Suy NIệm Tuần III PS/A - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thứ năm - 16/04/2026 23:45  17

Chúa Nhật III PS/A

Một Đức Chúa khiến trái tim bừng cháy

Trong đoạn Phúc Âm, Lu-ca cho chúng ta thấy cuộc đấu tranh trong đức tin của các môn đệ. Đối với tất cả những ai được gọi để theo Chúa Giê-su, điều đó không dễ dàng, xét đến những đòi hỏi của cuộc hành trình này. Tuy nhiên, sau khi Ngài qua đời, đối với một số người, việc theo Ngài dường như vô nghĩa và thậm chí là bất khả thi. Nếu Thầy bị đóng đinh trên thập tự giá, thì cuộc phiêu lưu làm môn đệ cũng vậy... Đã đến lúc trở về nhà, để đón nhận cuộc sống của quá khứ, trước khi sự bấp bênh làm gián đoạn cuộc hành trình, trước khi dấn thân vào một con đường dẫn đến ngõ cụt.

Lu-ca tập trung vào hai môn đệ của Chúa Kitô, những người quyết định nói lời tạm biệt với trải nghiệm mà họ đã dấn thân với lòng nhiệt thành và nói lời tạm biệt với Giê-ru-sa-lem. Họ kiên quyết lên đường đến Emmaus, nhưng trở về nhà mà không có phần thưởng hay chiến lợi phẩm thì chẳng bao giờ dễ chịu... Cảm giác thất bại len lỏi, trái tim tràn ngập nỗi buồn, và nhịp bước trở nên nặng nề và chậm chạp. Hơn nữa, sự thất vọng là kẻ thù của ký ức và có sức mạnh phá hủy mọi thứ, làm rối ren và u ám. Và khi ký ức phai nhạt, người ta có thể có một điểm đến, nhưng vẫn lạc lối. Không có ký ức, người ta đánh mất ý thức về sứ mệnh của mình, và không nhận thức được sứ mệnh của mình, người ta hướng tới một mục tiêu không phải là đích đến mà là một ảo tưởng.

Hai người rời Jerusalem, thành phố lẽ ra phải toát lên sự bình yên—như chính tên gọi của nó, chứa đựng từ "shalom" (bình yên)—nhưng thay vào đó lại ngập tràn hận thù. Họ lên đường trở về nhà, nhưng sự im lặng thật đáng sợ, và họ bắt đầu trò chuyện, khơi dậy một cuộc đối thoại giải phóng sức mạnh của tình bạn, điều duy nhất có thể kìm nén nỗi đau khổ của trái tim con người. Hai người nói chuyện, lấp đầy những khoảng trống bên trong bằng lời nói, và một người nhẹ nhàng tiến đến để xin được tham gia cuộc trò chuyện. Vị Thầy bằng xương bằng thịt... giả vờ là người lạ và giả vờ không biết chuyện gì vừa xảy ra ở Jerusalem. Ngài giả vờ không nói dối, mà là để chữa lành. Ngài không muốn đùa giỡn với họ, mà muốn giúp họ bày tỏ nỗi cay đắng và khơi lại ký ức của họ. Và để giải thoát họ khỏi cảm giác thất vọng, Ngài đặt ra câu hỏi: "Chuyện gì đã xảy ra?" Hai người ấy như một dòng sông cuộn chảy... Họ kể về Chúa Giê-su, về những việc làm và lời dạy của Ngài, về việc Ngài bị bắt, bị kết án và bị hành quyết, về những người phụ nữ không tìm thấy thi thể Thầy ở mộ và nói rằng Ngài vẫn sống. Họ nói rằng họ đã từng hy vọng và thú nhận rằng giờ đây họ đã mất hết hy vọng, đến nỗi họ đã từ bỏ việc tìm hiểu câu chuyện về ngôi mộ trống. Và chính lúc này, người lạ mặt can thiệp và lên tiếng... chỉ sau khi hai người đến từ Emmaus tự chẩn đoán sự mất hy vọng của mình. Trong việc huấn luyện các môn đệ để theo Ngài, Ngài đã nói về sự khổ nạn của Ngài như con đường dẫn đến vinh quang. Vì vậy, người lạ mặt đã khơi dậy trong họ sự tỉnh thức và chỉ ra cách Kinh Thánh đã nói rất nhiều về sự đau khổ dẫn đến vinh quang.

Trong khi Chúa trò chuyện, cuối cùng họ cũng đến Emmaus. Ngài tỏ ra muốn tiếp tục cuộc hành trình, nhưng hai người không muốn để Ngài đi. Họ xin Ngài ở lại vì bóng chiều khơi dậy nỗi sợ hãi trong họ, và tại bàn ăn, trong khi người lạ chúc phúc, bẻ bánh và phân phát bánh mì, họ nhận ra nhau: "Đó là Chúa!" Tuy nhiên, Ngài lập tức biến mất, và trong lòng hai người, ký ức của họ được khơi dậy, đức tin của họ được kích hoạt lại, khát vọng tiếp tục cuộc hành trình và khát vọng hiệp thông với người khác được nhen nhóm trở lại.

Chúa vẫn sống và vẫn mời gọi họ theo Ngài trên những con đường của thế gian, không phải như những cá nhân tìm nơi nương náu trong sự an toàn hay hạnh phúc cá nhân của mình, mà như một cộng đồng anh chị em biết cách nuôi dưỡng ký ức về cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô và hồi sinh nó qua lời cầu nguyện, chứng tử, sức mạnh của các bí tích và tình yêu thương.

 

Hai Ý Nghĩa của Từ "pàroikos": Người Lạ và Người Rất Gần

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Kitô phục sinh với hai môn đệ ở Emmaus được nhiều người biết đến.

Chúa Giêsu, Đấng hằng sống đời đời, tự giới thiệu mình với họ như một "pàroikos," tức là một người bộ hành: "Một người trong số họ, tên là Cleopas, nói với Ngài rằng: 'Ngài có phải là người hành hương (paroikéis) duy nhất ở Giê-ru-sa-lem không biết những điều đã xảy ra trong những ngày này không?'" (Lc 24:18).

Tuy nhiên, thuật ngữ Hy Lạp "pàroikos" có hai nghĩa thú vị, vì nó được cấu tạo từ "para" (gần, ở gần) và "oikéo" (cư trú). Nghĩa thứ nhất là: "người sống gần đó," "người đến gần nhà bạn," hoặc "ở gần."  Nghĩa thứ hai là: "người đi ngang qua nhà bạn vì đang đi đường," "người cư ngụ gần bạn như một người lạ," hoặc "một người hành hương."

Chúa Kitô phục sinh đến gần hai môn đệ trên đường đến Emmaus!

Ngài mong muốn trở thành một "người láng giềng", một người bạn đồng hành, một người chia sẻ cuộc sống với họ.

Chúa Giê-su Ki-tô có thể là một nhân vật thứ yếu, một "người ngoại quốc".

Tuy nhiên, họ buồn bã và nản lòng đến nỗi ánh mắt họ không thể không nhìn thấy một người lạ, một lữ khách, có lẽ chỉ là một người hành hương khác trở về nhà sau lễ Phục Sinh ở Giê-ru-sa-lem. Họ từng là môn đồ của Chúa Giê-su thành Na-xa-rét, đã theo Ngài trên những con đường ở Ga-li-lê, Sa-ma-ri và Giu-đê. Nhưng sự kiện về cái chết và sự phục sinh của Ngài vẫn chưa khắc sâu vào tâm trí và trái tim họ như là sự kiện lịch sử quan trọng nhất đối với hạnh phúc và sự cứu rỗi của họ, và của toàn nhân loại. Họ vẫn còn đau buồn về cái chết tàn bạo của Chúa Giê-su, bị đóng đinh một cách gây phẫn nộ trước mặt mọi người bên ngoài tường thành Giê-ru-sa-lem. Họ đã không coi trọng lời chứng của những người phụ nữ, những người vào ngày đầu tiên trong tuần đã thuật lại cho các sứ đồ về lời loan báo của các thiên sứ về sự phục sinh: "Có vài người phụ nữ trong nhóm chúng tôi làm chúng tôi sợ hãi. Sáng sớm họ đi đến mộ nhưng không thấy thi thể Ngài; rồi họ trở về, nói rằng họ đã thấy các thiên sứ loan báo rằng Chúa Giê-su còn sống. Một số người trong nhóm chúng tôi cũng đi đến mộ và thấy đúng như những người phụ nữ đã nói, nhưng họ không thấy Ngài" (Lu-ca 24:22-24).

Chúng ta có thể học được một thông điệp đầu tiên cho cuộc sống của mình: nếu sự kiện về cái chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su không được khắc sâu trong tâm trí và tấm lòng chúng ta như một sự kiện lịch sử về sự cứu rỗi cho chúng ta và cho toàn nhân loại, thì Chúa Giê-su Ki-tô có thể được biết đến, nhưng Ngài vẫn chỉ là một nhân vật thứ yếu, "xa lạ". Điều đó cũng có thể giao thoa với con đường tồn tại của chúng ta, nhưng không làm biến đổi nó.

Chúa Giê-su Ki-tô chỉ trở nên gần gũi với chúng ta qua hồng ân Lời Chúa, là trọng tâm của mọi sự kiện cứu rỗi trong cái chết và sự phục sinh của Ngài!

Không có cách nào khác để thắp sáng tâm hồn chúng ta hơn là có cơ hội biết, đào sâu, suy niệm và cầu nguyện với Kinh Thánh. Đây là điều mà Chúa Ki-tô phục sinh đã làm với hai môn đệ ở Emmaus: "Đức Chúa Giê-su nói với họ: 'Hỡi những người ngu dại và chậm tin tất cả những điều các tiên tri đã nói! Há chẳng phải Đấng Kitô phải chịu khổ hình rồi mới vào vinh quang của Ngài sao?' Rồi bắt đầu từ Môi-se và tất cả các tiên tri, Ngài giải thích cho họ tất cả những điều Kinh Thánh đã nói về chính mình" (Lc 24:25-27).

Đây là điều mà sứ đồ Phê-rô đã làm trong bài giảng đầu tiên của mình vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Trích dẫn vua Đa-vít và Thánh vịnh 16, ông đã loan báo cho mọi người về cái chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su, giúp họ hiểu rằng nhiều đoạn Kinh Thánh Cựu Ước đã báo trước sự kiện cứu rỗi cơ bản này. Điều này có thể được tìm thấy trong toàn văn bài đọc thứ nhất Chúa nhật này, trong Cv 2:22-33.

