trước chúng ta trong hành động truyền giáo của chúng ta và mang đến cho chúng ta niềm vui được truyền giáo cho chính mình bởi những người chúng ta gặp gỡ và thăm viếng, những người chào đón chúng ta trong sự đơn sơ của cuộc sống của họ. Chúng ta sẽ không bao giờ có thể gặp gỡ tất cả mọi người. Trong các cuộc họp mà chúng ta có, chúng ta có thể giữ cho ngọn lửa hy vọng của mình luôn cháy sáng, giúp đỡ nhau khám phá ra rằng Vương quốc của Chúa đã hoạt động giữa chúng ta. Chúng ta chỉ cần biết cách chiêm ngưỡng trong mỗi con người phẩm giá của họ như một người con yêu dấu của Chúa. Chúa Thánh Thần sẽ giúp biến đổi phẩm giá này từ một chấm sáng nhỏ giữa bóng tối thành một cuộc sống mới, rực rỡ và được giải thoát, ‘tuyên bố những kỳ công của Chúa’ (Tv 65:3a).
+++
Tên được viết trên trời
Vào Chúa Nhật thứ 14 của Mùa Thường Niên, Luca kể cho chúng ta về việc Chúa Giêsu sai bảy mươi hai môn đồ đi truyền giáo. Từ con số nhỏ là mười hai, con số đã tăng lên, một dấu hiệu cho thấy sự gắn bó ngày càng tăng với việc theo Chúa Giêsu. Thầy gọi, mời con người làm việc hiệp lực với Người và để các môn đồ đi trước Người ‘trong mọi thành phố và nơi Người sắp đến’.
Những người được sai đi phải biết rằng kinh nghiệm truyền giáo rất khó khăn và đòi hỏi sự đầu tư toàn bộ của bản thân. Có rất nhiều việc phải làm: công việc được so sánh với công việc đòi hỏi một vụ mùa bội thu. Chúa Giêsu bắt đầu bằng việc quan sát thấy sự mất cân đối đáng kể giữa khối lượng công việc và những người thực sự đầu tư vào công việc đó: số lượng thợ gặt rất ít. Giải pháp là cầu nguyện, cầu xin với Chúa Cha để Người sai thêm nhiều thợ gặt nữa. Chính ân sủng của Chúa là yếu tố đầu tiên khởi động công việc. Con người không thể không đi theo.
Chúa Giêsu sai các môn đồ của mình đi truyền giáo không phải như một vị tướng lãnh đạo quân đội của mình. Người không yêu cầu họ tự trang bị vũ khí, mà ngược lại, để họ bớt gánh nặng. Hơn cả lời kêu gọi một cuộc viễn chinh quân sự, sứ mệnh này kêu gọi một cuộc leo núi: bạn càng nhẹ thì càng dễ leo. Tuy nhiên, sứ mệnh không phải là một trải nghiệm hòa bình: các tông đồ phải đối mặt với những trở ngại, mối đe dọa và nguy hiểm. Chúa Giêsu định nghĩa các nhà truyền giáo bằng một hình ảnh khiến bất kỳ ai cũng phải bỏ chạy: họ là ‘những con chiên giữa bầy sói’. Địa vị của các nhà truyền giáo là sự hiền lành giải trừ vũ khí của bạo lực thù địch nhất. Sự giải trừ vũ khí này được khuếch đại bởi sự tỉnh táo cực độ - không có thiết bị của người hành hương, không có túi xách và giày dép! - và bằng sự vội vàng đến mức tránh dừng lại ngay cả một lúc để chào hỏi trên đường đi.
Mục đích của các nhà truyền giáo là cầu xin hòa bình cho các gia đình, tạo ra sự thân mật với khách mà chỉ có thể thiết lập được xung quanh cùng một chiếc bàn, mà không bao giờ ép buộc, tôn trọng quyền tự do của người khác. Sự thân mật này là cơ sở để ghép thông điệp về vương quốc và sự năng động của sự gần gũi thông qua một hoạt động biến những người bệnh thành những người được hưởng đặc quyền của hành động truyền giáo. Chúa Giêsu cũng tham gia vào hành động tố cáo mang tính tiên tri nhằm mang lại sự hoán cải trong số các nhà truyền giáo. Lời loan báo về Vương quốc không phải là một lời nói suông giữa nhiều lời, nhưng là mỏ neo cứu rỗi mà Thiên Chúa ném đến cho cả những tội nhân cứng lòng nhất để họ quay trở về với Ngài.
Đối với những chú cừu có khả năng tự vệ ngay cả trước bầy sói, Chúa Giêsu cuối cùng đã chia sẻ quyền năng chế ngự ma quỷ của Người, một hành động mang lại niềm vui lớn cho các nhà truyền giáo. Việc công bố vương quốc, hoạt động trị liệu và trừ tà là bộ ba mà chức vụ của Chúa Giêsu dựa trên và là biểu hiện của hoạt động truyền giáo và hợp tác của bảy mươi hai môn đồ, một dấu hiệu cho thấy họ tham gia đầy đủ vào quyền năng của Người. Trong niềm vui của các môn đồ vì ma quỷ khuất phục họ, người ta dường như cảm thấy một chút tự hào. Sau đó, Chúa Giêsu đã sửa sai họ. Niềm hạnh phúc của một nhà truyền giáo phải dựa trên một động lực sâu sắc hơn. Sứ mệnh không phải là sự thể hiện quyền năng, ngay cả khi mang tính chất tâm linh, mà là sự truyền đạt kinh nghiệm về một cuộc gặp gỡ không thể phai mờ, sự chiếu rọi tình yêu trung thành của một Thiên Chúa, Đấng thậm chí trước khi ban những món quà lớn lao cho con người, đã khắc tên họ trên thiên đàng. Thiên Chúa yêu thương theo kiểu hôn nhân: như một người yêu viết tên người mình yêu ở khắp mọi nơi, gần như để bày tỏ mong muốn không bao giờ quên và làm cho tình yêu trở nên vĩnh cửu, thì Thiên Chúa cũng ở cùng chúng ta. Vì lý do này, trở thành một Giáo hội hướng ngoại đối với chúng ta bao gồm việc đưa vào việc thông truyền tình yêu đã chọn chúng ta trước tiên và cam kết truyền bá tình yêu đó ở mọi nơi và mọi lúc.

+++
Chúa Nhật XIV  TN/B
Suy Niệm Ez 2,2-5; Tv 122; 2Cr 12,7-10; Mc 6,1-6
Các bài đọc phụng vụ đề nghị với chúng ta Chúa Nhật hôm nay có một chủ đề chung: ngôn sứ, nghĩa là một người được Thiên Chúa sai đến để nói nhân danh Ngài, để mang sứ điệp của Ngài, để truyền bá sự thật mà chúng ta đã lãnh nhận qua Lời của Ngài. Nhưng chúng ta biết những khó khăn, hoạn nạn và bách hại mà các tiên tri trong Kinh Thánh gặp phải khi thực hiện nhiệm vụ mà Thiên Chúa giao cho họ.
Trong Bài Đọc I, ngôn sứ Ezekiel được Thiên Chúa kêu gọi sáu năm trước khi Giêrusalem bị tàn phá và hủy diệt và được sai đến với dân Người để kêu gọi họ hoán cải. Nhưng chính Thiên Chúa đã cảnh báo ông: ‘Họ nghe hay không nghe - vì họ là một dân tộc nổi loạn - ít nhất họ cũng biết rằng một ngôn sứ đang ở giữa họ.’ Do đó, sứ mạng của vị tiên tri, theo lời xác định của chính Thiên Chúa, sẽ không dễ dàng chút nào, vì Người sai vị tiên tri hoán cải một dân tộc cứng đầu và cứng lòng, những người không chấp nhận sửa chữa và bước đi theo con đường riêng của họ, đi chệch khỏi mọi nguyên tắc luân lý và tôn giáo. Một chương trình hay, và người ta tự hỏi làm thế nào Ezekien đã lãnh nhận; tuy nhiên, có một điều chắc chắn là ông không đơn độc một mình.
Trong Bài Đọc II, Thánh Tông Đồ Phaolô, ngôn sứ của dân ngoại, ngỏ lời với cộng đoàn của ngài tại Côrintô, than thở về những khó khăn gặp phải trong sứ vụ của ngài, mà ngài gọi là ‘cái dằm trong xác thịt’ (bản chất của nó không rõ ràng). Chính trong những khó khăn mà Thánh Phaolô tìm thấy sự trợ giúp để không kiêu căng và ngài cảm thấy rằng Chúa đã không để ngài thiếu ân sủng, sự gần gũi, sự an ủi của Chúa. Thiên Chúa đáp lời cầu xin của thánh nhân để được giải thoát khỏi hoạn nạn,: ‘Ơn của Ta đủ cho ngươi; vì quyền năng của Ta được thể hiện trọn vẹn trong sự yếu đuối’ và sau đó vị tông đồ kết luận bằng cách nói: ‘Khi tôi yếu đuối, đó là lúc tôi mạnh mẽ.’
Chắc chắn câu nói này làm ta suy nghĩ: biết bao nhiêu lần chúng ta từ bỏ việc thực hiện những điều chúng ta tin, dựa trên Lời Chúa, trong gia đình, tại nơi làm việc, trong cộng đồng nơi chúng ta sống, bởi vì chúng ta đã phải đối mặt với những khó khăn, với những phản ứng tiêu cực? Vậy thì, làm thế nào chúng ta có thể cảm thấy mạnh mẽ trong những giây phút yếu đuối ấy, nếu chúng ta không nhận thức được rằng, như Chúa đã nói với Phaolô, đó chính là những lúc mà quyền năng của Người được biểu lộ?
Khuôn mặt thứ ba của vị ngôn sứ được tìm thấy trong Tin Mừng Máccô, và đó là vị ngôn sứ tuyệt hảo, Đức Giêsu, con Thiên Chúa đang sống ở Nazareth, quê hương của Ngài, nơi Ngài đã sống trong 30 năm. Chúa Giêsu là Tin Mừng tự trình bày cho đồng bào của Người, nhưng họ có những hy vọng khác và mong đợi những điều lớn lao không phù hợp với đường lối của Ngài. Điều này có lẽ cũng là vì họ biết rõ nguồn gốc quá khiêm tốn của ngài là một người thợ mộc, lịch sử của ngài: rõ ràng, ‘con của Bà Maria’.
Đã bao nhiêu lần chúng ta cũng bị cám dỗ để đánh giá các ngôn sứ dựa trên nguồn gốc hoặc vị trí chính trị, tôn giáo hoặc đẳng cấp của họ, và không nhận ra, ngay cả trong gia đình, những người, với lối sống, lời nói, đề nghị của họ, chỉ cho chúng ta thấy những gì Thiên Chúa muốn nơi chúng ta.
Tiên tri là người có can đảm vượt ra ngoài những dự tính của chúng ta, những tiêu chuẩn thống trị. Tuy nhiên, nhu cầu không thể kìm nén xuất hiện trong chúng ta khiến chúng ta tưởng tượng ra một thế giới khác, bởi vì chúng ta không thể chấp nhận những bất công đang xảy ra trong thế giới này. Chúng ta cần một thế giới khác, liên đới và công bình. Lời tiên tri đang lên tiếng cho đòi hỏi này, xuất phát từ sâu thẳm khả năng xây dựng một thế giới nhân bản hơn. Khi chúng ta nói rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa, chúng ta đang nói điều gì đó đúng, nhưng rủi ro trong môi trường văn hóa của chúng ta, bởi vì hệ thống xã hội cần một Thiên Chúa làm cho những cách suy nghĩ có thể chấp nhận được để giữ sự cân bằng quyền lực. Chúa Giêsu là đồng minh tự nhiên và là nguồn gốc của tất cả những hy vọng táo bạo nhất mang lại ý nghĩa dứt khoát cho sự tồn tại của nhân loại. Vì lý do này, ngôn sứ thanh thản ngay cả khi ông không được lắng nghe hay từ chối, bởi vì ông ý thức rằng ông được kêu gọi và biết rằng ông nói nhân danh Thiên Chúa, sức mạnh của ông là sức mạnh sai ông đến. Do đó, cần phải ngăn chặn thế giới tự khép kín mình trước lời tiên tri và thay thế các ngôn sứ, chỉ có các quan chức, cam kết bảo vệ hệ thống chính trị xã hội, mà không quan tâm đến phẩm chất đạo đức của con người.
Do đó, lời mời gọi chúng ta nhận được từ các bài đọc hôm nay không chỉ là những chứng nhân, mà còn là những ngôn sứ, biết rằng chúng ta có những giới hạn và chúng ta sẽ gặp phải những khó khăn, tuy nhiên, giống như bất kỳ trở ngại nào, có thể trở thành một cơ hội.
Đời sống kitô hữu đang bước đi chống lại những điều tiêu cực, đố kỵ, xấu xa, tội lỗi... nhưng bước đi với sự thanh thản vì Chúa ở bên cạnh chúng ta. Đấng ban cho chúng ta ân sủng và sức mạnh này là Chúa Thánh Thần, với những ân sủng của Ngài.

Thứ Hai tuần XIV Tn
Cái nhìn đức tin
Các bài đọc hôm nay gợi lên ước muốn có được một đức tin vững mạnh. Đức Giêsu nói với người phụ nữ: ‘Đức tin con đã cứu chữa con’. Đức tin khiến cho việc đụng chạm thể lý đến Đức Giêsu (‘Tôi chỉ cần sờ được áo choàng của Ngài thôi là sẽ được cứu chữa’) nên khác hơn cái đụng chạm bình thường: ‘Ngay từ giờ ấy bà được cứu chữa’. Đức tin giúp ta khám phá nơi các thực tại những khả năng mới, mà nếu không có đức tin người ta không thể nhận ra được. Chính Đức Giêsu diễn tả điều đó, khi Ngài nói ‘Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy’! Nó đã chết, nhưng đức tin nhận ra rằng nó có thể sống lại. Đối với những ai không có đức tin, đó chỉ là những lời vô nghĩa, và tin mừng viết: ‘Họ chế nhạo Ngài’. Nhìn thấy thực tại cụ thể, họ nói: ‘Chúng tôi chứng thực rằng nó đã chết, không thể sống lại được’, bởi lẽ họ không thấy khả năng mới mà đức tin đặt vào trong thực tại ấy.
Tin vào Đức Giêsu, chúng ta được mời gọi để nhận ra những khả năng mới ấy và để biến đổi thực tại chết chóc nên thực tại của sự sống.
Tường thuật về thị kiến của Giacób cũng nêu lên những tư tưởng giống như vậy. Giacób lấy một hòn đá kê đầu: chỉ là một hòn đá. Nhưng hòn đá ấy lại là sự hiện diện của Thiên Chúa và Giacób tỉnh giấc nhận ra: ‘Quả thật, có Đức Chúa ở nơi này mà tôi không biết’. Có một khả năng mới mà ông không biết, và Đức Chúa đã mạc khải cho ông; một liên hệ giữa trời với đất: ‘một chiếc thang dựng dưới đất, đầu thang chạm tới trời, trên đó các sứ thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống’. Không chỉ là một hòn đá bình thường, nhưng là nơi Thiên Chúa ngự.
Biết bao lần chúng ta chỉ thấy những viên đá, và dừng lại ở cái dáng vẻ bên ngoài của thực tại: khó khăn, bệnh tật, nghịch cảnh, bất đồng trong công việc hay trong gia đình, chúng ta chỉ thấy biết bao nhiêu là viên đá trên hành trình đời mình. Nếu chúng ta có đức tin sống động, chúng ta sẽ khám phá ra rằng những viên đá cụ thể đó không phải là tất cả thực tại của chúng. Chúng ta thấy vẻ bề ngoài nhưng bên trong có tình yêu của Chúa, Đấng ban cho chúng ta khả năng liên hệ mật thiết hơn với Ngài, khả năng biến đổi thực tại hàng ngày.
Cầu xin Chúa mở mắt cho chúng ta và gia tăng lòng tin, để chúng ta có thể nhận ra trong mọi sự cái thực thể đích thực và sâu thẳm của chúng.
+++
 Tình thương của Thiên Chúa
Phụng vụ hôm nay dẫn ta vào chính con tim của Thiên Chúa. Người tự tỏ mình là phu quân ngay cả khi con người quay lưng lại với Ngài. Bằng chứng của một tình yêu vừa thâm sâu vừa tạo nên những việc diệu kỳ như thế, ta tìm gặp nơi các ngôn sứ thời Cựu ước. Sự thân tình giữa Thiên Chúa và tạo vật của Người, giữa vợ chồng, là một thực tại gây kinh ngạc cho ta là những con người rất hà tiện đáp trả tình yêu của Chúa Cha. Và tin mừng hôm nay xác quyết mạnh mẽ điều mà ngôn sứ loan báo. Đức Giêsu tự giới thiệu mình là đấng đầy lòng thương xót đối với người phụ nữ bị bệnh băng huyết, và đối với đứa con gái ông Giairô, trưởng hội đường. Là hai phép lạ xảy ra nhờ lòng tin của người phụ nữ: ‘Tôi chỉ cần sờ được vào áo choàng của Người thôi…’ và của ông Giairô: ‘Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống’. Và vị phụ quân mà Ôsê loan báo đã ra tay hành động. Ngài là vị phu quân cho người phụ nữ mắc bệnh được chữa lành nhờ lòng tin, cho người cha đang thất vọng vì cái chết của đứa con gái mà Đức Giêsu cầm tay truyền lệnh chỗi dậy, cử chỉ của tình yêu vô biên.
Thiên Chúa của chúng ta không xa cách cuộc sống của chúng ta, được dệt bằng biết bao điều phức tạp. Quyền năng của Đấng Tối Cao và lòng thương xót của Đức Giêsu không bao giờ vơi cạn. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, lòng tin vào Ngài, vào tình thương của Ngài có khả năng giải cứu chúng ta khỏi mọi hoàn cảnh bối rối.
+++
Chúa là sức mạnh của con, lạy Chúa!
Đoạn cuối của sách Sáng thế, được đọc vào thứ Bảy tuần trước, không hẳn là một câu chuyện mang tính xây dựng. Không giống như câu chuyện hôm nay, cho chúng ta thấy Jacob ở một góc nhìn rất khác. Đúng vậy, ông đang chạy trốn khỏi Esau (luôn vì phước lành bị đánh cắp bởi sự lừa dối), nhưng hướng đến một chiều kích khám phá Chúa, Đấng tự giới thiệu mình là Đấng cứu rỗi: phước lành nhận được ‘tự động’ chuyển sang giai đoạn chịu trách nhiệm (‘Nếu Chúa ở cùng tôi... Chúa sẽ là Chúa của tôi’). Câu trả lời của Jacob là câu trả lời của đức tin; giao phó bản thân hoàn toàn và trọn vẹn cho Chúa. Lời thề mà ông đưa ra ngụ ý rằng sự bảo vệ của Chúa sẽ đồng hành cùng ông suốt chặng đường đến Carran, tức là vượt xa ranh giới của sự thờ phượng theo chủ nghĩa khu vực. Trên thực tế, có ý tưởng rằng thần linh chỉ có ảnh hưởng trong lãnh thổ mà nó được tôn vinh. Một mối quan hệ đức tin lớn lao và chân thành cũng được tìm thấy trong Phúc âm, trong đó cả cô gái mười hai tuổi và người phụ nữ bị xuất huyết đều được chữa lành. Nhưng đức tin và sự chữa lành, đức tin và phép lạ có song hành với nhau không? Có vẻ như là vậy! Ngay cả khi động lực này dựa trên "do ut des" (cho đi để được lại) dường như tạo ra những đứa con vĩnh cửu. Vậy làm sao chúng ta có thể vượt qua được sự bế tắc? Đức tin nảy sinh từ những khoảnh khắc mà nỗi đau và sự tuyệt vọng dường như chiếm lấy, phải được tiếp thêm sức mạnh từng ngày, học cách yêu thương và cầu khẩn Chúa không chỉ trong nỗi đau mà còn trong niềm vui. Mỗi khoảnh khắc trong cuộc sống của chúng ta được sống trong ân sủng giống như thánh địa mà Jacob đã xây dựng ở Bethel: đó là một bước tiến tới sự hiểu biết về Chúa nhưng để vượt qua, hướng tới điều chưa biết, chỉ tin tưởng vào Chúa "nơi ẩn náu và đồn lũy của chúng ta".
Thứ Ba tuần XIV Tn
Đêm tối đức tin
Đoạn sách Sáng Thế chúng ta đọc hôm nay thật mầu nhiệm; các Giáo Phụ xem đó như là thử thách Thiên Chúa gởi đến Giacób, như đã từng xảy ra cho Abraham, dù cách thức khác nhau.
‘Ông Giacób ở lại một mình và có một người vật lộn với ông cho đến lúc rạng đông’. Cuộc vật lộn xảy ra thâu đêm; không chỉ trong đêm tối mà còn trong tri thức nữa: Giacób không biết mình đang vật lộn với ai. Abraham đã nghe tiếng Thiên Chúa, biết là chính Ngài, nhưng ông cũng phải vật vả trong đêm tối: ‘Ông ra đi mà không biết mình đi về đâu’, như thư do thái viết. Giacób, trái lại, đã lựa chọn tương lai cho mình, nhưng dọc đường Thiên Chúa đã mời gọi ông thay đổi nội tâm qua một cuộc vật lộn với Ngài, cuộc vật lộn kéo dài và khó nhọc.
Là giờ phút bi thảm và huyền nhiệm trong cuộc đời của Giacób, để có thể so sánh với Abraham khi leo lên núi Moria, với đau khổ và lòng vâng phục, và Thiên Chúa đã xác nhận lời Ngài hứa và chúc lành. Giacób dù chiến đấu, vẫn cảm thấy là đối thủ của mình không có ác ý, ông hiểu một cách mơ hồ rằng Thiên Chúa ở gần bên mình: ‘Tôi sẽ không buông ngài ra, nếu ngài không chúc phúc cho tôi’. Và cùng với chúc lành, ông nhận một tên gọi mới: Israel. Giacób đã chiến đấu với Thiên Chúa, đã được xác nhận ơn gọi của ông: từ nay ông trở thành con người mới, người của Thiên Chúa.
Trong cuộc hành trình thiêng liêng cũng xảy ra điều tương tự. Hành trình đã chọn, ngay tức khắc xuất hiện những trở ngại cần chiến đấu để vượt qua. Thường thì những chắc chắn thưở ban đầu biến mất, tất cả chỉ còn lại tăm tối và cám dỗ buông xuôi: là thời gian vật lộn để đứng vững trong những chọn lựa của mình, không thay đổi. Có những khó khăn ngoại tại: Thiên Chúa cho phép để làm cho chúng ta tiến tới trong ánh sáng và ân sủng.
Chúng ta mong ước một cuộc sống an nhàn, thanh thản, bình an…Thanh thản, vâng, nhưng trong sự tin tưởng đón nhận những nghịch cảnh mà Thiên Chúa, vì yêu thương, cho phép xảy đến cho ta, bởi lẽ cuộc đời chúng ta không có mẫu gương nào khác ngoài Đức Giêsu.
+++
Jacob đấu tranh với Chúa
Jacob đang trên đường đến Canaan. Ông sợ người anh trai Esau, người sau bao nhiêu năm vẫn không chấp nhận bị cướp mất phước lành của cha mình. Ông ở lại một mình trong đêm và một người đàn ông đấu tranh với ông cho đến khi bình minh: Trước khi rời xa anh trai, ông đã cầu xin và nhận được phước lành của anh trai. Kẻ thù của ông, thiên thần của Chúa, sẽ gọi ông là "Israel" vì ông đã mạnh mẽ chống lại Chúa và chống lại con người. Vì vậy, bây giờ ông cảm thấy tự tin rằng mình có thể đối mặt và xoa dịu sự oán giận của anh trai mình...
Cuộc đấu tranh của chúng ta với Chúa xảy ra khi chúng ta cảm thấy xung đột với ý muốn của Ngài... Chúng ta muốn Ngài khuất phục trước những ham muốn và kỳ vọng của chúng ta... Tuy nhiên, chúng ta sẽ chiến thắng, không phải khi chúng ta thành công trong việc thực hiện ý muốn của mình, mà chỉ khi chúng ta đã khuất phục bản thân, lòng kiêu hãnh của mình... trước những gì Chúa cho phép trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta cũng sẽ bị què, giống như Jacob bị đánh vào dây thần kinh hông... nhưng chúng ta sẽ có sự chắc chắn về phước lành của Chúa và đã vượt qua được những gợi ý về nỗi sợ hãi và sự ngờ vực của ma quỷ. Chúng ta sẽ mở tâm hồn để tin tưởng vào tin mừng mà Chúa Giêsu loan báo trong mọi làng mạc, mang đến khắp mọi nơi niềm hy vọng và sự chắc chắn về sự hiện diện của Người, cũng qua những người làm vườn nho mà Người sẽ không để thiếu thốn...
+++
Thờ ngẫu thần, thói xấu của con người
Trong đoạn sách ngôn sứ Ôsê lập lại lời tố cáo của Thiên Chúa đối với dân Người vì họ chạy theo việc thờ các tượng thần do tay con người tạo nên, không có khả năng nhận biết và giải cứu. Đặc biệt lưu ý đến những lời này: ‘Chúng gieo gió thì sẽ gặt bão. Chúng là cây lúa không làm đòng, là hạt lúa lép không có bột, nhưng giả như có bột, thì ngoại bang cũng sẽ nuốt hết’. Hình như ta có thể nhận ra điều này nơi biết bao người tín hữu một năm chỉ đi xưng tội một lần hoặc còn tệ hơn thế họ sống trong tình trạng thiếu vắng ân sủng, thế nên cho dù việc làm của họ xem ra là tốt lành trước mắt người đời, giống như cây lúa không làm đòng, không mang lại kết quả cho ơn cứu độ đời đời. Tôi đáng là đối tượng cho lời nhắc nhở và quở trách của vị ngôn sứ. Khi ta sống trong tội lỗi mà chẳng thấy cần phải xin ơn tha thứ của Thiên Chúa, thì chẳng khác nào ta đang tôn thờ một vị thần do tay người phàm tạo nên, hoặc tưởng nghĩ ra.
Đoạn tin mừng trình bày cho ta một người câm bị quỷ ám. Bị câm là tội của con người không biết thưa chuyện với Thiên Chúa, không biết cầu nguyện với Người và cũng chẳng nghe tiếng Người. Khi ta không có trao đổi với Thiên Chúa, thì ta sẽ lập tức quay sang cầu xin sự trợ giúp của những vị khác, là những tạo vật không có khả năng để giúp ta! Cầu mong Chúa gởi đến ta những sứ giả của Người, những người thợ loan báo tin mừng! Ít là có được một lời sự thật và một lời mời gọi chạy đến sự trợ giúp của Thiên Chúa đầy lòng thương xót, đấng chữa lành mà không làm ta thương tổn. Hai phần ba nhân loại còn đang sống trong tình trạng chưa nhận biết ơn cứu độ đã được Đức Giêsu thực hiện và nhiều tín hữu đang sống trong tình trạng câm điếc nên Đức Giêsu phải thốt lên lời: ‘Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về’. Hãy cầu xin cho vườn nho của Chúa không bao giờ thiếu vắng những người thợ làm vườn kiên trung và quảng đại.
Thứ tư Tuần XIV Tn
Chữa lành tật bệnh
Đức Giêsu kêu gọi Mười Hai môn đệ, trao cho họ quyền xua trừ các thần ô uế và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Ngài sai các ông không chỉ đi rao giảng mà còn chữa lành bệnh. Tin Mừng viết: ‘Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Thiên Chúa đã đến gần’. Đức Giêsu cũng đã thực hiện như vậy, nghĩa là không chỉ giới hạn trong việc rao giảng mà còn chữa lành bệnh nữa. Như vậy tin mừng mới được hoàn tất, có ý muốn nói tin mừng không phải là một lề luật, không chỉ là tổng hợp những chỉ thị của Thiên Chúa nhằm cứu rỗi chúng ta, nhưng thực sự là một hồng ân Thiên Chúa ban để cứu thoát chúng ta. Việc rao giảng tin mừng phải minh chứng cho thấy tin mừng trước tiên không phải là một đòi buộc nhưng thật sự là một quà tặng của Thiên Chúa. Nên Đức Giêsu trao cho các Tông Đồ quyền chữa lành, như dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa Đấng cứu độ ở giữa chúng ta.
Là kitô hữu chúng ta cũng phải hành động như thế. Chúng ta không chỉ rao giảng, dạy dỗ cho biết điều gì nên làm, điều gì không được làm; trước hết chúng ta cần phải làm chứng về lòng tốt lành của Thiên Chúa đối với con người, cả phần hồn lẫn phần xác. Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta có hồn có xác và Ngài không khinh chê xác thân chúng ta. Chúa Giêsu đã không coi thường những tấm thân đau yếu bệnh tật, trái lại, Ngài đã cúi xuống với lòng yêu thương đặc biệt. Ngài đã nói, không chỉ cho các bệnh nhân mà cho tất cả mọi người rằng cần phải vác thập giá mình, và điều đó là thiết thực; tuy nhiên đối với những bệnh nhân, đối với tất cả những ai đang đau khổ, đang cần giúp đỡ, Ngài đến gần bên không phải với một lời khuyên bảo, nhưng với lòng tốt vô cùng và với quyền năng an ủi và chữa lành. Cũng vậy chúng ta phải làm cho mọi người nhận thấy Thiên Chúa tốt lành, qua những hành động của chúng ta. Thiên Chúa là đấng tự hiến trao, mang đến cho mọi người, qua mọi thời, bình an và niềm vui của Ngài.
+++
Thờ ngẫu thần và sứ mạng của Nhóm Mười Hai
Ta thường nghe những câu nói gợi nhớ đến sự cứng lòng tin của thánh Tôma: ‘Nếu tôi không thấy, tôi không tin!’ Thiên Chúa là đấng vô hình và thực tại đời sống của Người không thể dò thấu bằng các giác quan, nên con người có khuynh hướng loại bỏ Thiên Chúa, đấng quá xa cách cuộc sống của ta, để tin tưởng vào những vị thần linh do tay con người tạo dựng nên. Tội thờ ngẫu tượng hệ tại tôn thờ một công trình do con người dựng nên, một bức tượng hoặc một con vật hữu hình. Người do thái thời ngôn sứ Ôsê đã tôn thờ các thần linh của các dân ngoại giáo xung quanh. Thế giới hiện đại có những thần tượng rất đặc biệt: quyền lực, giàu sang, vui thú, ích kỷ, thể thao, ma túy, internet…Khi những thần tượng này đi vào lòng, con người phó thác cho nó mọi dự tính và việc làm của mình, thì lúc ấy Thiên Chúa đích thực bị xua đuổi ra bên ngoài, ‘không có chỗ cho Người’.
Chính để lôi con người ra khỏi tình trạng đó mà Chúa đã loan báo tin mừng của Ngài như thánh Phaolô minh chứng trong thư gởi tín hữu Rôma. Để cho lời rao giảng này đến với tất cả mọi người, Ngài đã tuyển chọn Mười Hai Tông đồ, để cho dù sự mỏng giòn yếu đuối của họ, Ngài tạo họ nên những cây cột của đền thờ Thiên Chúa và để họ loan báo khắp thế giới biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa duy nhất và đích thực, phải được nhận biết và tôn thờ như Đấng Cứu Thế. Trải qua dòng thời gian, việc loan báo ơn cứu độ không ngừng được vang lên, nên việc thờ ngẫu tượng là một tội và một sai lệnh đạo đức nghiêm trọng cho người do thái thời các ngôn sứ cũng như cho thời đại chúng ta. Lẽ công bằng đòi buộc phải trả lại cho Thiên Chúa điều gì thuộc về Người: tôn thờ và cảm tạ…và cho con người sự tôn trọng nhân phẩm. Sống trong sự bất công, con người chối từ Thiên Chúa, chối từ việc tuân giữ các nguyên tắc tin mừng, phạm những điều bất công khi đàn áp, khinh dễ, trục lợi tha nhân. Xin Chúa làm cho lòng con nên mềm mại bằng cách gợi lên những tâm tình tri ân đối với Chúa và lòng thương xót và thông cảm đối với tha nhân.
Thứ Năm tuần XIV Tn
Nhận ra ý định của Thiên Chúa
Câu chuyện về Giuse là một dẫn nhập tuyệt hay vào bài tin mừng; gặp thấy những tình cảm hết sức tế nhị về lòng tốt làm người ta cảm động. Giuse tỏ mình ra cho các anh: ‘Tôi là Giuse’. Khiếp sợ trước mặt người mà họ đã muốn loại trừ, họ chẳng còn hơi sức để trả lời, nhưng Giuse trấn an các anh: ‘Hãy lại gần tôi! Tôi là đứa em mà các anh đã bán sang Aicập. Nhưng bây giờ các anh đừng buồn phiền, đừng hối hận vì đã bán tôi sang đây: chính là để duy trì sự sống mà Thiên Chúa đã gởi tôi đi trước anh em’. Thật lạ lùng! Trong hoàn cảnh khủng khiếp mà ông là nạn nhân, Giuse nhận ra ý định quan phòng và yêu thương của Thiên Chúa. Lẽ ra ông có thể nói: ‘Thiên Chúa đã cứu thoát tôi và giờ đây Ngài để những người mưu hại tôi phải đau khổ. Giờ đây tôi vui mừng, còn họ chịu hình phạt xứng với tội họ phạm’. Kinh Thánh cũng nói rằng Thiên Chúa thưởng công người lành và phạt kẻ dữ. Thế nhưng Giuse đã đọc ra ý định của Thiên Chúa. ‘Các anh đã bán tôi’. Là thực tế phủ phàng, nhưng ẩn ngầm bên dưới là ý định tích cực của Thiên Chúa: ‘Thiên Chúa gửi tôi đi trước anh em để cứu sống anh em’.
Lòng quảng đại của Thiên Chúa biến sự dữ thành sự lành, nhưng không dễ nhận ra điều ấy khi mà đau khổ đè nặng trên chúng ta. Càng không dễ giúp đỡ người đã làm hại mình, không dễ hiểu rằng Thiên Chúa muốn liên kết chúng ta vào lòng nhân lành vô bờ của Ngài bằng cách ban cho chúng ta khả năng tha thứ và làm điều lành cho người xúc phạm chúng ta. Đây là mạc khải của Thiên Chúa.
Quả thật câu chuyện về Giuse là hình ảnh tiên báo về Đức Giêsu, về sự khổ nạn và vinh hiển của Ngài. Đức Giêsu đã bị kết án tử, như Giuse đã bị lên án chết vì lòng ganh tị của các anh. Nhưng cái tình cảnh chết chóc ấy, trái lại, trong thánh ý Chúa, dẫn đến việc tôn vinh Giuse; và Đức Giêsu, vì đã tự ý chấp nhận cái chết, đã được tôn vinh bên hữu Chúa Cha. Giuse lẽ ra có thể trừng trị nghiêm khắc các anh mình nhưng ngược lại, ông đã cứu họ khỏi chết; Đức Giêsu lẽ ra có thể dùng quyền năng Thiên Chúa của mình để phạt các tội nhân, trái lại, Ngài lại mang đến cho họ sự sống lại và sự sống. Sự bất công đáng sợ của cái chết của Đức Giêsu được biến đổi thành ơn giải thoát và sự công chính hóa cho mọi người; Giuse, trước cái chết của Giacób, nói với các anh mình đang sợ hãi: ‘Đừng sợ! Tôi đâu có thay quyền Thiên Chúa! Các anh đã định tâm làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt’. Giuse sẳn lòng tuân theo việc biến đổi Thiên Chúa thực hiện. Chính vì thế, Giuse là hình ảnh của Đức Giêsu và đồng thời cũng là gương mẫu cho chúng ta, dạy ta biết nhận ra trong mỗi thăng trầm của cuộc sống ý định yêu thương của Thiên Chúa.
+++
Tình thương của Thiên Chúa đối với dân Người
Đọc lướt qua và không đầy đủ Sách Thánh dễ làm cho ta có cái nhìn sai lạc về một Thiên Chúa nghiêm khắc, luôn sẵn sàng phạt tội dân chúng. Là những người sống trong thời đại khác xa với thời mà các sự hiện xảy ra trong Kinh Thánh, chúng ta dễ dàng lên án. Ngôn sứ Ôsê trái lại cho ta ngày nay hình ảnh về một Thiên Chúa đầy lòng nhân hậu và xót thương, khác nào người cha đầy tình yêu thương đối với các tạo vật của mình. Ông vẽ nên một cử chỉ được lập đi lập lại nhiều lần ngay chính trong đời sống gia đình. Người cha nắm tay con và tập nó bước đi, không phải vì thế mà người cha đánh mất đi phẩm giá của mình do việc làm đầy yêu thương ấy. Còn nữa, biết bao lần ta chứng kiến những hành động yêu thương của những người cha, cúi xuống bồng con mình lên cao để hôn lên má con! Đó là hình ảnh của Thiên Chúa muốn loan báo cho Éphraim, nghĩa là cho toàn thể nhà Israel biết rằng lòng của Người thiên về sự tha thứ hơn là trả thù, thiên về yêu thương hơn là giận ghét, thiên về đón nhận hơn là khước từ. Thái độ nhân hậu này được thể hiện trong tin mừng cách tuyệt vời. Mọi trang tin mừng đều là lời tụng ca tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người. Lịch sử cứu độ là lịch sử tình yêu của Chúa Cha đối với tạo thành của Ngài, đã không ngại sai người Con duy nhất của Người đến cứu độ nhân loại. Tình yêu này được thể hiện cách cụ thể bằng nhiều cách khác nhau: loan báo tin mừng Nước Thiên Chúa đến, chữa lành sức khỏe thể lý, những phép lạ chữa lành, dấu chỉ và lời loan báo ơn cứu độ toàn diện con người. Thế nên việc tiếp nhận lời cứu độ là điều quan trọng, đòi hỏi từ nơi những người loan báo một cung cách sống phù hợp với những gì họ loan báo: không tìm của cải, tiện nghi, thuận lợi, nhưng hoàn toàn tin tưởng vào Đấng sai họ đi, và đòi hỏi từ nơi những người được loan báo một sự tiếp nhận tự nguyện, không thiên kiến. Sự khước từ là một thảm họa: bị xét xử nghiêm nhặt hơn thành Sôđôma và Gômôra.
Thứ Sáu tuần XIV Tn
Đừng sợ
‘Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ…Và khi người ta nộp anh em thì anh em đừng lo lắng. Điều Đức Giêsu khuyên các môn đệ thật không dễ dàng chút nào, khi ngài tiên báo những bách hại đủ loại; trên bình diện con người thật không khả thi chút nào. Nhưng điều đó lại là thái độ tích cực của tình yêu, dựa trên đức tin. Chúng ta không phải là con cái của Ngài sao? Và Ngài đã nói là không ai có thể giựt chúng ta ra khỏi tay Ngài. ‘Nếu Thiên Chúa ở với chúng ta, ai còn làm gì được chúng ta?
Lo lắng là thái độ tự nhiên của chúng ta; nhưng nếu chúng ta để nó chi phối, chúng ta sẽ sống trong ích kỷ; vô ích và chẳng sinh hoa kết quả gì. Khôn ngoan kitô giáo dạy ta không nên lo lắng trước những điều làm chúng ta sợ hãi. Có thể chúng chẳng bao giờ xảy ra và nếu chúng có xảy ra đi nữa, chúng ta có ân sủng Chúa ban làm sức mạnh để sống những biến cố ấy như Ngài muốn.
Lòng tin đích thực dứt khoát đẩy xa tất cả những lo lắng về số phận của mình. Hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta hôm nay được trung thành, gia tăng lòng tin và lòng cậy của chúng ta, để chúng ta chiều theo thánh ý Ngài cách vui vẻ, trong niềm tin chắc rằng Ngài luôn trợ giúp chúng ta nhiều hơn điều chúng ta nghĩ tưởng.
+++
Kêu gọi trở về với Thiên Chúa và những bách hại
Hình như Ôsê muốn đi vào bên trong những tình cảm của bao người chúng ta hôm nay đến với tòa giải tội, để lãnh nhận sự tha thứ tội lỗi của mình. Cần phải xét mình để biết ở đâu và khi nào chúng ta đánh mất những liên hệ với Chúa, với anh em và với chính mình. ‘Hãy trở về với Thiên Chúa, mang theo lời cầu nguyện’. Ta biết rõ rằng nhìn nhận tội lỗi đã phạm không đủ, cần phải có lòng ăn năn sám hối là ân ban lớn lao của Thiên Chúa. Do đó vị ngôn sứ giúp ta ngỏ lời với Thiên Chúa: ‘Xin thứ tha mọi gian ác, xin vui nhận lời ngợi khen…’ Việc xưng thú của ta nhiều lần không mang tính công bằng nào cả. Ai có thể nhớ hết mọi tội lỗi mình phạm sau hàng tuần, hàng tháng, hàng năm sau lần xưng tội trước? Như thế khi không thể nhớ hết và xưng thú hết mọi tội lỗi, ta cầu xin Chúa, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn trong lòng ta, tha thứ mọi tội ta phạm, nhưng lỗi xưng thú và cả những tội ta quên sót. Hoa quả của sự tha thứ của Thiên Chúa được vị ngôn sứ diễn tả như là những lợi ích vật chất, theo cái nhìn của cuộc sống an bình cùng với vẻ huy hoàng của thiên nhiên làm hoan lạc lòng người. Đó cũng là hoa quả của một việc xưng tội thực hiện tốt: biết bao an bình tràn lan trong tâm hồn biết chắc mình được tha thứ! Khi ta sống trong tình trạng thanh thản này, cùng với Thiên Chúa trong lòng, ta cũng có can đảm để đối đầu với những bách hại, có khi cả cái chết nữa. Tin mừng cảnh báo cho ta biết rằng không phải chỉ có kẻ thù mới đưa ta đến quan tòa, nhưng ngay chính những người họ hàng thân thích. Máu chảy ra…nhưng Thánh Thần sẽ ban sức mạnh để ta vượt lên trên tất cả những tình cảm con người. Để làm chứng cho sự thật, để ‘không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha nói trong anh em’. Được chính Thần Khí nâng đỡ, Thánh Phaolô đã có thể viết: ‘Không có gì có thể tách ta ra khỏi lòng yêu mến của Thiên Chúa’.
+++
Tin mừng hôm nay là chiếc gương phản chiếu trải nghiệm đau khổ của các cộng đoàn kitô tiên khởi trong những thập niên đầu tiên của công nguyên: tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu thường đi đôi với bách hại, tù đày, khổ nhục. Còn hơn thế nữa: gây chia rẽ chính những thành viên trong gia đình.  Đối với nhiều kitô hữu, điều mà tin mừng mô tả ngày nay là thực tại khủng khiếp. Tuyên xưng niềm tin mình thường đòi hỏi sự can đảm lớn lao. Đoạn tin mừng là cơ hội giúp ta suy nghĩ về các anh em kitô hữu, không chỉ bằng lời cầu nguyện, nhưng còn tự nhủ: Ta có thể làm gì cho họ? Ta có đủ thông tin về họ? Sự phản kháng của một cộng đoàn kitô, của một nhóm kitô hữu trước các tòa đại sứ của các quốc gia liên hệ, có nhận được một kết quả nào chăng?
Ta cũng cần tự hỏi mình cách riêng: ta có can đảm để phục vụ tin mừng? Là kitô hữu chúng ta là thiểu số trong thời xã hội. Trong những tương quan, ta phải bảo vệ đức tin của mình, khi cần thiết. Thư thứ nhất thánh Phêrô viết (1Pr 3,15): ‘Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em’. Nhưng Ngài còn thêm: ‘Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với sự kính trọng’ (1Pr 3,16).
Thứ Bảy tuần XIV Tn
Giacób trước khi qua đời truyền lệnh cho các con hãy chôn cất ông trong cánh đồng đối diện với Mamrê, Canaan, nơi đã chôn Ápraham và Xara, nơi đã chôn Isaác và Rêbecca cùng Lêa. Giuse trước khi chết cũng trối lại cho anh em hãy đem hài cốt mình về lại Canaan, đất Thiên Chúa hứa ban, ngày mà Thiên Chúa viếng thăm.
Hai vị tổ phụ với hai cuộc đời đầy những thăng trầm, rày đây mai đó. Nhưng vẫn nhớ đến lời hứa của Thiên Chúa và mong muốn được an nghỉ trong phần đất ấy. Thiên Chúa dẫn dắt cuộc đời mỗi người. Không có gì phải sợ! Thiên Chúa quan phòng tất cả. Điều quan trọng là trung thành trong niềm tin vào Ngài.
+++
Kết luận của câu chuyện Giuse cho chúng ta biết cách đối phó với cái ác. Nhiều người bị sốc và tự hỏi tại sao Chúa lại cho phép nhiều sự kiện bi thảm như vậy, mang đến đau khổ và cái ác.
Câu chuyện của Giuse đưa ra một câu trả lời hai mặt: Chúa tôn trọng quyền tự do của các tạo vật của Người; Chúa cho phép cái ác xảy ra vì Người có thể khiến nó phục vụ cho điều thiện. Đây là những câu trả lời cần được khám phá sâu sắc. Chúa cho phép anh em của Giuse hành động gian ác với Người, và Người không ép buộc họ phải hành động tốt vì Người đã tạo ra chúng ta tự do, tôn trọng quyền tự do của chúng ta và muốn điều tốt nhất cho chúng ta.
Trên thực tế, việc ép buộc ai đó làm điều thiện không bao giờ hiệu quả. Những người làm điều thiện vì họ bị ép buộc thì không thực sự làm điều thiện, nhưng phải chịu sự áp bức khắc nghiệt và trong lòng họ sẽ tiếp tục mong muốn làm điều ác. Do đó, Chúa, muốn chúng ta hạnh phúc, tôn trọng sự tự do mà Người đã ban cho chúng ta để chúng ta có thể hành động tốt một cách tự do, bằng tình yêu thương chứ không phải bằng sự ép buộc.
Mặt khác, Chúa cho phép cái ác xảy ra vì Người có thể khiến nó phục vụ cho điều thiện. Giuse nói: "Nếu các người định làm điều ác với tôi, thì Chúa định làm cho nó phục vụ cho mục đích tốt".
Đây là một sự phản ánh sâu sắc: Thiên Chúa có thể đảo ngược ý nghĩa của hành động của con người, Người có sức mạnh huyền bí này đến từ lòng quảng đại vô hạn của Người.
Tuy nhiên, cần phải đưa ra một nhận xét: Thiên Chúa tìm kiếm những người chấp nhận hành động này của Người. Giuse đã chấp nhận tư tưởng của Thiên Chúa: thay vì đáp trả cái ác bằng cái ác, biết được lòng nhân từ và thương xót của Thiên Chúa, Người đã hành động giống như Người: Người từ bỏ sự trả thù và tha thứ.
Khi chúng ta tự hỏi mình câu hỏi về cái ác, chúng ta phải luôn tự hỏi mình câu hỏi này: "Tôi có chấp nhận những ý định mà Thiên Chúa dành cho tôi không?". Trên thực tế, chúng đòi hỏi một sự hoán cải khiến chúng ta đáp trả cái ác bằng cái thiện.
Trong câu chuyện về Giuse, chúng ta có thể thấy được sự huyền bí của thập giá được dự đoán trước. Thập giá của Chúa Giêsu là ví dụ phi thường nhất về sự đảo ngược cái ác thành cái thiện, một sự đảo ngược có thể xảy ra vì Chúa Giêsu đã hoàn toàn mở lòng mình ra với ý định tích cực của Thiên Chúa là biến cái ác do con người âm mưu thành điều thiện vĩ đại nhất. Bí mật của sự cứu chuộc nằm chính xác trong sự cởi mở rộng lượng của Chúa Giêsu để chấp nhận ý muốn cứu độ của Chúa Cha và biến nó thành của riêng mình.
Trong đoạn tin mừng hôm nay ta gặp thấy lời nói tuyệt vời của Đức Giêsu về sự quan tâm của Thiên Chúa đối với các môn đệ Người (Mt 10,29-31). Có ý nghĩa gì khác nữa không?
Trước tiên: chính Đức Giêsu đã sống trong lòng tín thác tuyệt đối. Ngài chắc chắn điều này: Chúa Cha đồng hành với tôi, biết điều xảy ra cho tôi, rất thân tình với tôi. Chính Đức Giêsu đã phải chiến đấu để bảo vệ lòng tín thác này: trong vườn Dầu và trên thập giá nơi mà Thiên Chúa hình như ở cách xa Ngài. Cộng đoàn kitô truyền lại cho ta những lời của Đức Giêsu về chim sẻ và sợi tóc và tác giả tin mừng đã chuyển đến chúng ta để thấu hiểu giờ phút cuối của Đức Giêsu trên thập giá. Thánh Mathêô và cộng đoàn của Ngài đã bị bách hại, chia lìa, khước từ. Họ sống cách cay đắng những chống đối khó khăn để luôn tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu. Nhưng giữa những trải nghiệm đau thương ấy, họ gắn bó với lời này của Đức Giêsu: ‘Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ’. Không phải là một lời dễ tin và xa lạ với thực tế, nhưng là một lời tin tưởng cậy trông giúp vượt qua những thử thách, nhất là trong thời gian khủng hoảng vì bách hại, lời tuyên xưng đức tin và việc trải nghiệm của cộng đoàn sẽ làm cho mọi người trưởng thành. Hãy tin tưởng vào sự hiện diện của Thiên Chúa
+++
Sứ mạng
Việc thần hiện mà ngôn sứ Isaia được tham dự, thắp lên trong lòng ta một khao khát mãnh liệt Đấng Vô Biên, dù chúng ta bất xứng. Thiên Chúa vẫn tỏ mình cho ta và sự hiện diện của Người làm cho linh hồn ta phải run sợ, nhất là khi lương tâm ta không trong sáng. Nhưng Thiên Chúa không đến để đoán phạt, nhưng để ban lại cho ta phẩm chất bị đánh mất do tội và loan báo cho ta ơn cứu độ. Tuy nhiên ta cần phải thanh tẩy để có thể đọc ra những dấu chỉ của Thiên Chúa. Ta nên nhớ: Phúc cho ai có lòng thanh sạch vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. Việc thanh luyện ấy đã xảy ra cho vị ngôn sứ khi hòn than hồng chạm đến môi miệng ông. Là lửa đốt cháy và thanh luyện, biểu trưng cho lửa thống hối. Nhưng cũng là lửa của bách hại đang chờ đợi người môn đệ Chúa, không thể mong vượt trội hơn Thầy mình, đấng đã chết và bị bách hại, và sau cùng bị kết án chết cách nhục nhã. Ngài trấn an các môn đệ của Ngài: Không có gì xảy ra mà không do ý muốn của Cha. Và khuyến khích họ sẵn sàng hiến mạng sống để làm chứng cho sự thật, được thúc đẩy bởi tình yêu đối với Chúa nhưng cũng bởi tình yêu đối với những kẻ giết hại họ, bằng cách muốn chứng minh, bằng cả mạng sống, sự thật mà họ loan báo.
Trên hết mọi sự, đối với người kitô hữu, chết là một mối lợi nghĩa là có được sự sống đời đời mà họ hằng mong đợi. Nên họ phải sợ không chỉ kẻ cất mạng sống mình mà cả kẻ làm cho họ xa lìa con đường ngay chính, lòng trung thành với Đức Kitô và với Tin mừng. Bách hại ngày nay thường không cất đi mạnh sống những kẻ tin nhưng lại thúc đẩy họ chối từ sự thật qua những ‘khổ hình’ tâm lý. Do đó mà nhiều chứng nhân cho Chúa đã tuyên xưng niềm tin của mình trước vì họ biết mình không còn có ý thức gì về những điều họ sẽ phải thốt ra trong lúc bị các hình khổ. Họ là những vị tử đạo của ngày hôm nay, bị hành hạ về thể lý cũng như về tâm lý. Hãy cầu nguyện cho những người anh chị em của ta để họ đủ can đảm và sức mạnh của Thánh Thần.
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Thánh Bênêdictô
Trong lời đáp lại tiếng gọi của Chúa Kitô, ngã ba đường thiết yếu là khoảnh khắc chúng ta hiểu rằng từ bỏ để theo Người không phải là một sự hy sinh, một mất mát, mà là một lợi ích. Trên thực tế, thước đo để trở thành môn đệ của Chúa Kitô là thuộc về Người, không phải là sự tách biệt khỏi mọi người hay mọi thứ: việc theo Người được thúc đẩy bởi niềm vui sâu sắc vượt qua mọi nỗi buồn.
Tất nhiên, trong cuộc sống, sẽ đến lúc sự kiện quyết định trong tiếng gọi của Chúa Kitô dường như mờ dần vào quá khứ, khi lời hứa gấp trăm lần mà Chúa Kitô đã hứa với chúng ta ngay trên trái đất này, một lời hứa về cuộc sống viên mãn trong Vương quốc, không còn rõ ràng nữa. Nhưng đây chính là dịp để chúng ta đổi mới lời đáp lại.
Đó là khoảnh khắc mà sự gắn bó của chúng ta với Chúa Giêsu Kitô được thử thách: kể từ đó chúng ta hiểu rằng mỗi ngày đều là ngày hôm nay của Chúa, trong đó chúng ta đấu tranh để thanh tẩy trái tim mình khỏi sự nô lệ khiến nó mất tập trung khỏi cuộc sống với Chúa Kitô. Và chính xác là khi chúng ta tham gia vào cuộc hành trình này, một cách nghịch lý, chúng ta nhận ra sự thật về sự ban cho gấp trăm lần mà Chúa Giêsu đã hứa, một món quà tình yêu miễn phí của Người.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

ducchasi
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập64
  • Máy chủ tìm kiếm14
  • Khách viếng thăm50
  • Hôm nay19,958
  • Tháng hiện tại560,454
  • Tổng lượt truy cập65,852,584

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây