HỌC KHIÊM NHƯỜNG NHƯ GIÊ-SU
Chuyện xưa kể rằng: Có nhà thông thái kia qua sông lớn trên một chiếc đò được một người đàn ông chèo lái. Trên suốt chặng đường, nhà thông thái nói rất nhiều chuyện về thiên văn địa lý học, toán học, lịch sử và triết học. Nhà thông thái hỏi người lái đò:
– Ông có biết gì về triết học không?
Người lái đò nhoẻn miệng cười nói:
– Tôi không được học và quanh năm suốt tháng chỉ lái đò trên con sông này để kiếm sống qua ngày, thì làm sao biết được triết học.
Nhà thông thái: – Vậy, ông mất một phần ba đời người rồi!
Nhà thông thái lại hỏi tiếp: – Ông có biết gì về toán học không?
Cũng như câu đáp trên, người lái đò nói rằng tôi không biết.
Nhà thông thái: – Thế thì ông mất nửa đời người rồi còn gì!
Sau một hồi im lặng, người lái đò bèn hỏi nhà thông thái:
– Ông giỏi như vậy, chắc ông biết bơi chứ nhỉ?
Nhà thông thái đáp: – Tôi biết rất nhiều, từ đông tây kim cổ, thiên văn, địa lý, đủ mọi thứ kiến thức, nhưng tôi lại không biết bơi.
Nghe vậy, người lái đò từ tốn nói:
– Vậy là ông sắp mất cả cuộc đời rồi vì giông bão sắp đến và tôi chỉ có thể bơi để tự cứu mình mà thôi!
Quả thật, câu ngạn ngữ “cao nhân bất lộ tướng” chẳng sai chút nào! Khiêm tốn thường được người đời gọi là mỹ đức (một đức tính cao đẹp). Thế nhưng, trong đời sống thiêng liêng và giáo lý Công Giáo, khiêm nhường hoặc khiêm tốn là một nhân đức. Nó rất quan trọng và là bệ phóng giúp tăng trưởng các nhân đức khác. Chính vì vậy, Thánh Âu-gus-ti-nô chẳng ngần ngại khẳng định: “Nếu ai đó hỏi, thì tôi cũng trả lời rằng: nẻo đường của Thiên Chúa trước tiên là khiêm nhường, thứ đến là khiêm nhường và kế tiếp không gì khác ngoài khiêm nhường” (“This [God’s] way is first humility, second humility, third humility, and however often you should ask me I would say the same…” - St. Augustine, Letters 83-130, do Roy Joseph Deferrari biên soạn, và được Wilfrid Parsons chuyển ngữ, tập 18, trong Sách Giáo phụ Hội Thánh [The Fathers of the Church] (Washington, DC: The Catholic University of America Press, 1953), tr. 282). Hơn thế, Đức Giê-su đã từng gọi mời: “Hãy học với tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11, 29). Dẫu là Con Thiên Chúa xuống thế mặc lấy xác phàm, nhưng Người sống trọn vẹn khiêm hạ, chỉ dẫn, kêu mời chúng ta biết hạ mình, khiêm tốn như Người.
Sách Huấn Ca chỉ ra rõ ràng: “Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa. Vì quyền năng Đức Chúa thì lớn lao: Người được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường” (Hc 3, 18. 20). Mặc khác, “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1Pr 5, 5). Vì chưng, “ai tự tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (x. Ed 21, 31; Lc 14, 11). Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su tận mắt chứng kiến hành vi cao ngạo của người Biệt phái khi được mời đến dự tiệc, và Người đưa ra dụ ngôn hầu khuyến cáo thái độ tự tôn tự mãn của họ (x. Lc 16, 15; 18, 14). Thiết nghĩ, ngoài thực tế, không mấy ai mến chuộng những người luôn vỗ ngực xưng tên, cao ngạo chẳng xem ai ra gì, và có khi coi trời bằng vung! Chắc chúng ta đã từng được nghe câu nói: “Biển lớn ở chỗ thấp, mới có thể dung nạp được trăm sông”? Người càng khiêm tốn (dĩ nhiên là khiêm tốn thực sự), càng nhận được nhiều thiện cảm, và càng có khả năng bao dung, cảm thông với tha nhân. Trong cách đối nhân xử thế một cách khiêm tốn với mọi người là chúng ta không tỏ vẻ tài giỏi, biết hết vạn vật, không khoe khoang, phô trương, chẳng nóng giận ganh đua, hiềm tị, so sánh, chẳng cố tình chứng tỏ đúng sai, chẳng nghi ngờ ghen ghét với tài năng của anh chị em. Ngay kể cả khi người thật sự có tài năng xuất chúng chăng nữa, nếu biết khiêm nhường thì họ sẽ chọn cách bình lặng làm những việc cần làm và đáng làm mà thôi. Tựa như câu chuyện chiếc bình trà và tách trà. Một hôm, người thầy hỏi học trò:
- Theo con, giữa bình trà và tách trà, thì cái nào nhận được nước trà?
Học trò liền trả lời:
- Thưa thầy, tất nhiên tách trà được nhận ạ!
Nghe vậy, người thầy lại hỏi:
- Thế tách trà muốn nhận nước trà thì nó phải nằm cao hơn hay thấp hơn bình trà?
- Dạ, tách trà phải nằm thấp hơn bình trà!
Sống giữa đời thường, nếu muốn nhận/học hỏi điều gì, ước mong người khác chỉ dạy, hướng dẫn cho mình điều gì thì chúng ta phải đặt mình ở vị trí thấp hơn, nghĩa là biết khiêm hạ, khiêm tốn thật lòng. Ngược lại, nếu cứ trong tâm thế, thái độ tự cao, tự đại, luôn cho rằng bản thân là nhất, miệng cứ nói “tôi biết rồi, tôi biết rõ rồi!” thì chắc hẳn chúng ta sẽ chẳng nhận thêm được gì, vì chính chúng ta vô hình chung đưa mình lên quá cao, và tự cho mình là tách nước đầy, nên không ai có thể rót thêm vào được nữa. Trong đời sống đạo cũng thế, chúng ta sẽ được Chúa đoái nhìn, một khi biết khiêm hạ bản thân, mở rộng lòng đón nhận ân sủng. Tương tự, ở những bậc sống tu trì, nơi gia đình, giáo xứ, hội dòng nữa, những ai sống đời sống khiêm nhu, khiêm tốn chân thực thì không chỉ được Chúa chúc phúc, mà anh chị em khác cũng hết lòng đón nhận và yêu thương hết mực.
Sau cùng, người có lòng khiêm hạ thật tâm không sống dựa vào những gì thoáng qua, tạm thời như lời khen, bổng lộc, mà luôn biết hướng đến giá trị vĩnh hằng, hướng tới người nghèo trên mọi phương diện (không chỉ nghèo tiền nghèo bạc, nghèo vật chất, mà còn nghèo tinh thần, nghèo về mặt thiêng liêng, nghèo vì chưa được biết Chúa, v.v…). “Khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại” (Lc 14, 13-14). Lời khuyên của Đức Giê-su đi ngược hẳn với thói thường của người đời, của chúng ta. Tuy nhiên, chính vì không giống như thói đời trần gian, nên chúng ta mới thực sự hưởng ơn lành đích thật như tác giả Sách Huấn Ca khẳng khái: “Nước dập tắt lửa hồng, bố thí đền bù tội lỗi. Ai đền ơn đáp nghĩa là biết lo xa, lúc sa cơ, người ấy sẽ tìm được nơi nương tựa” (Hc 3, 30-31). Chỉ lúc ấy, “anh em tới dự đại hội vui, dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời. Anh em đã tới cùng Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đã được nên hoàn thiện” (Dt 12, 22).
Xin cho con luôn chân thành
Không màu mè, sỉ diện, sanh cao ngạo.
Biết hạ mình, sống thanh cao
Hằng noi gương Chúa, chẳng giờ thở than.
Sông sâu nước chảy đá mòn
Lúa tốt trĩu nặng cúi đầu đứng trông. Amen!
Lm. Xuân Hy Vọng
LINH MỤC LÀ AI? (11)
Các Thánh nhân nói gì về căn tính Linh mục? Theo các ngài, Linh mục là ai?Dưới đây là một số tư tưởng của các Thánh:
Thánh Pô-ly-car-pô Smyr-na (Polycarp of Smyrna): Là một môn đệ của Thánh Gio-an Tông đồ, ngài nhấn mạnh rằng linh mục là “người làm chứng cho đức tin”, sẵn sàng hy sinh mạng sống để bảo vệ chân lý Tin Mừng. Ngài dạy rằng linh mục phải sống đời trung thành với Chúa Kitô, đặc biệt trong những thời kỳ bách hại, để trở thành gương sáng cho cộng đoàn. (Nguồn: xem Letter to the Philippians, chương 5-6, trong The Apostolic Fathers, bản dịch của Michael W. Holmes (Ignatius Press, 2007); tham khảo Martyrdom of Polycarp, chương 9-12, trong The Ante-Nicene Fathers, tập 1).
Thánh Hi-la-ri-ô Poi-ti-ers (Hilary of Poitiers): Ngài nhận định linh mục là “người bảo vệ kho tàng đức tin”, có trách nhiệm chống lại các lạc giáo và giảng dạy chân lý Công giáo một cách rõ ràng. Theo ngài, linh mục phải là người có lòng nhiệt thành và nên đắc thủ kiến thức sâu rộng để hướng dẫn dân chúng vượt qua những thách thức về thần học. (Nguồn: De Trinitate, sách 1-2, trong Nicene and Post-Nicene Fathers, Second Series, tập 9; tham khảo Homilies on the Psalms, được trích dẫn trong The Fathers of the Church, tập 48 (The Catholic University of America Press, 1963)).
Thánh Mô-ni-ca (Monica): Mặc dù không trực tiếp nói về linh mục, ngài cầu nguyện không ngừng cho sự hoán cải của con trai mình, Thánh Âu-gus-ti-nô, và xem các linh mục như “người dẫn đường thiêng liêng”. Ngài nhấn mạnh rằng linh mục có vai trò quan trọng trong việc giúp các linh hồn lầm lạc trở về với Chúa qua lời cầu nguyện và hướng dẫn. (Nguồn: Confessions, sách 5, chương 13; sách 9, chương 8, bản dịch của Henry Chadwick).
Thánh Rô-bớt Bê-lar-mi-ne (Robert Bellarmine): Ngài mô tả linh mục là “người thầy của chân lý”, có trách nhiệm giáo dục dân chúng về đức tin và luân lý. Là một nhà thần học, ngài nhấn mạnh rằng linh mục phải học hỏi không ngừng và sống đời thánh thiện để lời giảng của họ có sức thuyết phục và đáng tin cậy. (Nguồn: De Controversiis, tập 1, phần về Giáo hội, bản dịch của Ryan Grant; tham khảo Spiritual Writings (bản dịch của John Patrick Donnelly)).
Lm. Xuân Hy Vọng