Đây là điều mà tác giả thư thứ nhất của Phê-rô (bài đọc thứ hai) đã làm: "Anh em biết rằng anh em đã được chuộc khỏi lối sống hư không thừa hưởng từ tổ tiên mình, không phải bằng những của cải hư nát như bạc hay vàng, nhưng bằng bữu huyết của Đức Kitô, như huyết của chiên con không tì vết. Ngài đã được định sẵn cho mục đích này từ trước khi sáng tạo thế giới, nhưng đã được tỏ ra trong những thời kỳ cuối cùng này vì lợi ích của anh em. Nhờ Ngài mà anh em đã tin Đức Chúa và Đức Chúa đã khiến Ngài sống lại từ cõi chết và ban cho Ngài vinh quang, để đức tin và hy vọng của anh em là nơi Đức Chúa " (1 Pr 1:18-21). Do đó, càng đến gần Kinh Thánh hơn, càng có cơ hội học cách đọc Lời Chúa một cách cầu nguyện trong nhóm giáo xứ, trong một cộng đoàn nhỏ của anh chị em, chúng ta càng lớn mạnh trong khát vọng cháy bỏng được sống bằng cách tự nguyện hiến dâng những gì mình có và là, tin tưởng vào sự trợ giúp thiết yếu của Chúa Thánh Thần và trải nghiệm niềm vui khi biến thân xác mình thành lễ vật tình yêu dâng lên Thiên Chúa Cha, đôi khi gian khổ, nhưng được sống trong đức tin và hy vọng vào Chúa Kitô, cùng với Chúa Kitô và trong Chúa Kitô. Chúa Kitô phục sinh không còn là một người khách lạ, một "người nào đó" đã đi ngang qua con đường đời của chúng ta nữa!

Ngài trở thành một sự hiện diện sống động bên cạnh mỗi người chúng ta, không bao giờ bỏ rơi chúng ta.

Chúa Giêsu Kitô trở thành khách trong ngôi nhà của thân xác sống động của chúng ta, qua việc hiến dâng chính mình trong Bí tích Thánh Thể, và biến đổi chúng ta thành những nhà truyền giáo!

Sự thân mật và gần gũi của Chúa Giêsu phục sinh, khi Ngài giải thích Kinh Thánh cho hai môn đệ ở Emmaus, trở nên quen thuộc đến nỗi, khi họ đến ngôi nhà, điểm đến của cuộc hành trình, Họ nhất quyết muốn tiếp đón ông ấy, nói rằng:“Hãy ở lại với chúng tôi, vì trời đã khuya rồi, đêm sắp đến!” (Lc 24:29b).

Và chính quanh bàn ăn, trong nhà của hai môn đệ ấy, Chúa Giêsu muốn trở thành khách trong “ngôi nhà” thân xác của họ, bởi vì Ngài đã hiến dâng chính mình một lần nữa trong bí tích Thánh Thể, mà Ngài đã cử hành trước khi chịu khổ nạn, chết và phục sinh: “Ngài cầm lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra, và trao cho họ” (Lc 24:30b). Chúa Giêsu Kitô, hiện diện thực sự trong bánh và rượu thánh hiến, có thể được chúng ta nhìn thấy như là “pàroikos ”, “linh mục quản xứ” của chúng ta! Mỗi người chúng ta, ý thức được sự nghèo khó của chính mình, trước khi rước lễ, khiêm nhường bày tỏ một câu nói tương tự như của viên đội trưởng La Mã: “Lạy Chúa, con không xứng đáng để Chúa vào nhà con, nhưng xin Chúa chỉ phán một lời, linh hồn con sẽ được chữa lành” (xem Mt 8:8).

Trong lời tuyên xưng khiêm nhường này, chúng ta cho phép Chúa Kitô phục sinh, Đấng ngự trong “ngôi nhà” của thân xác sống động của chúng ta, kích hoạt quyền năng của Chúa Thánh Thần, biến đổi sự nản lòng của chúng ta thành niềm vui, nỗi sợ hãi thành lòng can đảm để trở thành những nhà truyền giáo, như hai môn đệ ở Emmaus. Họ không ở nhà; họ vội vã trở về Jerusalem, đi bộ bảy dặm trong đêm, bởi vì không ai có thể dập tắt được lòng nhiệt thành của họ trong việc loan báo sự sống mới đã được tỏ bày cho họ và cho toàn thể nhân loại qua sự kiện phục sinh của Chúa Giêsu. Họ đã trở thành những nhà truyền giáo!

Chúng ta cũng khao khát trở thành những nhà truyền giáo, tập trung vào việc loan báo mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô. Chúng ta biết ơn hồng ân của Thánh Kinh được công bố và suy niệm, bởi vì chúng ta kinh nghiệm rằng Chúa Kitô phục sinh “dạy chúng ta con đường sự sống” (Tv 16:11a). Chúng ta có thể làm chứng cho mọi người rằng, nhờ tình yêu và lòng tôn kính đối với Thánh Thể, chúng ta thực sự có thể kinh nghiệm “hạnh phúc vô tận [với Chúa Kitô hiện diện trong chúng ta]” (Tv 16:11b). Và niềm hạnh phúc vô bờ bến này biến chúng ta thành những người tận tâm vun đắp các mối quan hệ gặp gỡ và chia sẻ cuộc sống, với "niềm vui vĩnh cửu được sống bên cạnh Chúa Kitô" (Tv 16:11c) hiện diện trong cuộc sống của những người nghèo khổ và đau đớn nhất. Bằng cách "đến gần" họ, chúng ta hoàn thành sự hiệp thông Thánh Thể của mình!

 

Hãy chuyển từ "nếu" sang "có"!

Bài Phúc Âm Chúa Nhật thứ ba Phục Sinh kể lại câu chuyện về hai môn đệ đi Emmaus. Đó là một câu chuyện bắt đầu và kết thúc bằng một cuộc hành trình. Có cuộc hành trình đi của các môn đệ, những người buồn bã vì kết cục câu chuyện của Chúa Giê-su, rời Giê-ru-sa-lem và trở về nhà ở Emmaus, đi bộ khoảng mười một cây số. Thực tế, thánh sử Lu-ca viết rằng " Emmaus cách Giê-ru-sa-lem khoảng mười một cây số ". Cuộc hành trình của hai môn đệ diễn ra vào ban ngày. Và có cuộc hành trình trở về: thêm mười một cây số nữa, nhưng vào lúc hoàng hôn. Vậy là có hai cuộc hành trình: một cuộc đi dễ dàng vào ban ngày và một cuộc đi mệt mỏi vào ban đêm. Cuộc hành trình đầu tiên diễn ra trong nỗi buồn, cuộc hành trình thứ hai trong niềm vui. Trong cuộc hành trình đầu tiên, Chúa đi bên cạnh họ, nhưng họ không nhận ra Ngài: " Chính Chúa Giê-su đến gần và đi cùng họ, nhưng mắt họ không nhận ra Ngài "; ​​trong cuộc hành trình thứ hai, họ không còn nhìn thấy Ngài nữa: " Ngài biến mất khỏi tầm mắt họ ", nhưng họ cảm thấy Ngài ở gần. Trong cuộc hành trình đầu tiên, họ nản lòng và không còn hy vọng; Trong hành trình thứ hai, họ chạy đi loan báo tin mừng về cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Phục Sinh cho những người khác: " Họ lập tức đứng dậy và trở về Giê-ru-sa-lem, nơi họ gặp mười một sứ đồ và những người khác đang tụ họp lại, họ nói rằng: 'Quả thật Chúa đã sống lại và hiện ra với Si-môn!'" .

Hai con đường khác nhau của hai môn đệ ấy cho chúng ta, những môn đệ của Chúa Giêsu ngày nay, biết rằng trong cuộc sống, chúng ta có hai hướng đi đối lập trước mắt: một là con đường của những người, giống như hai môn đệ trên đường ra đi, để mặc cho mình bị tê liệt bởi những thất vọng của cuộc sống và tiếp tục buồn bã; và một là con đường của những người không đặt bản thân và vấn đề của mình lên hàng đầu, mà là Chúa Giêsu, Đấng đến thăm chúng ta, và những anh em đang chờ đợi Ngài đến thăm, nghĩa là những anh em đang mong đợi chúng ta chăm sóc họ: "Ta đói, các ngươi cho ta ăn; Ta khát, các ngươi cho ta uống; Ta là người lạ, các ngươi tiếp đón ta; Ta trần truồng, các ngươi cho ta mặc; Ta đau ốm, các ngươi thăm ta; Ta ở tù, các ngươi đến thăm ta" (xem Mt 25:35-36). Đây chính là bước ngoặt: hãy ngừng xoay quanh cái tôi của mình, những thất vọng trong quá khứ, những lý tưởng chưa thành hiện thực, và vô số điều tồi tệ đã xảy ra trong cuộc đời. Chúng ta thường đặt cái tôi của mình làm trung tâm cuộc sống. Điều này là sai. Sai vì sự ích kỷ sẽ không cứu rỗi chúng ta. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng ơn cứu rỗi duy nhất của chúng ta là Chúa Kitô. Điều này có nghĩa là chúng ta không thể tự cứu mình. Để cứu rỗi chúng ta, Chúa cần sự "vâng" của chúng ta, và chúng ta cần sự giúp đỡ của Ngài. Vì vậy, chúng ta phải quay đầu, nghĩa là: chuyển từ những suy nghĩ về cái tôi của mình sang thực tại của Chúa; chuyển từ những câu hỏi " nếu " sang câu trả lời " vâng". Nó có nghĩa là gì? Nhiều lần chúng ta nói: giá như Chúa đã nghe lời tôi, giá như cuộc sống đã diễn ra theo ý muốn của tôi, giá như tôi có được điều này điều kia...! Tất cả những chữ "nếu" này đều mang giọng điệu than phiền. Tuy nhiên, chữ "nếu" này không mang lại kết quả gì, nó chẳng giúp ích gì cho chúng ta hay người khác. Những chữ "nếu" của chúng ta cũng giống như những chữ "nếu" của hai môn đồ, họ than phiền rằng: " Thầy là người lạ duy nhất ở Giê-ru-sa-lem sao? Thầy không biết những gì đã xảy ra ở đó trong những ngày này sao?" Ông hỏi họ: "Những chuyện gì?" Họ trả lời ông: "Về Giê-su người Na-xa-rét, là một vị tiên tri vĩ đại trong lời nói và việc làm trước mặt Đức Chúa Trời và toàn dân, và làm sao các thầy tế lễ thượng phẩm và các nhà lãnh đạo của chúng ta đã nộp Ngài để bị kết án tử hình và đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Nhưng chúng tôi đã hy vọng rằng Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc Israel; Thế mà, giờ đã là ngày thứ ba kể từ khi những điều ấy xảy ra ." " Chúng ta đã hy vọng... " Động từ ở thì quá khứ này nói lên tất cả: Chúng ta đã tin, đã đi theo, đã hy vọng..., nhưng giờ thì mọi chuyện đã kết thúc. Ngay cả Chúa Giê-su thành Na-da-rét, Đấng đã tỏ mình là một vị tiên tri quyền năng bằng lời nói và việc làm, cũng đã thất bại, và chúng ta thất vọng. Bi kịch của các môn đệ ở Emmaus hiện lên như một tấm gương phản chiếu tình trạng của nhiều Kitô hữu thời nay: dường như niềm hy vọng của đức tin đã tan vỡ. Chính đức tin cũng rơi vào khủng hoảng, do những trải nghiệm tiêu cực khiến chúng ta cảm thấy bị Chúa bỏ rơi. Nhưng con đường đến Emmaus mà chúng ta đang bước đi có thể trở thành con đường thanh tẩy và trưởng thành trong niềm tin của chúng ta vào Chúa. Ngay cả ngày nay, chúng ta vẫn có thể trò chuyện với Chúa Giê-su, lắng nghe Lời Ngài, và chỉ khi lắng nghe Lời Ngài thì những câu "nếu" mới biến thành "có". Vâng, " Chúa thật sự đã sống lại "; Ngài đang sống và đồng hành cùng chúng ta! Vâng, ngay bây giờ, không phải ngày mai, chúng ta lại lên đường rao giảng về Ngài. Vì vậy, giống như các môn đệ, chúng ta cũng có thể và phải nói: "Vâng, lạy Chúa, con có thể làm được điều này." để mọi người hạnh phúc hơn, để mọi người tiến bộ hơn..." Vì vậy, chúng ta hãy chuyển từ "nếu" sang "có", từ "than phiền" sang "niềm vui" và "bình an". 

Sự thay đổi nhịp điệu này, từ "tôi" sang Chúa, từ "nếu" sang "có", đã diễn ra như thế nào đối với các môn đệ? Bằng cách gặp gỡ Chúa Giê-su: hai môn đệ ở Emmaus trước hết đã mở lòng mình với Ngài; sau đó họ lắng nghe Ngài giải thích Kinh Thánh; rồi họ mời Ngài về nhà. Đây là ba bước mà chúng ta cũng có thể thực hiện trong nhà mình: thứ nhất, hãy mở lòng mình với Chúa Giê-su, phó thác cho Ngài những gánh nặng, những khó khăn, những thất vọng của cuộc sống, phó thác cho Ngài những "nếu"; và sau đó, bước thứ hai, hãy lắng nghe Chúa Giê-su, cầm lấy Phúc Âm, đọc đoạn Kinh Thánh này từ Phúc Âm Lu-ca hôm nay; thứ ba, hãy cầu nguyện với Chúa Giê-su, với cùng những lời như các môn đệ ấy: " xin ở lại với chúng con ". Lạy Chúa, xin ở lại với con, với tất cả chúng con, vì chúng con cần Ngài để tìm ra con đường. Và nếu không có Ngài thì chỉ có bóng đêm.

Trong cuộc sống, chúng ta luôn luôn trên một hành trình. Hành trình của chúng ta là một cuộc hành hương. Vì vậy, chúng ta hãy chọn con đường của Chúa, chứ không phải con đường của bản thân; con đường của "vâng", chứ không phải con đường của "nếu". Chúng ta sẽ khám phá ra rằng không có sự kiện bất ngờ nào, không có khó khăn nào, không có đêm tối nào mà chúng ta không thể đối mặt với Chúa Giêsu. Xin Đức Mẹ, Mẹ của cuộc hành trình, người đã đón nhận Ngôi Lời và biến cả cuộc đời mình thành lời "vâng" với Chúa, chỉ cho chúng ta con đường đến ơn cứu độ. Amen!

 

Chúa Nhật III PS/C

Tin Mừng Chúa Nhật tuần này cho chúng ta biết lần thứ ba Chúa Phục Sinh hiện ra với các tông đồ. Đây là cuộc gặp gỡ diễn ra tại Hồ Galilê, nơi Chúa Giêsu gọi bốn người đầu tiên đi theo Người. Chúng ta có thể nói rằng, đặc biệt đối với Phêrô, đây là một trải nghiệm phục sinh đích thực. Chúng ta hãy cùng thực hiện theo ba bước.

Đầu tiên: sự ngờ vực. Phêrô nói với những người khác: ‘Tôi sẽ đi đánh cá.’ Không có gì lạ, ông là một ngư dân, ngoại trừ việc Phêrô đã từ bỏ mọi thứ để theo Chúa Giê-su ngay trên bờ hồ đó. Tuy nhiên, bây giờ anh ta quay lại và kéo những người khác đi cùng: ‘Chúng tôi sẽ đi cùng các bạn.’ Nhưng ‘đêm đó họ chẳng bắt được gì cả’ (câu 3). Như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói rất đúng: ‘Chúng ta cũng có thể quên Chúa và bỏ bê những lựa chọn quan trọng mà mình đã thực hiện, để bằng lòng với điều gì đó khác vì quá mệt mỏi, thất vọng, có lẽ vì lười biếng. Ví dụ, họ không dành thời gian trò chuyện với nhau như một gia đình mà thích dành thời gian cho những thú vui cá nhân; chúng ta quên mất việc cầu nguyện, bận tâm đến nhu cầu của riêng mình; hoạt động từ thiện bị bỏ bê, với lý do là tình trạng khẩn cấp hàng ngày. Nhưng khi làm như vậy, người ta sẽ thấy thất vọng: đó chính xác là sự thất vọng mà Phêrô đã có, với những chiếc lưới trống không, giống như ông. Đó là con đường đưa bạn thụt lùi và không làm bạn thỏa mãn.’

Điểm thứ hai: cuộc gặp gỡ. Chúa Giêsu đến gặp các tông đồ và dịu dàng gọi họ: ‘các con’. Sau đó, Người mời họ lại thả lưới bên phải, với lòng can đảm. Nghĩa là: khi lưới trống rỗng, nghĩa là khi chúng ta trải qua sự khô cằn và khó khăn trong cuộc sống, thì đó không phải là lúc để bỏ cuộc, để cảm thấy thương hại cho bản thân hoặc quay lại với những trò tiêu khiển cũ; đó là lúc bắt đầu lại từ Chúa Giêsu, lại giương buồm và đặt cược vào lời Người. ‘Luôn luôn, khi đối mặt với sự thất vọng, hoặc một cuộc sống đã mất đi một chút ý nghĩa – ‘hôm nay tôi cảm thấy như mình đã thụt lùi...’ - hãy lại lên đường với Chúa Giêsu, lại bắt đầu, lại giương buồm! Người đang chờ đợi các con. Và chỉ nghĩ đến bản thân mình, đến tôi, đến mỗi người chúng ta’ (Đức Giáo hoàng Phanxicô, Regina Coeli 01.05.2022). Các tông đồ tin tưởng và bắt được rất nhiều cá; và Gioan la lên: ‘Đó là Chúa.’ Phêrô hào phóng lặn xuống nước bơi tới chỗ Chúa Giêsu. Đó là cử chỉ của tình yêu, sự rung động của trái tim. Gioan, người trẻ nhất, nhận ra Chúa Giêsu; Phêrô, người anh cả, lao xuống nước bơi tới bờ. Trong lần lặn đó có động lực và lòng nhiệt huyết mà Phêrô đã tìm lại được. Anh chị em thân mến, hôm nay Chúa Kitô phục sinh mời gọi chúng ta đến với một động lực mới, tất cả chúng ta, mỗi người chúng ta, mời gọi chúng ta lao mình vào điều thiện mà không sợ mất mát điều gì, không tính toán quá nhiều, không chờ đợi người khác bắt đầu. Tại sao? Đừng chờ đợi người khác, vì để đến với Chúa Giêsu, bạn phải chấp nhận rủi ro. Chúng ta phải dũng cảm chấp nhận rủi ro, bắt đầu lại và bắt đầu lại bằng cách chấp nhận rủi ro. Chúng ta hãy tự hỏi: liệu tôi có khả năng bộc phát lòng hào phóng hay không, hay tôi kìm nén những thôi thúc của trái tim và khép mình lại theo thói quen hoặc vì sợ hãi? Lặn, nhảy vào. Đây là lời của Chúa Giêsu hôm nay (Đức Giáo hoàng Phanxicô, Regina Coeli 01.05.2022).

 

Cuối cùng, đây là điểm thứ ba: tình yêu. Phêrô đến với Chúa Giêsu và Chúa Giêsu không trách móc ông chút nào. Đơn giản, Người gọi ông ba lần và hỏi: ‘Phêrô, con có yêu Thầy không?’ Có, ba lần, giống như những lần Phêrô chối Người. Bằng cách khiến Phêrô cảm thấy được yêu thương và kêu gọi ông trở lại với tình yêu, Chúa Giêsu đánh thức trái tim ông, chữa lành ông bằng lòng thương xót của Người. Tương tự như vậy, Chúa Giêsu cũng muốn trái tim chúng ta trỗi dậy một lần nữa; vì đức tin không phải là vấn đề của kiến ​​thức mà là của tình yêu. Bạn có yêu tôi không? Chúa Giêsu hỏi bạn, tôi, chúng ta, những người có lưới trống và thường sợ phải bắt đầu lại; với bạn, với tôi, với tất cả chúng ta, những người không có đủ can đảm để dấn thân và có lẽ đã mất đi động lực. Con có yêu Ta không? Chúa Giêsu hỏi. Từ đó trở đi, Phêrô ngừng nghề đánh cá mãi mãi và cống hiến hết mình cho việc phục vụ Chúa và anh em của mình, đến mức hy sinh mạng sống của mình ở đây, nơi chúng ta đang ở hiện nay. Còn chúng ta, chúng ta có muốn yêu Chúa Giêsu không? (Đức Thánh Cha Phanxicô, Regina Coeli 01.05.2022).

LỜI CẦU NGUYỆN Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự, Chúa biết rằng con yêu Chúa!

Bạn biết rằng tôi yêu bạn

Trong Phúc Âm Chúa Nhật thứ ba Phục Sinh, Thánh Gioan trình bày cho chúng ta những hành động mẫu mực của một Thiên Chúa, sau khi bị chối từ và bỏ rơi trong giờ thử thách, một lần nữa trao lại niềm tin cho con người. Đấng Phục Sinh tiếp tục chỉ dạy dân Người và cho thấy rằng chỉ có liệu pháp tin tưởng không có tội lỗi mới có thể giúp con người phát triển những khả năng mới để tham gia vào lịch sử và phấn đấu vì những mục tiêu mới. Chúng ta đang ở nơi trang tin mừng tuyệt vời về cuộc gặp gỡ giữa Chúa Kitô Phục Sinh và Thánh Phêrô và các tông đồ trên Biển Galilê.

Phêrô là một trong những môn đồ thân cận nhất của Chúa Giêsu, một người sẵn lòng sống mối quan hệ gần gũi đặc biệt với Thầy của mình, người mà ông tin tưởng. Nhưng trong thời điểm thử thách, mối quan hệ từng là lý do để vui vẻ lại trở thành gánh nặng không thể chịu đựng được. Phêrô cảm nhận được toàn bộ tác động và cảm thấy bị nghiền nát. Ông giống như người đàn ông trong xã hội lỏng lẻo của chúng ta, sống với những ràng buộc lỏng lẻo đến mức có thể phá vỡ chúng một cách cực kỳ dễ dàng. Trên thực tế, vào thời điểm Chúa bị bắt, Phêrô đã cố gắng ở gần Chúa Giêsu nhưng sau đó, vì sợ bị cuốn vào quá nhiều, ông đã phá vỡ mối liên kết với Thầy bằng cách chối ba lần rằng ông không biết Người.

Sau bi kịch về cái chết của Chúa Giêsu, các tông đồ vẫn ở bên nhau nhưng dường như họ đang trải qua một sự thoái lui về lại cuộc sống trước khi gặp Chúa Giêsu. Phêrô quay lại nghề đánh cá và mọi người cũng đi theo ông. Họ đánh cá nhưng, giống như những gì đã xảy ra ngay trước khi họ được kêu gọi trong Luca 5, họ không bắt được gì cả. Như thể là họ không thể tự mình làm được điều đó. Tuy nhiên, vào lúc rạng đông, có người mời họ bước đi trong đức tin và… lưới đầy cá. Từ hư vô đến sự sung túc, một quá trình mà chỉ có sự chạm tay của thần thánh mới có thể thực hiện được. Sự phong phú không chỉ là bất kỳ giá trị nào mà còn là dấu ấn của Chúa trong lịch sử nhân loại. Bây giờ chỉ những ai đang yêu mới có thể nhận ra bước chân của người mình yêu. Vì thế, người môn đệ được Chúa yêu mến, chính người ấy đã tiết lộ cho Phêrô biết danh tính của người đã khuyến khích họ đánh cá: ‘Chính Chúa đó!’ Phêrô lao mình xuống biển, gần như thừa nhận tội lỗi của mình vì chuyến đánh cá không thành công. Sau đó, câu chuyện sống lại khi Chúa Giê-su, sau khi đốt lửa, xin một ít cá để nướng và ăn cùng nhau. Sau bữa ăn, Chúa Giêsu đã đưa ra một yêu cầu về tình yêu với Phêrô: ‘Con có yêu Thầy hơn những người này không?’, để sự thiếu thốn từng làm tê liệt lòng tin có thể được biến thành sự phong nhiêu. Trên thực tế, kẻ keo kiệt chỉ được chữa lành khi anh ta có thể vượt qua được sự cho đi nhỏ nhoi của chính mình. Lời cầu xin sau đó trở thành ba phần và khơi dậy lời đáp trả bằng tình yêu đi kèm với một nhiệm vụ: hoán cải từ người đánh cá thành người chăn chiên để chăn dắt đàn chiên của Đấng Phục Sinh.

Có ba động từ quan trọng xuất hiện trong đoạn văn: ăn để thể hiện sự hiệp thông và tình bạn; để yêu trong một lời cầu xin tình yêu gấp ba tạo nên một loại liệu pháp chữa lành từ những vết thương của sự phủ nhận; chăn dắt như một cam kết chăm sóc đàn chiên theo gương của Người Chăn Chiên Nhân Lành, người đã hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. Lòng tin của Chúa Giêsu được thể hiện qua cái nhìn đã nhìn thấy nơi Phêrô hoa trái của một hạt giống vẫn chưa nảy mầm. Chúa Giêsu nhìn thấy nơi Phêrô một người chăn chiên, một người cha của con cái mình, trong khi ông vẫn còn phải trưởng thành. Sự ấm áp này trở thành sự khích lệ và động lực hữu ích để Phêrô cống hiến hết mình cho sứ vụ.

Kinh nghiệm của Phêrô dạy chúng ta rằng việc đáp lại tiếng gọi về cơ bản là bước vào mối quan hệ chân thật với chính mình và đầu tư vào các mối quan hệ chất lượng cho phép một người phát huy hết khả năng của mình, dẫn đến việc liên tục tìm kiếm điều tốt đẹp và không coi nhẹ trách nhiệm trong cuộc sống. Phêrô đã tuyên bố mình sẵn sàng làm điều gì đó cho Chúa Giêsu, giờ đây ông khám phá ra sức mạnh của một mối liên kết sinh sôi mạnh mẽ, ông khám phá ra rằng ông yêu Chúa Giêsu như người bạn thân nhất của mình, một sự hoán cải quan trọng đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc theo Chúa mới, cuộc tử đạo sẽ dẫn ông đến chỗ đổ máu vì Chúa Giêsu. Làm điều tốt cho người khác mà không yêu thương họ là một nỗ lực vô ích, thay vào đó, hiến dâng mạng sống mình cho người khác bằng cách chọn yêu thương họ là một sự bắt chước Chúa Kitô và mang lại nhiều hoa trái.

 

Chúa Nhật III PS/B

Đức Giêsu đến trong thế gian là để cứu độ nhân loại. Do đó Ngài đã hoàn tất ơn cứu độ loài người qua cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Ngài, và còn làm cho ơn cứu độ đến với mọi dân tộc trên thế giới nhờ công việc của Giáo Hội. Thế nên, ngay khởi đầu sứ vụ công khai, Ngài đã chọn các môn đệ để họ ở với Ngài, sống với Ngài, noi theo gương mẫu và giáo huấn của Ngài, được đào tạo để nên nhân chứng ưu tú giữa mọi người. Đức Giêsu huấn luyện họ trước tiên biết vâng phục thánh ý Chúa Cha, nghĩa là yêu mến thập giá và tự hủy chính bản thân mình (Mt 16,24-25) và Ngài đã thánh hiến họ để mang ơn cứu độ cho các tâm hồn (Ga 17,18-20). Sau khi sống lại, hiện ra với các ông, Đức Giêsu hoàn thiện việc huấn luyện và đào tạo các môn đệ; mạc khải cho họ chân lý của Tin Mừng, cho họ thấy trước hiện thực của đời sống vĩnh cửu. Mở trí các ông hiểu Kinh Thánh và những lời dạy của Ngài, để làm họ nên chứng nhân đích thực (x. Cv 2,21-22), để qua họ ơn cứu độ đến với mọi người. Mỗi kitô hữu hôm nay cũng được mời gọi để nên chứng nhân chân chính của Đức Giêsu, bằng cách sống lại mầu nhiệm vượt qua nơi chính bản thân mình. Việc đào tạo kitô được hoàn thành khi đời sống của họ mở ra cách quảng đại cho việc rao giảng tin mừng và mang ơn cứu độ đến cho mọi người.

Suy Niệm Cv 3,13-15.17-19; Tv 4; 1Ga 2,1-5; Lc 24,35-48

Các bài đọc phụng vụ hôm nay có một mẫu số chung, dù có chút khác biệt, là lời mời gọi hoán cải, đọc sách Thánh để tin Đức Giêsu, chết và sống lại, đã hiến mạng sống mình để cho ta được ơn tha tội. Thánh Gioan trong bài đọc 2 gọi đó là vị ‘trạng sư’, từ ngữ để chỉ Thánh Thần.

Trong bài đọc 1, trích từ sách Công vụ tông đồ, Phêrô, sau khi chữa lành cho anh què tại cửa Đẹp đền thờ, đã nói với dân chúng đang hiện diện. Ông trách họ về trách nhiệm đối với cái chết của Đức Giêsu bị đóng đinh thập giá, nhưng đồng thời cũng nhắc họ nhớ đến lòng thương xót bao la của Thiên Chúa. Cho nên không phải là một lời kết án, nhưng đúng hơn là một sứ điệp hy vọng, vì không có tội lỗi nào cản trở ân sủng Thiên Chúa ban cho ta trong sự phục sinh của Con Ngài và Phêrô mời gọi đọc lại Thánh Kinh mà hoán cải. Sự năng động này thúc đẩy cả chúng ta ngày nay và lời mời gọi của Phêrô cũng còn hiện thực.

Trong thư thứ hai Thánh Gioan nhắc nhở ta rằng Đức Giêsu là vị trang sư, là hy tế đền tội chúng ta, và khuyến khích ta tuân giữ các giới răn của Ngài để có thể khẳng định là biết Ngài. Việc lắng nghe Lời Ngài và thi hành ý muốn của Ngài chính là để tình yêu Thiên Chúa ban cho ta khả năng làm chứng đích thực.

Trong tin mừng thánh Luca ta còn thấy các môn đệ đi làng Emmaus trở về lại Giêrusalem để loan báo cho các tông đồ là họ đã gặp Đức Giêsu bằng xương bằng thịt. Trong khi họ còn đang nói thì chính Đức Giêsu hiện ra: kinh ngạc và cứng lòng tin, họ tưởng mình thấy ma. Khi đó Đức Giêsu đã cho họ xem tay chân của mình, và còn bảo họ sờ xem và có gì cho Ngài ăn nữa; và rồi Ngài đã mở lòng trí cho các ông hiểu Kinh Thánh. Đó cũng chính là năng động cuộc gặp của hai môn đệ đi làng Emmaus, nhưng với chiều ngược lại, trước tiên là chia sẻ của ăn và rồi mới giải thích kinh thánh (cùng chia sẻ Bánh – Thánh Thể - và Lời). Đối với các môn đệ, và nhiều lần ngay cả đối với chúng ta ngày nay, Lề Luật và Các Tiên Tri vẫn còn là lời thánh thiêng, tách biệt khòi những thực tại hàng ngày, nhưng Đức Giêsu nói với họ và cả chúng ta nữa, là chính trong những thực tại đó mà ta phải rút ra những sứ điệp ơn cứu độ, làm sáng tỏ mầu nhiệm ơn ban của Đức Kitô trên thập giá, cái chết và sự sống lại của Ngài.

Phục sinh là một mầu nhiệm khó hiểu. Ta thấy điều ấy nơi phản ứng của các tông đồ, dù vui mừng nhưng vẫn còn nghi ngờ chưa tin. Thông thường ta nói về đức tin theo cách như tạo ra trong tâm thức một ý nghĩa tội lỗi do đã có những nghi ngờ, vì giống như đã khước từ một chân lý đức tin nào đó vậy. Ai giản lược đức tin thành những ý niệm tri thức đương nhiên cũng loại bỏ nghi ngờ. Thực sự đức tin không chỉ chạm đến tri thức nhưng còn là hoàn toàn phó thác mình cho một người, cho một trật tự giá trị, cho một thực thể lớn hơn ta. Không dễ để chấp nhận điều này, vì đụng chạm đến hiện tại của ta và mọi sự bị đặt thành vấn đề, thay đổi trật tự các giá trị mà lâu nay ta bám chặt vào đấy. Do đó Đức Giêsu thông cảm và kiên nhẫn trước những nghi ngờ của các tông đồ và đã đến gặp họ trong tình trạng còn do dự. Dù nghi ngờ và sợ hãi niềm tin là một tiến trình tăng trưởng, là một bước tiến về một điều chắc chắn luôn lớn lao hơn. Chính niềm vui là chất xúc tác từ bên trong tâm hồn, là điều vẫn có thể mở ra ngay trong lúc nghi ngờ. 

Trang tin mừng vừa đọc là lời mời gọi các tông đồ tìm ra trong cuộc trải nghiệm với Đức Giêsu ý nghĩa của sự phục sinh. Lời mời ‘hãy sờ’, hãy xem chây tay Thầy đây’ muốn nói với các môn đệ rằng Đấng Phục sinh cũng chính là Đức Giêsu Nagiarét mà các ông đã từng quen biết, dẫu sự hiện diện của Ngài với họ lúc này trong một cách thức khác. Đây là con đường mà Đức Giêsu chỉ cho các môn đệ: ‘Ngài mở lòng trí cho họ hiểu Kinh Thánh’. Ngài mời gọi họ đọc toàn bộ trải nghiệm của họ không phải theo cảm tính, mà theo ánh sáng của Lời. Đây có lẽ cũng là trải nghiệm đức tin đầy vui mừng của chúng ta: ta sẽ biết Thiên Chúa dẫn đưa ta đến đâu qua mọi biến cố, ngay cả những việc ta không nghĩ tưởng được. Ta cũng sẽ hiểu được rằng Thiên Chúa vẫn tiếp tục hiện diện trong lịch sử con người và đồng hành với họ.

Nếu trong cuộc sống hàng ngày của ta, ta biết mình có mặt nơi đang cần đến chúng ta, nếu ta cùng chia sẻ nỗi đau khổ, niềm vui, những vấn nạn mỗi ngày cùng với anh chị em mình, thì Đức Kitô phục sinh sẽ luôn ở với ta: Đức Kitô không muốn ở trên các bàn thờ, nhưng muốn ở bên cạnh mỗi người chúng ta, qua đó Ngài thực hiện ơn cứu độ bằng cái chết và sự sống lại của Ngài, Ngài muốn tất cả mọi người đều được cứu độ trở về với Chúa Cha.

Thứ hai Tuần III Phục Sinh 

Nhưng họ không địch nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông

Stêphanô là một trong những người theo Đức Giêsu và thực hiện những công việc của Thiên Chúa: nghĩa là tin vào Đức Giêsu như Đấng Chúa Cha sai đến. Chính Đức Giêsu cũng xác nhận điều này trong bài tin mừng hôm nay.

Tin và làm chứng cách trung thực rằng những ai nghe Stêphanô nói, không thể địch nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông. Không biết phải tìm lý lẽ nào để chống lại ông, họ dùng những lời dối trá. ‘Chúng tôi đã nghe hắn nói lộng ngôn xúc phạm đến ông Môsê và Thiên Chúa’. 

Họ đã dùng cách thức ấy đối với Đức Giêsu. Đó là chính sách của những người không nhận biết và chối từ ánh sáng. Nhưng ánh sáng tự làm chứng chính mình, ngày trước cũng như ngày nay. Ánh sáng đó rạng sáng khuôn mặt của Stêphanô. Ai có thể tách ông ra khỏi Đấng mà ông đã gặp gỡ trong hành trình đời sống của mình? Lời lẽ trong thánh vịnh đáp ca diễn tả lòng trung thành của Stêphanô: ‘Mặc quan quyền họp nhau mưu hại, tôi tớ Ngài đây cứ gẫm suy thánh chỉ. Vâng thánh ý Ngài làm con vui sướng thỏa thuê, chỉ bảo con như những người cố vấn’ (Tv 118,23-24). 

Biết bao kitô hữu ngày nay đang sống cùng một thực trạng như Stêphanô và họ bị vu cáo và kết án tử. Họ là hạt giống sống động của kitô giáo! Trong phút hồi tâm hôm nay tôi cầu nguyện bằng lời thánh vịnh 118: ‘Kẻ hai lòng con chê con ghét, nhưng luật Ngài con chuộng con yêu’.

+++

Chúng tôi phải làm gì? 

Người ta mang nơi cổ sợi dây chuyền đính một vài ảnh thánh giá nhỏ như món đồ trang sức. Người ta in hình Đức Giêsu lên áo. Với dòng chữ: I love Jesus (tôi yêu Giêsu), nhưng lại không nhận Ngài là Con Thiên Chúa. Là những người sống hời hợt; không có chiều sâu nên thiếu sự nghiêm túc. Câu lời Chúa sau đây áp dụng cho họ: ‘Các ngươi tìm Ta không phải vì đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê’. Các ngươi gọi danh Ta trên môi miệng, bởi vì các ngươi đọc thấy nơi Ta một con người đối đầu lại nhà cầm quyền thời đó? Các ngươi theo Ta hòng mong thoát khỏi cuộc sống hằng ngày? Những điều đó chẳng liên can gì đến Ta! (không phải chuyện của Ta).

Đấy là lối suy nghĩ của chúng ta, là cách chúng ta tin vào Đức Giêsu, và để tuyên bố rằng mình đứng về ‘phe’ Ngài. Nhưng Chúa không bảo thế. Ngài nhìn cuộc sống của mọi người. Chắc chắn hướng họ đang đi hoàn toàn không phải là hướng đi tốt nhất, nhưng dù sao đi nữa họ vẫn đang tiến bước. Và Ngài chấp nhận cách tiến của họ: ‘Hãy gắng tìm của ăn đích thực’. Họ không chống đối lại; họ hỏi Ngài đâu là đường phải theo: ‘Chúng tôi phải làm gì?’ Một hy vọng mới lóe lên cho họ, vì có ai đó không xem họ như những con người sống hời hợt.

+++

Chúa Giê-Su Không Ở Trên Thuyền

Khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta nói gì với Chúa? Hầu hết, nếu không phải tất cả, lời cầu nguyện của chúng ta đều bao gồm những lời thỉnh cầu giúp đỡ, phép lạ, sự can thiệp để giải quyết vấn đề của chúng ta. Lời cầu nguyện của chúng ta hiếm khi chỉ gồm lời tạ ơn, và có lẽ không bao giờ chỉ gồm lời ngợi khen; nghĩa là, chúng ta hầu như không bao giờ dành thời gian ngợi khen Chúa mà không cầu xin điều gì. Với tất cả những việc phải làm, những nhu cầu cần đáp ứng và những lo lắng hằng ngày, dường như việc "lãng phí thời gian" ngợi khen mà không nhận được gì đáp lại là một điều xa xỉ. 

Nhưng lời cảnh báo mà Chúa Giê-su dành cho đám đông tìm kiếm Ngài cũng dành cho chúng ta: "Các ngươi tìm Ta, không phải vì các ngươi đã thấy các dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã ăn no bánh ." Các môn đệ cũng vậy, cuối cùng họ cũng cùng chung suy nghĩ: họ muốn Chúa Giê-su đừng "lãng phí thời gian" cầu nguyện, mà hãy tiếp tục làm phép lạ, đáp ứng nhu cầu vật chất của họ. Tuy nhiên, Phúc Âm cho chúng ta biết rằng "Chúa Giê-su không lên thuyền với các môn đệ." Ngài không thể ở lại với họ, bởi vì họ không hiểu ý nghĩa của dấu lạ kỳ diệu và, giống như đám đông, đã dừng lại ở bánh mì, ở cái bụng no. Lời cảnh báo tương tự cũng áp dụng cho họ: " Các con không tìm Ta vì đã thấy các dấu lạ." Đó là lý do tại sao Chúa Giê-su không lên cùng một thuyền: hướng đi khác nhau.

Còn bạn, bạn đang đi theo hướng nào? Hành trình của bạn chỉ toàn là những lời cầu xin, than phiền và nhu cầu được thỏa mãn sao? Bạn đã cẩn thận nhìn xem Chúa Giê-su có còn ở cùng bạn trên thuyền không, hay Ngài đã rời đi từ lâu vì bạn đang hướng đến một điểm đến khác không phải của Ngài?

Thứ ba Tuần III Phục Sinh 

Hỡi những người cứng đầu cứng cổ, lòng và tai không cắt bì, các ông luôn luôn chống lại Thánh Thần. Cha ông các người thế nào, thì các ông cũng vậy.

Những lời của Stêphanô thật nghiêm khắc, nhưng cũng chẳng khác nào những lời Thiên Chúa đã phán với Môsê và các tiên tri: ‘Các ngươi là một dân cứng đầu cứng cổ’ (Xh 33,5), ‘Dân này chỉ đến gần Ta bằng miệng, tôn vinh Ta bằng môi, còn lòng chúng thì xa Ta lắm’ (Is 29,13).

Đức Giêsu đã sống lại, tin vui bình an này đã được loan báo, nhưng những thủ lãnh dân, các kỳ lão và ký lục, những kẻ tự cho mình là người nắm giữ chân lý, chống đối, ‘họ chống lại Thánh Thần’, là Đấng kiến tạo nên mùa xuân này của lịch sử. Từ nay Đấng An Ủi mà Đức Giêsu hứa ban, mạc khải cho mọi người sự thật về Con Người thành Nagiarét. Ai không nghe theo thì đó là dấu chỉ khép kín và chối từ.

Người chống đối Thánh Thần, không nhận biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, vì tình yêu đã hạ thân làm người. Ai không đón nhận sứ điệp sống động yêu thương và bình an của Người sẽ gây nên trong mình và chung quanh mình những tư tưởng và tình cảm chết chóc. Quả vậy họ đã giết chết Stêphanô, cũng như đã từng giết Đức Giêsu.

Trong phút hồi tâm, ta cầu xin cho được ơn can đảm để trung thành loan báo như Stêphanô. Ta sẽ được chiêm ngưỡng các tầng trời mở ra và được Đức Giêsu phục sinh ôm hôn và chúc lành.

+++

Bánh trường sinh 

Bạn có thể dấn thân lo cho những người nghèo, phân phát của cải mình cho những người hành khất, với nguy cơ mất cả danh thơm tiếng tốt vì những kẻ bên lề xã hội: tất cả những điều đó chẳng có giá trị gì nếu bạn không là người quan trọng đối với họ. Họ sẽ nói với bạn: ‘Bạn làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin bạn’? Thôi cứ để mặc họ cho số phận của họ và quay về với những người cảm thấy đuợc khích lệ nhờ sự giúp đỡ của bạn, những người biết đón nhận sự giúp đỡ của bạn với niềm vui và lòng biết ơn!

Nhưng Chúa không xử sự theo cách đó! Ngài biết rằng bên trong cái vỏ ngoài cứng cỏi kia là cái ruột rất nhạy cảm. Lời nói xem có vẻ khiêu khích- cho dầu có phải là một sự ghét cay ghét đắng nào đi chăng nữa- tiềm ẩn một tiếng kêu cứu (giúp đỡ) thốt lên trong tuyệt vọng: ‘Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy’.

+++

Cuộc đối thoại trong hội đường ở Ca-pha-na-um, sau phép lạ hóa bánh và cá, đánh dấu đỉnh điểm của sự hiểu lầm giữa kế hoạch của Chúa Giê-su và đám đông, những người không hiểu, không nắm bắt được giá trị của điều Chúa Giê-su đang yêu cầu. Sau khi thoát khỏi âm mưu tôn Ngài làm vua, Chúa Giê-su vẫn cố gắng lý luận với dân chúng, mời gọi họ tìm kiếm một thứ “bánh” nuôi dưỡng linh hồn chứ không phải thân thể. Đám đông hỏi về loại bánh này và họ phải làm gì để được nhận nó. Chúa Giê-su đáp rằng họ phải tin vào Ngài. Và dân chúng, bực mình, xin một dấu lạ… Cái gì cơ? Một dấu lạ ư? Chúa Giê-su vừa mới nuôi sống năm ngàn người, mà họ vẫn cần một dấu lạ sao? Thật khó hiểu! Đức Chúa phải làm bao nhiêu dấu lạ cho chúng ta, nhờ lòng tốt của chúng ta, để cuối cùng chúng ta được hoán cải? Con người luôn đòi hỏi, liên tục cầu xin Đức Chúa những dấu hiệu về sự hiện diện của Ngài, và không thể giải thích được những sự kiện hằng ngày làm chứng cho sự hiện diện kín đáo của Đức Chúa trong cuộc sống chúng ta. Chúng ta hãy đón nhận tin mừng đáng kinh ngạc về Chúa Giê-su, Đấng nếu sống lại trong chúng ta, sẽ ở cùng chúng ta mãi mãi! Chúng ta hãy đón nhận dấu hiệu tuyệt vời về sự hiện diện của Ngài trong Bí tích Thánh Thể và trong cộng đồng; chúng ta hãy ngừng liên tục thử thách Thiên Chúa!

Thứ tư Tuần III Phục Sinh 

Vậy những người phải tản mác này đi khắp nơi loan báo lời Chúa

Cuộc bách hại kitô hữu xảy ra tại Giêrusalem. Và những người kitô hữu này buộc phải tản mác khắp nơi…như hạt giống được gió mang đi hay được chim muông ăn rồi thả xuống trên các vùng khác, đã làm lan rộng khắp nơi.

Saolô lùng sục khắp nơi để bắt tống ngục những người tin vào danh Giêsu Nagiarét. Tuy nhiên lời Chúa được loan báo khắp nơi!

Mảnh đất đầu tiên tiếp nhận hạt giống lời Chúa là Samaria. Vùng đất gần vùng Galilêa xưa nay vốn bị ghét bỏ. Đây là việc truyền giáo đầu tiên ra khỏi Giêrusalem. Như người Samaritanô nhân hậu và như người phụ nữ Samaritana kín nước tại giếng Giacób, vùng đất này mở ra đón nhận tin mừng được Philipphê loan báo. Nơi đây cũng xảy ra những việc việc lạ lùng mà Đức Giêsu đã thực hiện.

Hình ảnh hạt giống gieo vải và chết đi để mang lại hoa trái ghi dấu ấn toàn bộ công trình của cộng đoàn tông đồ và của các cộng đoàn kitô hữu tiên khởi. Đức Giêsu đã nói: ‘Nếu hạt lúa mì không thối đi thì không sinh hoa quả’ (Ga 12,24). Từ hạt giống chết đi nảy sinh sự sống mới: giải thoát khỏi sự dữ, chữa lành các bệnh tật, niềm vui và hân hoan.

Hôm nay trong phút hồi tâm, tôi nhìn lại sự tự do tôi đang sống niềm tin của mình và kín múc Lời Chúa. Tôi có niềm vui không? Mong sao thói quen hàng ngày đón nghe Lời Chúa và lãnh nhận các bí tích làm cho tôi nên người của hòa bình và của niềm vui.

+++

Vì các người do thái không hiểu nên Đức Giêsu phải nói lên căn tính của mình cách rõ rệt để đặt họ trước sự chọn lựa cụ thể: ‘Ta là bánh trường sinh; ai đến với tôi không hề phải đói, ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ’. Ngài là bánh từ trời xuống để nuôi dưỡng và nâng đỡ dân mới của Thiên Chúa. Ngài là ân huệ của tình yêu Chúa Cha cho mọi người, đang còn lữ hành trần gian. Ngài là Lời mang lại sự sống trường sinh.

Đức Giêsu tố cáo sự kém lòng tin của người do thái. Họ đã nghe những lời của Ngài, đã thấy những dấu lạ Ngài thực hiện, nhưng lại từ khước gắn bó với Ngài.

Trong đoạn văn này Đức Giêsu giải thích lý do vì sao người do thái cứng lòng tin: họ không thuộc về nhóm những người mà Chúa Cha trao ban cho Chúa Con. Chúa Cha muốn cứu tất cả những ai mà Ngài trao cho Chúa Con, và ơn cứu độ này là sự sống lại trong ngày sau hết.

Ân huệ sự sống trường sinh và sự sống lại trong ngày sau hết liên kết với một điều kiện: chiêm ngắm Chúa Con và tin vào Ngài. Đó là cái nhìn chiêm ngắm của lòng tin và quy hướng toàn bộ đời sống theo Đức Giêsu.

+++

Thực Đơn Của Chúa Giê-Su

Khi chúng ta đến một nhà hàng và mở thực đơn ra, chúng ta thấy một danh sách dài các lựa chọn: món khai vị, món đầu tiên, món chính, món tráng miệng, đồ uống, và chúng ta bị choáng ngợp. Tuy nhiên, khi chúng ta đến "nhà hàng" của Chúa Giê-su, tức là đến một nhà thờ, thực đơn chỉ có một món để ăn: Thân thể Ngài, và chỉ có một thức uống: Máu Ngài. Một số người có thể cho rằng không có nhiều sự đa dạng, nhưng sự khác biệt là rất lớn. Trong các nhà hàng thông thường, cũng như tại bàn ăn của chúng ta, chúng ta ăn những món ăn mà vài giờ sau vẫn khiến chúng ta đói, và chúng ta lại phải bắt đầu ăn tiếp. Tuy nhiên, tại bàn của Chúa Giê-su, bàn thờ của Ngài, thức ăn của Ngài, làm dịu cơn đói mãi mãi, như chính Ngài đã nói với chúng ta: "Ta là bánh sự sống; ai đến cùng Ta sẽ không bao giờ đói, và ai tin Ta sẽ không bao giờ khát ." Cơn đói mà Chúa Giê-su nói đến không phải là cơn đói của dạ dày chúng ta, mà là cơn đói của tâm hồn chúng ta: cơn đói khát tình yêu, bình an, ý nghĩa, vẻ đẹp, hạnh phúc. Và để thỏa mãn cơn đói khát này, chỉ có một Bánh: Bánh Sự Sống. Chúa Giê-su không nói rằng Ngài chỉ là một trong nhiều bánh, mà là Bánh duy nhất. Tuy nhiên, ăn bánh thôi chưa đủ; chúng ta phải tin vào bánh. Chính đức tin làm cho bánh có hiệu quả; nếu không, sẽ chẳng có gì xảy ra trong chúng ta. Vì lý do này, dù đã lãnh nhận Bánh Thánh nhiều lần, chúng ta thường vẫn như cũ, như thể chẳng có gì xảy ra, bởi vì chúng ta đến với Bánh Thánh mà không có đức tin và rời khỏi nhà thờ với những lo lắng và băn khoăn như khi bước vào. Vì vậy, chúng ta hãy đến với Bánh Thánh Thể với đức tin lớn lao hơn, không sợ hãi, bởi vì hôm nay Chúa Giê-su nói với chúng ta: "Ai đến với Ta, Ta sẽ không từ chối ." Và chúng ta hãy đến với Bánh Thánh Thể với đức tin sống động, bởi vì Ngài đã hứa điều tốt đẹp nhất cho những ai tin vào Ngài: "Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày cuối cùng . "

Thứ năm Tuần III Phục Sinh 

Thiên sứ của Chúa nói với ông Philipphê: Đứng lên, đi về hướng nam, theo con đường từ Giêrusalem xuống Gada; con đường này vắng. Ông đứng lên đi. Khi ấy có viên thái giám người Êthiopia, làm quan lớn trong triều của bá Canđkê, nữ hoàng nước Êthiopia. Ông này làm tổng quản kho bạc của bà. Ông đã lên Giêrusalem hành hương và bấy giờ đang trên đường về. Ngồi trên xe nhà, ông đọc sách ngôn sứ Isaia.

Con đường từ Giêrusalem đến Gada vắng vẻ, Thánh Thần nói với Philiphê; và chính Người sai ông đến đó. Cách Thiên Chúa hoạt động thật huyền nhiệm! Tôi tự hỏi vì sao Thánh Thần lại sai Philipphê đến con đường vắng vẻ như thế?

Những người ngoại quốc đi trên con đường này, trên những con đường ít ai qua lại. Hôm qua là một người Samaritanô bị Lời Chúa đánh ngã, hôm nay một người Êthiopia, một viên thái giám, không quan trọng, Lời Chúa không chọn lựa. Quyền năng của Lời vượt trên mọi khác biệt và đi vào trong tim của con người.

Philiphê được Thiên Chúa dùng như trung gian trong giữa vị quan người Êthiopia đang tìm kiếm và Lời: chính Thiên Chúa sắp đặt để nên ánh sáng cho anh em. Nhờ đó lời các vị ngôn sứ mới có thể hiểu được: chính Lời nói về Đức Giêsu. Chính Ngài là nguồn nước hằng sống thanh tẩy: đổi mới từ bên trong con người và làm nên một tạo vật mới. Như thế Chúa Cha đã lôi kéo và dạy dỗ cho biết phải đi theo Đức Giêsu. Ai theo Đức Giêsu, cũng đạt đến Chúa Cha.

Chỉ có một điều cần thiết: lắng nghe Đức Giêsu qua lời của Ngài và qua biết bao người tiếp tục loan báo lời của Ngài bằng chính cuộc đời của họ. Hôm nay trong phút hồi tâm, tôi mở đôi tai tâm hồn và cầu nguyện: Lạy Chúa, tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe

+++

Mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ 

Hãy coi chừng người đời; đừng tin vào bất kỳ ai trên 30 tuổi; hầu hết họ đều nghĩ đến lợi ích riêng họ! Đó là những lời đề phòng và khuyên răn mà những người lớn tuổi dành cho người trẻ thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Họ nói vậy vì ý ngay lành, cũng giống như câu tục ngữ sau đây (phát xuất từ trải nghiệm): ‘Trong gian nan mới biết ai là người bạn chân thật’. Người ở bên cạnh bạn mà không hề mưu lợi, thì bạn có thể tin tưởng. 

Tại sao nhiều người đương thời của Đức Giêsu quan tâm đến Ngài? Điều gì khiến các địch thủ hướng về Ngài? Cách ăn nói khác thường của Ngài, hoặc thích ấn tượng mạnh? Hay họ bị những người đạo đức lôi kéo? ‘Không ai đến được với Ta mà không được Cha Đấng sai Ta lôi kéo’. ‘Không ai có thể tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa, mà không do thúc đẩy của Thánh Thần’ (1 Cor 12,3 ). 

Thực vậy, Đức Giêsu trên 30 tuổi và nhiều người không tin Ngài; nhiều người theo Ngài chỉ vì tò mò. Nhưng nếu có một ai đến với Ngài trong khi tất cả những người khác xa cách Ngài, Ngài biết rằng chính Cha đã lôi kéo người ấy đến với Ngài và chính Thánh Thần giúp họ tuyên xưng đức tin.

+++

Mùi Bánh Mì

Bạn đã bao giờ đi ngang qua một tiệm bánh và ngửi thấy mùi thơm của bánh mì mới nướng chưa? Thật khó mà thờ ơ được. Ngay cả khi bạn không đói, mùi hương ấy vẫn thu hút bạn, khiến bạn quay lại, mời gọi bạn. Bánh mì có một sức mạnh riêng: nó gợi nhớ về gia đình, tuổi thơ, sự thiếu thốn, niềm hy vọng. Nó không ép buộc bạn, mà gọi bạn một cách ngọt ngào.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giê-su nói: "Không ai đến được với Ta nếu Cha không kéo người ấy đến ." Như thể chính Thiên Chúa, giống như mùi bánh mì thoang thoảng trong lòng chúng ta, đặt một khát vọng vào trong chúng ta: Ngài kéo chúng ta đến với Ngài, Ngài gọi chúng ta, nhưng không ép buộc. Và khi chúng ta đáp lại sự thu hút này và đến gần Chúa Giê-su hơn, chúng ta khám phá ra rằng Ngài không chỉ là một người thầy, không chỉ là một vị tiên tri: Ngài là bánh hằng sống từ trời xuống. Và đó không phải là một hình ảnh thơ mộng, mà là một lời tuyên bố mạnh mẽ: "Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời ." Điều đó không chỉ nói về việc tìm kiếm sự bình an nội tâm, mà còn về việc nhận lãnh món quà của một sự sống không bao giờ kết thúc, một sự sống đã bắt đầu thay đổi mọi thứ.

Bánh mì của người thợ làm bánh mà chúng ta ăn mỗi ngày chỉ làm thỏa mãn chúng ta trong vài giờ. Nhưng bánh mà Chúa Giê-su ban cho chúng ta là bánh duy nhất thỏa mãn cơn đói sâu sắc nhất của chúng ta: cơn đói khát ý nghĩa, tình yêu, vẻ đẹp và sự vĩnh hằng. Nhận lấy bánh này thôi chưa đủ: chúng ta phải tin vào Ngài. Chính đức tin biến đổi thức ăn này thành sự sống đời đời. Không có đức tin, bánh ấy chỉ ở trên lưỡi mà không vào được trong tim. Đó là lý do tại sao chúng ta thường rước lễ mà không thực sự thay đổi: bởi vì chúng ta nuôi dưỡng bản thân mà không để mình bị thu hút, không thực sự khao khát Ngài.

Hôm nay, Chúa Giê-su nhắc lại với chúng ta rằng những ai đến gần Ngài với đức tin sẽ không bị chối bỏ. Quả thật, Ngài hứa: "Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày cuối cùng . "

Vậy nên, chúng ta hãy đến gần Bánh này không phải với thói quen, mà với lòng khao khát, với niềm tin, với sự đói khát thực sự. Hãy để bản thân được thu hút đến với Ngài, như bởi hương thơm của bánh mì mang mùi hương của quê hương và cõi vĩnh hằng.

Thứ sáu Tuần III Phục Sinh 

Ông Saolô từ dưới đất đứng dậy, mắt thì mở nhưng không trông thấy gì. Người ta phải cầm tay dắt ông vào Đamát. Suốt ba ngày, ông không nhìn thấy, cũng chẳng ăn, chẳng uống.

Thật đáng ngạc nhiên khi phụng vụ tuần III sau Phục sinh làm cho ta cảm nghiệm quyền năng của sự phục sinh.

Hôm nay chính Đức Giêsu can thiệp vào cuộc đời của Saolô, người đang làm cho các môn đệ sợ hãi. Trên đường đến Đamát, Đức Giêsu đã làm cho ông ngã ngựa. Kinh nghiệm này được đọc bằng nhiều cách khác nhau: lịch sử, tâm lý, biểu trưng, thiêng liêng. Saolô đang nằm dưới đất, mù lòa vì ánh sáng từ trời. trước đây không lâu ông là người dẫn các kitô hữu đi tiêu diệt, thì giờ đây chính họ lại cầm tay ông dắt vào thành Đamát, trên phố Thẳng, đến nhà ông Giuđa. Lưu lại đây ba ngày không ăn không uống.

Ba ngày! Chúng ta vừa mừng lễ Phục sinh, ba ngày nói với ta nhiều ý nghĩa. Ba ngày trong mộ là mở đầu cho một cuộc sống mới, hoàn toàn khác hẳn. Như thế Saolô được rửa tội, trở thành Phaolô: một con người khác, một thủ lãnh của Thiên Chúa.

Từ nay chỉ có một ước muốn trên môi miệng: loan báo tin mừng và sống vì Đức Kitô. Sau ba ngày không ăn không uống, nước và lương thực của ông từ nay sẽ là Đức Kitô, ở trong lòng ông cũng như trong lòng mọi kitô hữu: ‘Ai ăn thịt ta và uống máu ta thì được sống muôn đời, và ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết’. 

Hôm nay trong phút hồi tâm, tôi để cho ánh sáng của Đấng phục sinh soi chiếu những bóng tối trong tôi, mang lại cho tôi cái nhìn sáng tỏ để nhận ra sự hiện diện sống động và hiện thực của Chúa nơi Thánh Thể. Tôi dành thời giờ để thờ lạy Thánh Thể trong khiêm hạ và thinh lặng.

+++

Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy.

Chỉ trong một câu mà nhắc đến ba lần từ ‘sự sống’: nguồn sống là nơi Chúa Cha, dòng suối tuôn trào mang sự sống là Chúa Con, mỗi người chúng ta mở lòng đón nhận.

Hình ảnh thị kiến của ngôn sứ Êdêkien: dòng nước phát xuất từ Đền thờ và chảy thành sông mang lại sự sống cho mọi sinh vật trong đó và cây cối hai bên bờ.

Vì thế nên không thể ngăn chặn dòng chảy với Nguồn suối, vì đó là sự sống của chúng ta. Ăn Đức Kitô nghĩa là để cho Thánh Thần thấm nhuần đời sống mình đến độ có thể nói như Phaolô: Tôi sống nhưng không phải là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Suy tư của tôi, tình cảm của tôi, ý chí của tôi, toàn thể con người tôi cần phải thấm đẩm Đức Kitô. Nhưng điều này đòi hỏi phải được Ngài nuôi dưỡng bằng Lời và Bánh. Trong cuộc sống thường ngày cuộc sống của Ngài trở nên chính cuộc sống của tôi và hành động của tôi mặc lấy một chiều kích mới: đầy tình yêu.

Hôm nay trong phút hồi tâm tôi tự nhủ luôn nuôi dưỡng mình mỗi ngày bằng Lời và Bánh. Lạy Chúa Giêsu, tạ ơn Chúa vì Chúa tiếp tục bẻ bánh để nuôi dưỡng chúng con. 

+++

Sự Ngưng Ý Thức

Bạn đã bao giờ trải nghiệm một khoảnh khắc sâu sắc đến mức khiến bạn không nói nên lời, không hoàn toàn nhận thức được điều gì đang xảy ra chưa? Giống như một cái ôm bất ngờ làm bạn xúc động, hay một vẻ đẹp bất ngờ khiến bạn bất động. Dường như, trước những mầu nhiệm nhất định, ý thức của chúng ta bị đình chỉ, không thể chứa đựng hết được.

Điều này cũng xảy ra trong Thánh Lễ. Chúa Nhật tuần tới là Ngày Cầu Nguyện Thế Giới cho Ơn Gọi . Mỗi linh mục, khi cử hành Thánh Thể, đều bước vào một trạng thái "ngưng ý thức ". Nếu ngài thực sự nhận thức được điều mình đang làm - mầu nhiệm mình đang chạm đến - ngài sẽ bị choáng ngợp. Nhưng điều này không chỉ liên quan đến các linh mục. Điều tương tự cũng đúng với các bạn, những người tín hữu thân yêu, những người đến với Thánh Thể mỗi ngày hoặc mỗi tuần. Các bạn cũng bước vào một trạng thái "vô thức", bởi vì nếu các bạn thực sự hoàn toàn nhận thức được mình đang lãnh nhận ai - chính là Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của vũ trụ - các bạn không thể đứng vững: các bạn sẽ bị choáng ngợp bởi sự hiện diện của Ngài.

Tuy nhiên, ngay cả khi nhận thức trọn vẹn điều này còn chưa đạt đến chúng ta, trong thâm tâm chúng ta vẫn cảm nhận được sự bất cân xứng giữa sự nhỏ bé của mình và sự bao la của hồng ân. Chúng ta cảm thấy mình không xứng đáng, nhưng không thể nào khác được. Bởi vì hôm nay Chúa Giê-su nói với chúng ta bằng những lời lẽ rõ ràng và dứt khoát: "Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Người, thì các ngươi không có sự sống trong mình ." Đó không phải là một khả năng, mà là một sự cần thiết. Chỉ bằng cách nuôi dưỡng bản thân bằng chính Ngài, chúng ta mới có được sự sống thật. Và không chỉ cho tương lai: "Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì được sự sống đời đời"—ngay trong hiện tại—"và Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày cuối cùng ." Việc rước lễ là đón nhận sự sống đời đời ngay bây giờ. Đó là sống cho Ngài, ngay hôm nay, như chính Chúa Giê-su đã nói: "Ai ăn Ta thì sẽ sống cho Ta ." Nó giống như được nếm, ngay tại trần gian này, một mảnh thiên đường, một ngụm của sự vĩnh hằng bắt đầu trong thời gian của chúng ta.

Vâng, có lẽ tất cả chúng ta đều hơi liều lĩnh, bởi vì chúng ta không thể chứa đựng được Mầu nhiệm này. Liều lĩnh, đúng vậy, nhưng không phải là thờ ơ. Và bằng cảm xúc, ngay cả khi chưa hiểu hết ý nghĩa của nó, chúng ta vẫn có thể nhận ra rằng mình đã được ban tặng một món quà vô cùng lớn lao, một món quà mà mình không xứng đáng nhận được. Và chính sự bất cân xứng này khiến chúng ta trở nên khiêm nhường hơn, chú tâm hơn, sốt sắng hơn, với tư cách là linh mục và tín hữu, để mỗi ngày càng trở nên xứng đáng hơn khi được đón nhận Ngài.

Thứ bảy Tuần III Phục Sinh 

Hồi ấy trong khắp miền Giuđê, Galilê và Samari, Hội Thánh được bình an, được xây dựng vững vàng và sống trong niềm kính sợ Chúa, và ngày một thêm đông nhờ Thánh Thần nâng đỡ

Chúng ta đã thấy những ngày trước, Hội Thánh bị bách hại và buộc phải chạy trốn nhiều nơi. Bây giờ nói đến thời kỳ an bình. Ta biết trong lịch sử điều này không kéo dài lâu. Và cũng như thế cho đến ngày nay: thời kỳ yên lành tạm thời và thời kỳ bị bách hại chen lẫn nhau.

Như lịch sử minh chứng, cả hai thời kỳ đều cần thiết để xây dựng và phát triển Hội Thánh cho đến đạt đến mức thành toàn của Đức Kitô như lời thánh Phaolô nói.

Trong những thời kỳ yên lành, Hội Thánh đào sâu và củng cố niềm tin của mình, nhưng có nguy cơ rơi vào những hình thức thích nghi và lệ thuộc vào não trạng người đương thời. Một sự bế tắc nguy hiểm kéo dài giúp Hội Thánh thoát khỏi cám dỗ của quyền lực và sự liên kết thụ động. Đức tin khi ấy nhường bước cho những hình thức tôn giáo thích hợp với truyền thống hơn là với niềm xác tín, và như thế mở đường cho sự thỏa hiệp: một lớp sơn của hình thức chủ nghĩa trên một cuộc sống hoàn toàn ngoại giáo.

Trong những thời kỳ thử thách, đức tin được vững mạnh và thanh luyện. Dù trong khủng hoảng, nhưng thời kỳ này thúc đẩy ta tự hỏi và làm sự chọn lựa nghiêm túc và xác tín hơn. Người ta có một thái độ phê phán hơn, thúc đẩy mình xem lại độ chính xác của việc gắn bó đức tin và giũ bỏ những bụi bẩn che phủ khuôn mặt của Đức Kitô trong Hội Thánh ngài và trong mỗi kitô hữu. Sau cùng Hội Thánh trở nên đáng tin hơn.

Dù ở thời kỳ an bình hay thời kỳ bị bách hại, Hội Thánh được vững mạnh nhờ lòng tin rằng Thánh Thần không bỏ rơi Hội Thánh: chính Người là Đấng điều khiển Hội Thánh và không có gì có thể làm cho nó chao đảo

Hôm nay trong phút hồi tâm, tôi chăm chú vào tình trạng hiện nay mà Thánh Thần chỉ cho tôi con đường phải theo để khuôn mặt của Hội Thánh rạng sáng luôn nhờ ánh huy hoàng của Đức Kitô.

Lạy Chúa, xin ban cho con sống đến tận cùng kitô tính của con, ngay cả lúc chân trời hình như mờ tối. Lúc đó Ngài gọi con cần phải mạnh mẽ hơn để làm chứng với lòng can đảm và trong sáng.

Bỏ Thầy chúng con biết đến với ai 

Chương 6 tin mừng Gioan là một chương ‘cứng’. Một số người lấy làm chói tai vì nghe Đức Giêsu nói và muốn bỏ ra đi. Quay về phía các môn đệ, Đức Giêsu hỏi: ‘Các con có muốn bỏ đi không? Với những lời thật hay, Phêrô trả lời: ‘Bỏ Thầy chúng con biết theo ai? Thầy mới có những lời hằng sống’. Có thể nói được rằng, cho dù không thiếu những khó khăn, các môn đệ đã nhất định chọn Chúa Giêsu. Họ hiểu rằng theo Chúa là con đường lên dốc, mệt nhọc, là từ bỏ tất cả, là bỏ cả mạng sống. Từ bỏ những của riêng, những quyến luyến riêng. Chưa đủ, theo Đức Giêsu còn đòi hỏi bỏ cả mạng sống mình nữa: trao ban thịt mình cho thế gian được cứu rỗi.

Tin không phải là khước từ việc tìm hiểu, tin là hiểu rằng vẫn còn điều tôi chưa biết: tôi biết rằng Ngài là Chúa. Thật đẹp nếu ta nối kết diễn từ này với Thánh Thể xảy ra cho 2 môn đệ đi đường Emmaus. Họ đã nhận ra Chúa lúc bẻ bánh. Qua một cử chỉ thật đơn sơ, thật bình dị, mắt trí khôn mở ra trước mầu nhiệm. Tin là nói vâng trước mầu nhiệm được mạc khải dần dần cho ta.

Người rút lui. Ai là những người rút lui? Có thể họ chẳng khác chúng ta là bao, nhiều lần thoái thác trước nhiệm vụ của mình, của một người công dân, của một người con cái Thiên Chúa. Chúng ta để cho những người khác làm, xây dựng, còn mình thì than thở: mọi việc không theo đúng định hướng, nào là chiến tranh không có hòa bình, nạn đói không có lương thực cho tất cả, bất công…Ta có thể nói rằng những kẻ rút lui là những người chỉ biết khoanh tay đứng nhìn và càu nhàu: Có thể làm tốt hơn thế! Là những kẻ từ chối trèo lên giây cùng với những kẻ khác, hoặc tệ hơn thế, là kẻ làm hỏng những kế hoạch hay vì sự rút lui của họ kéo theo những người khác.

Người tin. Có kẻ chỉ cần một khoảnh khắc, có kẻ cần thời gian dài hơn, nhưng họ không phải là kẻ rút lui trước đòi hỏi cứng rắn của việc theo Chúa Giêsu. Nhà văn Pháp André Frossard đã kể cảm nghiệm trở lại của mình trong tác phẩm mang tựa đề: Thiên Chúa hiện hữu. Tôi đã gặp Ngài. Và ông thú nhận bằng những lời thật hay: Ôi Tình Yêu, nói về Ngài cả vĩnh cữu cũng còn vắn vỏi, không đủ.

Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

ducchasi
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập105
  • Máy chủ tìm kiếm26
  • Khách viếng thăm79
  • Hôm nay12,984
  • Tháng hiện tại338,228
  • Tổng lượt truy cập65,630,358

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây