Chúa Nhật V PS/A
Lòng các con đừng xao xuyến
Phụng vụ cho chúng ta những trang sách đầy ắp sự an ủi, được soi sáng bởi Phê-rô, người nói: " Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa, để rao giảng quyền năng của Đấng đã gọi anh em ra khỏi tối tăm mà vào ánh sáng kỳ diệu của Người."
Trong ánh sáng của những câu Kinh Thánh này, chúng ta hiểu được mối quan tâm trong cộng đồng Giê-ru-sa-lem đối với việc chăm sóc các góa phụ nói tiếng Hy Lạp.
Tất cả dân Chúa đều được thấm nhuần những lời mà tông đồ đã trao cho chúng ta trong bài đọc thứ hai. Trong bối cảnh đó, hình ảnh phó tế trong việc phục vụ bác ái hiện lên. Mối quan tâm của Giáo hội đối với mọi người là điều hiển nhiên.
Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài, và qua họ, với tất cả chúng ta, bằng những lời đầy dịu dàng. Đây là điều chúng ta nghe được khi Ngài cầu nguyện với Chúa Cha trong lời cầu nguyện tư tế của Ngài, trong đó tất cả chúng ta đã phó thác chính mình để không ai bị hư mất.
Trong đoạn này, chúng ta đang ở trong bối cảnh Bữa Tiệc Ly, rất gần với các sự kiện của Thứ Sáu Tuần Thánh, khi chính Chúa Giêsu sẽ chịu những trận đòn và đóng đinh trên thập tự giá. Ngài dành cho các môn đồ một lời an ủi: "Lòng các con đừng xao xuyến."
Những lời này vẫn vang vọng mạnh mẽ cho đến ngày nay, giữa những thời điểm khó khăn đối với nhân loại và lịch sử cá nhân của chính chúng ta. Chiến tranh, khó khăn kinh tế, mất việc làm, và tất cả những điều khác mà chúng ta đều mang trong mình.
Điều được giao phó cho chúng ta không phải là một sự an ủi nhỏ bé, bởi vì nó được xây dựng trên đức tin.
Thế giới mang đến cho chúng ta sự bình an nội tâm có thể tìm thấy thông qua các kỹ thuật thư giãn và suy ngẫm, trong khi điều Chúa Giê-su yêu cầu chúng ta phải tìm thấy nơi Ngài, vì Ngài là Đường đi, là Sự thật và là Sự sống.
Các tông đồ chắc chắn đã bối rối, và vì lý do này họ đặt câu hỏi và cầu xin Thầy vì họ không hiểu, nhưng chính Ngài, qua con người của Ngài, đã chỉ cho họ con đường chắc chắn dẫn chúng ta đến ơn cứu rỗi.
Các kỹ thuật được đề xuất bởi phong trào Thời đại Mới mang đến cho chúng ta hạnh phúc nhất thời, sự bình yên trong một thời gian ngắn; tuy nhiên, con đường của Chúa Kitô có một chân trời rộng lớn hơn, đó là sự sống đời đời.
Ngài gọi đó là Đường đi bởi vì đó là con đường, đặc biệt là với gương mẫu của Ngài; là Sự thật, bởi vì nó soi sáng con đường bằng cách loại bỏ những bóng tối mà chúng ta gặp phải; Sự sống, bởi vì Ngài đã chuẩn bị một chỗ cho chúng ta.
Được củng cố bởi những lời lẽ đầy khích lệ này, trách nhiệm của chúng ta là an ủi dân Chúa.
Không có tin tức hay câu chuyện cá nhân nào quyết định sự kết thúc của chúng ta.
Một người phụ nữ, một người mẹ đã chết trong sự thánh thiện, đến giúp đỡ chúng ta: "Chúng ta sinh ra và sẽ không bao giờ chết nữa."
Hai đứa con đầu lòng của cô, sinh ra với dị tật nghiêm trọng, chỉ sống được vài phút. Chiara và chồng, Enrico, đã đón nhận chúng như một món quà, khẳng định rằng cuộc sống ngắn ngủi của chúng đã được trọn vẹn vì chúng được sinh ra trong vòng tay yêu thương vĩnh cửu của Chúa. Trong lần mang thai thứ ba, Chiara được chẩn đoán mắc bệnh ung thư lưỡi ác tính. Cô đã chọn trì hoãn các phương pháp điều trị xâm lấn hơn để bảo vệ con trai Francesco, nhờ đó cậu bé được sinh ra khỏe mạnh.
Trong bức thư viết nhân ngày sinh nhật đầu tiên của Francesco, Chiara đã để lại điều được coi là di chúc tâm linh của mình: "Bất cứ điều gì bạn làm sẽ chỉ có ý nghĩa nếu bạn nhìn nhận nó theo khía cạnh sự sống vĩnh cửu."
Lời của Tin Mừng hôm nay không trở nên trống rỗng, mà trở thành hiện thực, mang lại ý nghĩa cho những cuộc đời mà thế giới nếu không sẽ coi là vô nghĩa.
Vậy nên, giữa những khó khăn, hãy để những lời ấy vang vọng, và kẻ thù, ma quỷ, sẽ thấy cánh cửa đóng kín.
Chúng ta có đức tin nơi Chúa Kitô, Đấng là "Đường đi, Sự thật và Sự sống"!
Trong Tin Mừng Chúa Nhật thứ năm Phục Sinh này, chúng ta đã nghe phần mở đầu của "Bài giảng từ biệt " của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã nói những lời này với các môn đệ của Ngài vào cuối Bữa Tiệc Ly, ngay trước khi chịu Khổ nạn. Trong khoảnh khắc đầy kịch tính ấy, Chúa Giêsu bắt đầu bằng câu: " Lòng các con đừng xao xuyến." Ngài cũng nói điều này với chúng ta, những môn đệ ngày nay, trong những biến cố của cuộc sống. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể đảm bảo rằng lòng mình không xao xuyến?
Chúa chỉ ra hai phương thuốc cho sự xao xuyến: thứ nhất là phải có đức tin. Thánh sử Gioan viết rằng Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài: " Hãy tin nơi Thiên Chúa, và cũng hãy tin nơi Ta. Đức tin nơi Thiên Chúa và nơi Chúa Giêsu không phải là hai hành động riêng biệt, mà là một hành động đức tin duy nhất, bởi vì ơn cứu độ do Thiên Chúa Cha thực hiện đến từ Con Một của Ngài. Và Tân Ước đã chấm dứt sự vô hình của Thiên Chúa Cha. Thiên Chúa đã tỏ mình ra, như lời Chúa Giêsu đáp lại tông đồ Philipphê đã khẳng định: " Ai đã thấy Ta thì đã thấy Cha ." Con Thiên Chúa, với sự nhập thể, cái chết và sự phục sinh của Ngài, đã giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi để ban cho chúng ta sự tự do của con cái Thiên Chúa và cho chúng ta biết được dung mạo của Thiên Chúa là tình yêu: Thiên Chúa có thể được nhìn thấy, Ngài hiện hữu trong Chúa Kitô. Thánh Teresa Avila viết rằng "chúng ta không được xa rời điều tạo nên toàn bộ sự tốt lành và phương thuốc của chúng ta, đó là nhân tính thánh thiện nhất của Chúa Giêsu Kitô" ( Lâu đài Nội tâm , 7, 6: Toàn tập , Milan 1998, 1001). Vì vậy, chỉ bằng cách tin vào Chúa Kitô, giữ vững sự hiệp nhất với Ngài, các môn đệ, trong đó có chúng ta, mới có thể tiếp tục hành động vĩnh cửu của Ngài trong lịch sử: " Thật vậy, thật vậy, Ta nói cùng các ngươi , Chúa phán, "ai tin Ta, thì việc Ta làm, người ấy cũng sẽ làm ."
" Hãy tin vào Ta ," vậy có nghĩa là tin tưởng và phó thác hoàn toàn bản thân mình cho Chúa Giêsu. Ngài biết rằng, trong cuộc sống, nỗi lo lắng tồi tệ nhất, sự hỗn loạn nhất, đến từ cảm giác bất lực, từ cảm giác cô đơn và không có điểm tựa nào khi đối mặt với những gì đang xảy ra. Nỗi đau khổ này không thể tự mình vượt qua. Chúng ta cần sự giúp đỡ của Chúa Giê-su, và vì lý do này, Chúa Giê-su yêu cầu chúng ta phải có đức tin nơi Ngài, nghĩa là không dựa vào chính mình, mà dựa vào Ngài. Bởi vì sự giải thoát khỏi hỗn loạn đến từ lòng tin tưởng. Vì vậy, chúng ta hãy phó thác bản thân mình cho Chúa Giê-su, bởi vì đó là sự giải thoát khỏi hỗn loạn. Và Chúa Giê-su đã sống lại và đang sống chính là để luôn ở bên cạnh chúng ta. Vì vậy, chúng ta có thể nói với Ngài: "Lạy Chúa Giê-su, con tin rằng Ngài đã sống lại và Ngài đang ở bên cạnh con. Con tin rằng Ngài đang lắng nghe con. Con dâng lên Ngài những điều làm con phiền muộn, những nỗi lo lắng của con: Con có đức tin nơi Ngài và con phó thác bản thân mình cho Ngài."
Có một phương thuốc thứ hai cho sự hỗn loạn, mà Chúa Giê-su đã diễn tả bằng những lời này: " Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với các con rồi; Thầy đi để dọn chỗ cho các con." Đây là điều Chúa Giê-su đã làm cho chúng ta: Ngài đã dành sẵn một chỗ cho chúng ta trên Thiên đàng. Ngài đã mang lấy thân phận con người của chúng ta để đưa nó vượt qua cái chết, đến một nơi mới, đến Thiên đàng, để nơi Ngài ở, chúng ta cũng ở đó. Và sự chắc chắn rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ ở trên Thiên đàng mang lại cho chúng ta niềm vui và sự an ủi. Trên trái đất này, chúng ta chỉ là người lữ khách; chúng ta là những người hành hương. Chúng ta được tạo dựng cho Thiên đàng, cho sự sống đời đời, để sống mãi mãi trong niềm vui, trong sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa, trong một thế giới không có nước mắt, oán hận, chia rẽ hay hỗn loạn, mà chỉ có hạnh phúc.
Nhưng làm thế nào để chúng ta đến được Thiên đàng? Con đường là gì? Chúa Giê-su cho chúng ta câu trả lời khi Ngài nói: " Ta là đường đi ." Vì vậy, để lên Thiên đàng, con đường chính là Chúa Giê-su. Chúng ta phải tự hỏi mình: "Là một Kitô hữu, tôi nên đi theo con đường nào?" Có những con đường không dẫn đến Thiên đàng: con đường thế tục, con đường tự khẳng định bản thân, con đường quyền lực ích kỷ. Và có con đường của Chúa Giê-su, con đường của tình yêu khiêm nhường, của cầu nguyện, của sự hiền lành, của lòng tin tưởng, của việc phục vụ người khác.
Vì vậy, đức tin vào Chúa Giê-su, Đấng là " Con Đường " đích thực, bao gồm việc bước theo Ngài mỗi ngày, trong những hành động đơn giản tạo nên cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Thánh Augustinô nói rằng "Chúa Giê-su cần phải nói: ' Ta là đường đi, là sự thật và là sự sống ', bởi vì một khi đã biết con đường, thì đích đến vẫn chưa được biết" ( Tractatus in Ioh ., 69, 2: CCL 36, 500), và đích đến là Chúa Cha. Đối với các Kitô hữu, đối với mỗi chúng ta, do đó, Con Đường đến với Chúa Cha là để cho mình được Chúa Giê-su hướng dẫn, bởi Lời Chân Lý của Ngài, và đón nhận hồng ân Sự Sống của Ngài. Chúng ta hãy đón nhận lời mời gọi của Thánh Bonaventura: "Hãy mở mắt ra, lắng tai nghe, mở môi miệng, chuẩn bị tâm hồn, để trong muôn vật, các con thấy, nghe, ngợi khen, yêu mến, tôn kính, tôn vinh và kính trọng Thiên Chúa" ( Itinerarium mentis in Deum , I, 15).
Việc cam kết loan báo Chúa Giêsu Kitô, Đấng là " đường đi, sự thật và sự sống ", là nhiệm vụ chính yếu của Giáo hội. Chúng ta hãy cầu xin Đức Mẹ Maria luôn giúp đỡ các Mục tử và tất cả những người đang phục vụ trong các chức vụ khác nhau, những người loan báo tin mừng cứu độ, để, như đã chép trong sách Công vụ Tông đồ: " Lời Thiên Chúa được lan rộng và số môn đệ được gia tăng " (Bài đọc thứ nhất).
Chúa Nhật V PS/C
Yêu như Chúa Giêsu
Trong Phúc Âm Chúa Nhật thứ V Phục Sinh, thánh Gioan dẫn chúng ta vào Phòng Tiệc Ly và cho chúng ta hít thở bầu không khí của một nơi trở thành bối cảnh cho lời dạy vĩ đại cuối cùng của Chúa Giêsu được diễn tả dưới dạng một di chúc. Trước bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã phải hứng chịu nhiều cảm xúc khác nhau: sự thù ghét của người Do Thái vì dấu hiệu về sự sống lại của Lagiarô; lòng biết ơn yêu thương và rộng lượng của Maria thành Bêtania, chị gái của người đã chết được phục hồi sự sống và tình cảm của ông; sự chai lì của một trong những người thân cận của Người, Giuđa, người cảm thấy khó chịu vì mùi hương cam tùng lãng phí được đổ trên Chúa Giêsu. Sau này, người này chấp nhận lời đề nghị của Satan, kẻ chia rẽ ngay từ đầu, suy nghĩ về sự phản bội trong lòng và tách mình ra khỏi nhóm mười hai tông đồ. Vì thế, ông rời khỏi nơi hiệp thông ấm áp, nơi Chúa Giêsu, khi rửa chân cho các môn đệ, đã biểu lộ sức mạnh và sự yếu đuối của một Thiên Chúa là Chúa nhưng lại hạ mình xuống, chạm vào con người qua những vết thương, qua những gian khổ của họ, nơi con người tiếp xúc nhiều nhất với mặt đất, để nâng họ lên.
Trong bầu không khí này, nơi những cảm xúc xung đột đấu tranh, Chúa Giêsu để tình yêu chiến thắng. Ngài đọc sự ra đi của Giuđa với một cách giải thích đặc biệt: Ngài gọi ‘sự tôn vinh’ là biểu tượng của sự sỉ nhục và phản ứng với sự đào tẩu của một người bạn bằng một ngôn ngữ toát lên niềm hy vọng về sự gần gũi và hiệp thông. Có một mối quan hệ mong manh có thể sụp đổ, đó là mối quan hệ giữa các môn đồ với Chúa Giêsu, nhưng cũng có một mối quan hệ bền chặt và không thể phá hủy, đó là mối quan hệ giữa Chúa Giêsu với Chúa Cha, một mối quan hệ có đi có lại và hiệp thông trọn vẹn, cũng mang lại sức mạnh và động lực cho mối quan hệ mà Chúa Giêsu đã xây dựng với các môn đồ của Người. Sự tôn vinh mà Chúa Giêsu nói đến thực ra không mang những đặc điểm trần tục, nhưng là hiệu quả của một tình yêu siêu việt, vượt qua mọi cú sốc, không nản lòng trước sự bỏ rơi, luôn nuôi dưỡng hy vọng rằng trong trái tim con người, tình yêu sẽ chiến thắng sự ích kỷ và lợi ích cá nhân.
Sự tôn vinh mà Chúa Giêsu nói đến (sự tôn vinh đồng thời của Chúa Cha và Chúa Con) có liên quan đến cái chết sắp xảy ra của Người ("Hỡi các con bé nhỏ, Ta sẽ còn ở với các con một ít lâu nữa"), nó bắt đầu bằng việc Giuđa giao nộp, biểu hiện như sự phản bội, như sự ngắt kết nối khỏi mạng lưới tình bạn hiệu quả với Chúa Giêsu, và hình thành nên phản ứng của Chúa Giêsu, cũng là một sự giao nộp, nhưng theo nghĩa là món quà tình yêu trọn vẹn của Người. Cả Giuđa và Chúa Giêsu đều trao tặng thứ gì đó hoặc đúng hơn là ai đó: Giuđa trao tặng Chúa Giêsu mà quên đi mối dây liên kết ông với Chúa, còn Chúa Giêsu trao tặng chính mình để nhắc nhở mọi người về mối dây duy nhất thay vì giam cầm thì lại giải thoát: tình yêu.
Do đó, có một lời cam kết: ‘Ta ban cho các ngươi một điều răn mới là các ngươi hãy yêu thương nhau. Như Ta đã yêu thương các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu thương nhau thể ấy.’ Vinh quang đích thực nằm ở tình yêu, trong tình yêu vượt qua giới hạn của người khác và vượt qua sự thất bại rõ ràng của chính mình. Đây là tình yêu mà các tông đồ không cần phải tìm kiếm ở đâu xa, nhưng họ phải học từ Chúa Giêsu. Lời mời gọi này là yêu thương nhau không phải bằng cách dựa vào cảm xúc của riêng mình, vốn hay thay đổi và thường lừa dối, nhưng bằng cách chọn tình yêu vững chắc và không thể phá vỡ của Chúa Giêsu làm thước đo, làm nền tảng cho sự tái sinh liên tục của tình yêu mong manh của chính mình. Vì lý do này, Chúa Giêsu dùng thời gian ngắn ngủi còn lại để làm tràn ngập phòng tiệc ly bằng hương thơm tình yêu và khắc ghi vào lòng các môn đệ bí quyết hạnh phúc của họ và của mọi môn đệ muốn sinh hoa trái và thu hút mọi tâm hồn về với Thiên Chúa: ‘Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em yêu thương nhau’. Tình yêu thương lẫn nhau không phải là tùy chọn nhưng là yếu tố cấu thành nên đời sống của Hội thánh; Đây chính là động lực thúc đẩy công cuộc truyền giáo. Trên thực tế, Giáo hội là người mẹ tạo ra sự sống mới, người nuôi dưỡng cung cấp thức ăn bổ dưỡng, người bạn đồng hành trên con đường phát triển và trưởng thành, nhà trị liệu chữa lành vết thương tâm hồn, đến mức tất cả những người đã chịu phép rửa tội - bằng cách xóa bỏ thù hận và lời phàn nàn-, đã chọn thúc đẩy tình yêu thương huynh đệ.
+++
Năm mầu nhiệm của vinh quang thần linh
Theo cách suy nghĩ của văn hóa phương Tây, thuật ngữ ‘vinh quang’ tương ứng với các từ ‘thành công cá nhân’, ‘danh tiếng cá nhân’, ‘chiến thắng người khác’, ‘tự chứng ngộ’.
Động từ ‘được tôn vinh’ tương ứng với các động từ ‘được công nhận’, ‘trở nên nổi tiếng trên mạng xã hội’, ‘trở thành ai đó và nổi bật giữa đám đông’. Vinh quang của con người là sự theo đuổi ích kỷ để được người khác công nhận: bằng sức mạnh vật chất, chính trị, quân sự mà người ta đã chinh phục được; hoặc đối với thành công trong nghề nghiệp, là kết quả của cuộc đấu tranh cạnh tranh với người khác; hoặc thông qua việc phô trương sự giàu có về vật chất và tiền bạc, vì ‘giàu có’ là ‘đứng đầu’; hoặc nhờ vào các danh hiệu học thuật ca ngợi sự sở hữu kiến thức khoa học, công nghệ, triết học, có khả năng chế ngự bản chất của hành tinh Trái Đất này; hoặc vì bạn trở nên nổi tiếng thông qua số lượng người theo dõi trên Twitter, Instagram, Tiktok. Loại ‘vinh quang của con người’ này là vinh quang giả tạo, là sự phù phiếm. Nó không mang lại kết quả tốt và không mang lại hạnh phúc đích thực.
‘Vinh quang của ‘Thiên Chúa’ rất khác biệt với ‘vinh quang của con người’ rõ ràng này.
Trong bối cảnh bữa tiệc Vượt Qua, Chúa Giêsu đã biết mình bị Giuđa Ítcariốt phản bội (x.Ga 13:18). Chúa Giêsu cũng đã rửa chân cho kẻ phản bội, Người cũng đã trao cho kẻ phản bội thân xác và máu của Người trong bánh và rượu của Bữa Tiệc Ly. Khi Giuđa bắt đầu thực hiện kế hoạch giao nộp Chúa Giêsu cho chính quyền Do thái để kết án tử hình, Chúa và Thầy của chúng ta lại bắt đầu nói về ‘vinh quang’, như Ngài đã từng nói vào những lần trước.
Chúng ta thấy lạ khi Ngài nói đến ‘vinh quang’ bởi vì Ngài làm như vậy trong khi nhớ lại nỗi đau khổ và cái chết của mình. Tiếp theo Phúc âm thánh Gioan, Chúa Giêsu đã nói rằng: ‘Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Nhưng nếu nó chết đi, nó sẽ sinh nhiều hạt khác’ (Ga 12:24). Sau đó, trong lời cầu nguyện, Người bày tỏ cảm xúc đau khổ của mình, gợi cho chúng ta nhớ đến nỗi thống khổ của Người ở Vườn Ghết-sê-ma-nê, trước khi bị bắt: ‘Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến; Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này? Nhưng chính vì giờ này mà Con đã đến! Lạy Cha, xin tôn vinh danh Cha! (Ga 12:27). Thánh sử Gioan tiếp tục viết: “Bấy giờ có tiếng từ trời phán rằng: ‘Ta đã tôn vinh Danh Ta và Ta sẽ còn tôn vinh nữa!’ (Ga 12:28).
Hôm nay, Chúa Kitô phục sinh đã nhắc lại với chúng ta năm lần chủ đề về ‘vinh quang’ , bao gồm việc Người hiệp thông với Chúa Cha, khi sự kiện lịch sử được gọi là ‘giờ’ bắt đầu về cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người. Ngay lập tức ‘Khi Giuđa ra khỏi phòng tiệc, Chúa Giêsu liền phán: ‘Bây giờ Con Người được vinh hiển và Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người. Nếu Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người, thì Thiên Chúa lại cho Người được vinh hiển nơi chính mình, và Thiên Chúa sẽ cho Người được vinh hiển. (Ga 13:31-32).
Đó là ‘vinh quang thần linh’, được mạc khải qua năm mầu nhiệm.
Mầu nhiệm thứ nhất của ‘vinh quang thần linh’: Hiệp thông
‘Vinh quang thần linh’ là sự hiệp thông vĩnh cửu của Chúa Cha với Chúa Con trong Chúa Thánh Thần.
Chúng ta đã nghe: ‘Bây giờ Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người’ (Ga 13:31). Trong Gioan 17:5, Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha rằng vinh quang của sự hiệp thông mà Người đã có với Cha từ muôn đời vẫn vững chắc trong giờ thử thách của cuộc khổ nạn và cái chết của Người: ‘Lạy Cha, giờ đây xin Cha tôn vinh con bên Cha; xin ban cho Con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian’. Vinh quang của sự hiệp thông giữa Chúa Cha với Chúa Con là ân huệ của Chúa Thánh Thần, được ban tặng cách tự do cho tất cả chúng ta, được kêu gọi để khám phá ra ân huệ này đã được đổ vào lòng chúng ta: ‘Lạy Cha, vinh quang mà Cha đã ban cho Con, Con đã ban cho họ, để họ được một, như chúng ta là một’ (Ga 17:22).
Mầu nhiệm thứ hai của ‘Vinh quang thần linh’: sự ban tặng
‘Vinh quang Thiên Chúa’ là sự ban tặng nhưng không cho sự cứu rỗi của chúng ta.
Chúng ta đã nghe: ‘Nếu Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người, thì Thiên Chúa lại cho Người được vinh hiển nơi chính mình, và Thiên Chúa sẽ cho Người được vinh hiển.’(Ga 13:32). Chúa Cha đã được tôn vinh nơi Chúa Giêsu khi Người sinh ra tại Bêlem. Các thiên thần hát: ‘Vinh danh Thiên Chúa trên trời, và bình an dưới thế cho loài người Chúa thương’ (Lc 2:14). Vào lễ Giáng sinh, chúng ta cử hành điều này: ‘Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta; và chúng tôi đã ngắm nhìn vinh quang của Người, vinh quang của Con Một đến từ Chúa Cha, đầy ân sủng và chân lý’ (Ga 1:14). Đó là vinh quang của sự nhập thể của Con Thiên Chúa, Đấng đã mang lấy thân phận con người của chúng ta. Đó là một món quà nhưng không từ Thiên Chúa để cứu rỗi chúng ta.
Thánh Phaolô, khi viết cho những người Philipphê, đã diễn tả món quà này theo cách sau: ‘Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì đia vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên như người phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự’ (Pl 2:6-8).
Trong thư thứ nhất của Thánh Gioan, chúng ta đọc: ‘Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta’ (1 Ga 4:8b-10).
Mầu nhiệm thứ ba của ‘Vinh quang thần linh’: Điều răn mới
Chúng ta đã nghe: ‘Thầy ban cho anh em một điều răn mới: hãy yêu thương nhau. "Như Thầy đã yêu thương anh em, anh em cũng phải yêu thương nhau’ (Ga 13:34). Tiếp tục đọc thư thứ nhất của Thánh Gioan, chúng ta đọc: ‘Anh em thân mến, nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau’ (1 Ga 4:11).
Nghĩ về ‘vinh quang Thiên Chúa’ đòi hỏi chúng ta phải có tự do từ bỏ việc theo đuổi sự phù phiếm của con người và trở thành chứng nhân của ‘vinh quang Thiên Chúa’ này trong sự hiệp thông với anh chị em của chúng ta thuộc cộng đồng Kitô giáo. Chúa Cha hợp nhất với Chúa Con trong Chúa Thánh Thần cần mỗi người chúng ta để các mối quan hệ tôn trọng có thể chiếm ưu thế trên thế giới và để ‘mọi người có thể được sống và sống dồi dào’ , vì Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đã đến thế gian vì điều này (Ga 10:10). Mỗi người chúng ta phải quyết định biến thân xác mình thành đền thờ của Chúa Thánh Thần và là công cụ để tạo ra các mối quan hệ đực dệt bằng sợi chỉ của sự nhưng không của tình yêu thần thánh và không còn là sự thỏa mãn ích kỷ của những lợi ích về quyền lực, về thú vui và vì sợ mất đi sự phù phiếm của chúng ta.
Chúng ta đang sống trong thời đại của Chúa Thánh Thần, trong thời đại của Giáo hội, và đây là lý do tại sao tông đồ Gioan không còn nhìn thấy Con Thiên Chúa từ trời xuống, mà là thân thể của Chúa Kitô phục sinh, được đại diện bởi cộng đồng Kitô giáo của chúng ta ngày nay, thành Giêrusalem mới, muốn trở thành chứng nhân cho tình yêu huynh đệ và tính công đồng trên thế giới: ‘Và tôi là Gioan đã thấy thành thánh Giêrusalem mới, tự trời xuống, từ nơi Thiên Chúa: tề chỉnh như tân nương được trang điểm cho tân lang của mình. Và tôi nghe có tiếng lớn tự ngai vàng phán ra: "Ðây là Thiên Chúa ở với loài người, và chính Thiên Chúa sẽ ở với họ." (Kh 21:2.3b).
Mầu nhiệm thứ tư của ‘vinh quang Thiên Chúa’: chiến thắng sự dữ
Chúng ta đã nghe: ‘Người sẽ lau khô mọi giọt lệ ở mắt họ. Sự chết chóc sẽ không còn nữa, cũng không còn than khóc, không còn kêu la, không còn đau khổ: bởi vì các việc cũ đã qua đi" (Kh 21:4). ‘Biển’, trong Kinh Thánh là hình ảnh tượng trưng cho sự dữ, ‘không còn nữa’ (Kh 21:4). Chỉ có Chúa mới có khả năng viết thẳng lên những ranh giới quanh co của cái ác, chiến tranh, bất công, thiếu tôn trọng người khác và thiên nhiên. Chúng ta phó thác mình cho Chúa Cha hiệp nhất với Chúa Con trong Chúa Thánh Thần, và ‘vinh quang thần linh’ sẽ thể hiện trong khả năng được ban cho ‘trời mới đất mới’.
Mầu nhiệm thứ năm của ‘vinh quang Thiên Chúa’: sứ vụ
Chúng ta đã nghe: ‘Mọi người sẽ biết các con là môn đệ của Thầy, nếu các con yêu thương nhau’ (Ga 13:35). Có nhiều người vẫn chưa khám phá ra rằng họ được Chúa yêu thương và đã được ban ơn bởi món quà là Chúa Thánh Thần. Chúng tôi là một cộng đồng truyền giáo và chúng tôi cũng có thể chia sẻ ‘mọi điều Thiên Chúa đã làm qua hoạt động truyền giáo của chúng tôi và cách Người mở cánh cửa đức tin cho dân ngoại’ (Cv 14:27).
Chúa Nhật V PS
Trong các bài diễn từ giã biệt (c.13-17) thánh sử Gioan với đặc sủng riêng của mình, qua những lời nói của Đức Giêsu, cho thấy đời sống của các tín hữu từ lúc Chúa lên trời cho tới khi Ngài lại đến. Thánh sử gắn bó mật thiết với Chúa qua Thánh Thần của Thiên Chúa, Đấng nói với người nghe và người đọc bằng cách dùng từ ngữ ‘Tôi’ của Đức Kitô. Nhờ tiếng nói của Ngài, Chúa tỏ cho những ai tin Ngài biết hiện trạng của họ, hướng dẫn họ hành động cách đúng đắn.
Suốt phụng vụ các ngày Chúa nhật từ Lễ Phục Sinh đến lễ Chúa Thánh Thần Giáo hội đề nghị đọc những diễn từ này, để chứng tỏ cho các tín hữu biết điều gì quan trọng cho đời sống của họ. Qua hình ảnh so sánh Chúa tỏ cho ta ngày nay thấy rằng tất cả những ai gắn bó với Ngài bằng đức tin, hiện đang cùng chung sống với nhau trong một đời sống đích thực (cộng sinh). Cũng như những cành nho được sinh ra và nuôi sống bằng chính thân nho, chúng ta các kitô hữu cùng được liên kết một cách sống động với Đức Giêsu Kitô trong Giáo hội. Có rất nhiều điểu kiện để cho sức sống và ơn sủng của Đức Kitô mang lại hoa trái trong đời sống chúng ta: mỗi một cành nho phải được tách khỏi những mầm không cần thiết, cần phải khỏe mạnh và tương tác cộng sinh tốt đẹp với thân nho.
Qua bí tích Rửa tội Đức Kitô tiếp nhận chúng ta vào trong cộng đoàn của Chúa. Và chúng ta nhờ lời bí tích của Đức Kitô mà được giải thoát khỏi tội lỗi. Ơn sủng của Đức Kitô chỉ có thể hoạt động trong ta theo mức độ ta để cho Ngài hành động. Quan phòng của Thiên Chúa phủ bóng trên ta và chăm sóc chúng ta nếu chúng ta sẵn sàng. Nhưng chúng ta sẽ không sinh hoa trái nếu không gắn liền với thân nho suốt đời. Nghĩa là: nếu ta ý thức mình đang sống như những chi thể của Giáo hội Đức Kitô. Bởi lẽ, đối với Thiên Chúa, chỉ có điều được thực hiện trong lòng cộng đoàn, cùng với Đức Giêsu Kitô và trong Chúa Thánh Thần, mới có giá trị trường tồn: ‘Không có Thầy các con không thể làm được gì’. Kẻ tin nhận điều này, có thể cầu xin Thiên Chúa giúp mình để mình sống cách phong nhiêu trong đức tin và tình yêu.
Ở Lại, Ở Trong…
Hình ảnh vườn nho là chủ đề nổi bật của đoạn Tin mừng hôm nay, đã được các Ngôn sứ Cựu Ước sử dụng như Isaia, Giêrêmia, Êgiêkien, hay các Thánh vịnh, để đồng hóa với dân Israel. Nhưng ở đây ta thấy Đức Giêsu mang lại một ý nghĩa hết sức đặc biệt! Đoạn tin mừng nói về chính sự sống của cộng đoàn kitô sau khi Đức Giêsu về trời, thuật lại biết bao năng động của họ cũng như của ta ngày nay.
Động từ ‘ở lại, ở trong’ được gặp thấy nhiều lần trong cả đoạn: điều ấy có nghĩa gì.
Đức Giêsu bắt đầu nói bằng cách dùng một công thức quan trọng, long trọng như ngày xưa chính Thiên Chúa trong Cựu Ước đã dùng để tự mạc khải chính mình: TA LÀ cây nho thật và Cha Ta là người trồng nho. Đây là biểu tượng trong Cựu Ước trình bày Thiên Chúa như người chủ vườn nho, vườn nho là dân Ngài. Nhưng ở đây có một sự mới mẻ hết sức quan trọng: Đức Giêsu tự sánh ví mình là cây nho, cho thấy rằng không thể làm dân Thiên Chúa mà lại tách khỏi Ngài (Đức Giêsu).
Ngài còn thêm tĩnh từ THẬT (cây nho thật): đây là mạc khải sau cùng, Thiên Chúa Cha là cội nguồn và là Đấng tác tạo muôn loài, Chúa Con là Israel đích thực, dân Thiên Chúa, thực hiện mọi lời hứa của các ngôn sứ cho nhân loại và làm cho nhân loại mang lại nhiều hoa trái.
Một lần nữa ta lại gặp công thức tự giới thiệu mình cho các môn đệ: ‘Thầy là cây nho, chúng con là ngành’. Cha là người trồng nho, cây nho là Đức Giêsu và ngành nho là các môn đệ (chúng ta).
Ở trung tâm chính là hình ảnh hoa trái mà vườn nho sản sinh. Người trồng nho làm những việc bình thường: là loại bỏ những ngành không sinh trái, tỉa những ngành sẽ mang lại hoa trái.
Nhưng hoa trái là gì? Hoa trái là việc làm cho nhiều người trở thành môn đệ Đức Kitô, toàn thể nhân loại trở nên một thế giới mới, Nước Thiên Chúa trên trái đất. Tất cả mọi người hiệp thông với nhau và với Cha trên trời.
Chỉ cần một điều kiện: Ở trong, ở lại.
Nhấn mạnh đến động từ ở trong, ở lại trong suốt đoạn. Diễn tả sự hiệp thông toàn vẹn giữa Đức Giêsu và Chúa Cha, giữa Đức Giêsu và các môn đệ. Là mối tương quan cá biệt của từng môn đệ với Đức Giêsu: chỉ khi thông hiệp mật thiết với Ngài ta mới có thể đến với Chúa Cha và hoàn thành chính đời sống mình.
Cắt tỉa? Cho nhiều hoa trái, các học giả cho rằng động từ này trong tiếng hy lạp có nghĩa là thanh tẩy. Nhấn mạnh đến việc lời của Đức Giêsu thanh tẩy các môn đệ, làm cho họ sinh hoa kết quả. Hoa trái của một nhân loại được khử trừ khỏi ích kỷ, bạo lực, lạm dụng. Một nhân loại có thể sống trong hiệp thông, trong hòa bình, như anh em, như những đứa con cùng một người Cha chung!
Ở trong, ở lại là bí quyềt để mang lại nhiều hoa trái!
Thứ hai Tuần V Phục Sinh
‘Chúng tôi loan tin mừng cho các bạn, là hãy bỏ những cái hão huyền này đi, mà trở lại cùng Thiên Chúa hằng sống, Đấng đã tạo thành trời đất với biển khơi cùng muôn loài trong đó’.
Công việc rao giảng tin mừng của Phaolô và Barnaba không chút dễ dàng gì. Những người do thái liên kết với người ngoại giáo tìm cách ném đá hai ông. Nhưng quyền năng của Thiên Chúa hoạt động che chở các tông đồ. Đến độ tại Listra họ đã làm phép lạ chữa lành một người bại liệt. Dân chúng phấn khích. Họ nghĩ rằng Phaolô và Barnaba là hiện thân của các vị thần Zeus và Hermes từ trời xuống. Sự hưng phấn đến cao độ thầy tư tế của thần Zeus thực hiện những hình thức tôn vinh các ngài vì họ tin các ngài là thần linh mặc xác con người. Phaolô và Barnaba phản đối: họ xé áo mình ra. Các ngài không dừng lại nơi việc từ khước điều ngu xuẩn và sai lạc mà còn vui mừng loan báo về Thiên Chúa hằng sống, vì tình yêu, đã không ngừng thi ân giáng phúc cho con người.
Hai bài học rút ra rừ đoạn văn này sống động này. Trước tiên lòng yêu mến sự thật làm chuyển vị con người ta vào trong chiều kích tạo thành không bao giờ dám có những thái độ chống đối Đấng Tạo Hóa.
Thái độ khác đó là không bao giờ dừng lại nơi sự phẫn nộ, ngay cả khi là chính đáng, nhưng phải tiến đến một việc loan báo những gì là chân, thiện, mỹ, bằng chính những lựa chọn hằng ngày trong lòng cậy tin và yêu mến của chúng ta nữa.
Lạy Chúa, xin hãy củng cố con người chúng con. Xin bảo vệ con người con và biến nó nên chứng cứ cho sự hiện diện của Chúa.
+++
Ai yêu mến Thầy
Giácóp yêu Rachel và để có thể cưới cô làm vợ, đã phải ở rể cho ông cha vợ Laban 7 năm trời, ‘nhưng đối với cậu chỉ như vài ngày vì cậu quá yêu cô’ (St 29,20). Rồi sau khi bị Laban tráo trở (gả cô chị Lêa), Giacóp lại chấp nhận ở rể thêm 7 năm nữa. ‘Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả’ (1 Cor 13,7). Tin tưởng và kiên trung là dấu chỉ của tình yêu đích thực.
Trong bài tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu lập lại ý tưởng ấy ít nhất đến ba lần: Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy và những điều Thầy truyền dạy. Giữ những điều Thầy truyền dạy (tóm gọn trong lệnh truyền yêu thương), giữ các lời của Thầy (lời dạy của Chúa được Giáo Hội truyền lại) chỉ có thể thực hiện được nếu chúng ta giữ lời của Ngài, nhất là khi lời của Chúa Cha chiếm lấy hồn ta (Thánh Augustinô).
Tình yêu giữa Cha và Con là công trình của Chúa Thánh Thần, được đổ tràn vào lòng chúng ta qua các bí tích. Cũng như sứ mạng của Đức Kitô là dẫn đưa chúng ta đến với Cha, sứ mạng của Chúa Thánh Thần cũng dẫn đưa chúng ta đến với Chúa Con (Thánh Tôma Aquinô). Chính Thánh Thần cho ta khả năng đối mặt với tất cả mọi sự nhờ qua Đức Kitô. Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến!
Thứ ba Tuần V Phục Sinh
Barnaba và Phaolô trở lại Lýtra, Icôniô và Antiokia. Hai ông củng cố tinh thần các môn đệ, và khuyên nhủ họ giữ vững đức tin. Hai ông nói: ‘Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa’.
Banaba và Phaolô như những ngọn đuốc cháy sáng, đến mọi nơi loan báo tin mừng trong các thành khác nhau.
Quả thật là những người đi gieo giỏi giang, họ không bằng lòng đi gieo hạt Lời Chúa. Cho dù hành trình của họ vào thời ấy không dễ dàng chút nào, Phaolô và Banaba còn quay trở lại những cộng đoàn mà họ đã thiết lập. Họ quay trở lại không chỉ để nhìn thấy hạt giống Lời Chúa lớn lên như thế nào mà họ còn hăng say tưới thêm bằng lời giảng dạy, bằng cách sống hiệp thông.
Ngày nay việc loan báo tin mừng cũng đòi hỏi nơi chúng ta lòng can đảm và hằng say kiên trì như thế.
Khi thấy có cỏ dại của sự chàn chường và thất vọng, cách thức để nhổ nó đi là: tin rằng cuộc sống sẽ qua đi và cùng với nó những gian khổ cũng sẽ qua đi, nhưng nhất là Thiên Chúa và Nước Thiên Chúa sẽ mở ra một tương lai vinh quang.
Lạy Chúa, xin làm cho con vui tươi và kiên trì trong niềm hy vọng.
+++
Bình an của Thiên Chúa
Trong trại tập trung Auschwitz, có một phòng giam ‘nổi tiếng’ Phòng Giam số II. Đây là một phòng nhỏ sâu dưới lòng đất, nơi thánh Maximilianô Kolbê đã chết đói sau một thời gian hấp hối dài và chịu đủ mọi cực hình. Bên ngoài là chiếc sân nhỏ, nơi khoảng 20.000 người đã bị sát hại; bên cạnh là ‘bệnh viện’ nơi người ta mỗ xẻ thân xác con người như thú vật, và ở cuối con đường là lò thiêu xác. Nơi trái tim của Cha Kolbê chắc chắn phải có sự bình an mà Đức Kitô hứa ban cho các môn đệ Ngài, vì Cha đã theo gương Ngài chấp nhận chết thay cho người khác.
Trong những hoàn cảnh tương tự, thánh Tôma More đã cầu nguyện: ‘Sự mất mát của cải chóng qua, mất bạn bè, mất tự do, mất mạng sống và mất tất cả chẳng là gì so với mối lợi là có được Đức Kitô’.
Quyền lực thế gian này cai trị bằng đe dọa, sợ sệt. Nhưng Đức Kitô nói: ‘Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi’. Ngài ban cho chúng ta bình an không theo kiểu thế gian, nghĩa là thứ bình an của thỏa mãn chán chường, thứ bình an sinh ra từ việc thỏa hiệp, bình an của những kẻ đang sống mà thật ra đã chết; nhưng bình an của Ngài là bình an của sự kết hiệp với Thiên Chúa, với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Sự bình an sinh bởi sự tha thứ tội lỗi và được nuôi dưỡng bằng tình yêu, tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta, bình an ấy tăng triển theo mức độ chúng ta chịu đau khổ vì Đức Kitô.
Thứ Tư Tuần V Ps
Người ta bèn cử ông Banaba và Phaolô và một vài người khác lên Giêrusalem gặp các Tông đồ và các kỳ mục, để bàn vế vấn đề đang trang tụng.
Đây là vấn đề cấp bách nếu không giải quyết sẽ gây ra nhiều bất đồng.
Ngay trong những cộng đoàn đầu tiên của kitô giáo đã xảy ra điều mà bất cứ cộng đoàn nào đều thấy có. Vấn đề liên quan đến những người tân tòng. Một ít người đề nghị cách quyết liệt rằng những ai không thuộc dân Israel, trước khi được nhận bí tích thánh tẩy, phải được cắt bì. Đó là điều mà họ không đồng ý với Banaba và Phaolô.
Điều đáng lưu ý là họ không vội vàng quyết định ngay, nhưng đã cử Banaba và Phaolô lên Giêrusalem để thỉnh ý các Tông đồ và các kỳ mục, lúc bấy giờ để lên Giêrusalem họ phải đi ngang qua Phênicia và Samaria. Cả hai trải qua cuộc hành trình dài nhờ sự trợ cấp của các tín hữu ở Antiokia.
Banaba và Phaolo tuy là những người tôi tớ trung thành của tin mừng, họ đã không đưa ra một quyết định riêng của họ, nhưng đã đi thỉnh ý Phêrô và các kỳ mục.
Sự việc ấy có ý nghĩa cho cả ngày nay trong Giáo hội: Đức Giáo Hoàng (kế vị thánh Phêrô) hiệp nhất với các Giám Mục (kế vị các tông đồ) là tâm điểm soi sáng cho mọi người đến múc lấy những hướng dẫn để bước đi trong ánh sáng của Chúa Kitô.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã trao chìa khóa Giáo hội cho Phêrô và các vị kế nhiệm, xin đừng để chúng con sống như những người quá khích, nhưng như những tôi tớ biết vâng phục Đấng thay mặt Đức Kitô trên thế gian, và những Giám mục cộng tác viên của ngài.
Lắng nghe Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục khi các ngài nói nhân danh Thiên Chúa, có nghĩa là có sự nhất quán: tin thật rằng Thánh Thần soi sáng các ngài để chúng ta, dân của Thiên Chúa có thể lớn lên trong đức tin, trong đức cậy và đức mến.
+++
Chấp nhận cắt tỉa
Trong nhiều vùng miền trên thế giới hiện nay, người kitô hữu vẫn còn là một hình ảnh của loại trừ. Ngay cả trong những quốc gia công giáo truyền thống, người tín hữu đang bị nhận chìm trong chủ nghĩa vật chất và trong chủ nghĩa thế tục, đe dọa sự sống theo Thần khí.
Một mình chúng ta, chúng ta sẽ đánh mất chính mình, hoảng sợ trước những sức mạnh hầu như luôn lớn mạnh hơn và nguy hại hơn.
Tình trạng của Giáo hội thời buổi ban đầu không khác là bao. Các kitô hữu tiên khởi đi theo nhóm ngư phủ vùng Galilêa, bị tước mất quyền lợi trên những việc đời, nhưng lại tràn đầy sức mạnh của Thánh Thần, ‘họ đã đến, đã thấy và đã chiến thắng’ đế quốc Roma. Chỉ dựa vào sức riêng mình, họ chẳng thể làm được gì, nhưng liên kết với Đức Kitô, như cành nho với thân nho, họ trổ sinh nhiều hoa trái.
Mỗi người tín hữu được mời gọi làm như thế: sẵn sàng để cho người trồng nho, là Chúa Cha, cắt tỉa. Nói cách khác, để sinh hoa trái ta cần phải sẵn sàng chấp nhận đau khổ, ví dụ đi ngược lại với những xu hướng thịnh hành hiện thời, tôn trọng những nguyên tắc kitô giáo trong các công việc làm ăn kinh doanh, chung thủy trong đời sống hôn nhân, chịu đựng mọi kỳ thị do việc tuyên xưng công khai niềm tin của mình.
Sự đau khổ như thế thanh luyện lòng người tín hữu và tăng cường sự sống của Đức Kitô trong ta.
Thứ Năm Tuần V Ps
Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi tâm can đã chứng tỏ Người chấp nhận họ, khi ban Thánh Thần cho họ cũng như đã ban cho chúng ta. Người không phân biệt chút nào giữa chúng ta với họ, vì đã dùng đức tin để thanh tẩy lòng họ.
Phaolô nói nhân danh Thiên Chúa, ngài làm chứng về điều chân thật, tốt đẹp. Là Thiên Chúa hằng sống, đấng thấu suốt mọi tâm can. Tâm can của con người là nơi bí ẩn nhất từ đó xuất phát điều lành cũng như điều dữ. Hành động theo thánh ý Thiên Chúa được thể hiện qua các lề luật của Người, tin mừng, những phận vụ riêng của mình hoặc hành động theo sự xúi giục của ma quỷ và những đam mê không kiểm soát được, tất cả khởi đầu từ tấm lòng của ta. Thiên Chúa biết ta và yêu thương ta. Không có ngăn trở hay khác biệt dẫn đến phân biệt đối xử. Thánh Thần được ban cho mọi người có lòng thành tâm: cho bất cứ ai thuộc bất cứ dân tộc, tôn giáo nào. Lý luận của Phêrô thật rõ ràng: nếu Thiên Chúa không phân biệt đối xử thì ta là ai mà lại dám?
Lạy Chúa, đấng dò thấu mọi tâm can, xin chữa lành con khỏi chỉ trích phân biệt đối xử. Xin làm cho con nên khí cụ tình thương của Chúa.
Đức Kitô là sự thông hiệp. Ngài không đến thế gian này để sáng lập một tôn giáo mới, nhưng để mời gọi mọi người hiệp thông trong Ngài (Roger di Taizé)
+++
Niềm vui
Cách ngôn trung hoa có câu: ‘Vẫn là vợ chồng dù phải ăn mày’. Nói cách khác, nếu chúng ta yêu thương nhau, chúng ta vẫn hạnh phúc ngay trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.
Niềm vui là dấu chỉ của người tín hữu đích thực, người yêu mến Thiên Chúa và ở lại trong tình yêu của Đức Kitô. Khép kín và do dự, lòng con người khó mà chấp nhận được Thiên Chúa yêu cách vô biên, dù những tội lỗi và những khước từ.
Chấp nhận tình yêu không cân xứng của Đức Kitô, chấp nhận sự kiện là ngài yêu ta bằng một tình yêu vĩnh cửu, nghĩa là cảm nghiệm một niềm vui vô cùng to lớn, niềm vui được diễn tả qua những giọt nước mắt thống hối và trong những lời chúc tụng tạ ơn. Để niềm vui này tràn đầy, tâm hồn phải ở trong tình yêu của Ngài, phải nỗ lực luôn làm theo ý Ngài, sẵn sàng vác thập giá mình mỗi ngày, chịu đựng mất mát những niềm vui khác dù chính đáng và đến mức độ trải nghiệm sự vắng bóng Thiên Chúa, bóng tối của tâm hồn trước khi ánh bình mình của niềm vui vĩnh cửu ló dạng, ngay bây giờ và mai sau.
Thứ Sáu Tuần V Ps
‘Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình’.
Giới răn Chúa soi sáng đôi mắt con. Tất cả đều quý giá. Chúng mở ra cho ta những con đường nhiều lúc rất nhọc nhằn nhưng chỉ để làm cho ta sống cách trọn vẹn nhân tính được cứu chuộc của ta. Đây là điều quan trọng nhất trong các giới răn. Đức Giêsu gọi đó là điều răn của Ngài, nghĩa là tóm gọn tất cả những gì Ngài đến để mạc khải cho ta biết thánh ý Chúa Cha.
Chúa đã tóm tắt các giới răn là: ‘Hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức mình và yêu tha nhân như chính mình’. Cần lưu ý đến trạng từ ‘như’. Cần phải yêu theo cách thức của Đức Giêsu, như Ngài đã yêu thương ta và thí mạng sống vì những kẻ Ngài yêu. Cần phải khám phá ra mỗi ngày ý nghĩa sâu xa của từ ‘như’ này.
Lạy Chúa, yêu vì cảm thông thì dễ dàng, yêu vì những tình cảm trong sáng và tự nhiên như của đôi vợ chồng, của cha mẹ đối với con cái thì hợp lý và tốt đẹp, yêu vì bị thúc đẩy bởi những đam mê bất chính thì xấu xa và dẫn đến cái chết. Nhưng xin Chúa hãy nắm lấy tay con và dạy con biết từ chối những gì thuộc ‘cái tôi’ của con để thực sự tìm kiếm điều thiện hảo cho tha nhân. Và sau cùng, xin hãy ban cho con đôi cánh để bay cao vào bầu trời của tình yêu – tự hiến mình: không còn có những chữ ‘nếu’, ‘nhưng mà’. Có điều gì đó chết đi trong con nhưng đó là điều chân thực. Điều nở hoa là tình yêu chân thực: tình yêu mà Đức Giêsu không chỉ đã nói đến mà còn nêu gương nữa.
Lạy Chúa, xin giúp con hiểu và nội tâm hóa từ ‘như’ để đời sống của con được nở hoa một vài mức độ ‘như’ cuộc đời của Chúa: một cuộc đời sống hoàn toàn cho tình yêu nhưng không.
+++
Tình bạn chân thật
Thời xưa, tình bạn được coi trọng trên hết mọi sự. Được xem như một điều quý hiếm, mà chỉ có người nhân đức và học thức mới hưởng thụ được.
Khác với tình yêu tính dục, trong đó những người yêu, họ yêu nhau bằng cách đặt mình đối diện với người kia, thì trong tình bạn, người bạn tự đặt mình bên cạnh người khác, cùng nhìn về một mục đích hoặc có chung một lợi ích: sự thật, sự thiện, sự mỹ (C.S. Lewis). Điều nối kết những người bạn chân thật là sự thật được diễn đạt qua một cuộc sống đạo đức.
Đức Kitô đã gọi các môn đệ của Ngài là ‘bạn hữu’, gần gũi với Ngài hơn chỉ vào cuối cuộc đời Ngài, sau khi cho họ biết tất cả những gì Ngài đã nghe biết từ Chúa Cha, sau khi đã tỏ sự thật cho những kẻ mà Ngài tuyển chọn. Để cảm nghiệm rằng không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình. Do đó, điều là quý hiếm trong thời xa xưa, lại là điều thường tình trong Giáo hội, nơi đây mọi người nam nữ nhận biết và sống sự thật.
Như thế Giáo hội là công giáo, là tình bạn chân thật, và do đó mọi người từ khắp mọi nơi có thể yêu thương nhau thật sự, như Đức Kitô đã yêu chúng ta. Điều này hiển nhiên hơn hết trong đời sống tu trì.
Thứ Bảy Tuần V Ps
Các ông đi qua miền Phygia và Galát, vì Thánh Thần ngăn cản không cho các ông rao giảng lời Chúa ở Axia. Khi tới sát ranh giới Myxia, các ông thử vào miền Bithynia, nhưng Thần Khí Đức Giêsu không cho phép. Các ông bèn đi qua miền Myxia mà xuống Troa.
Trong đoạn sách Công vụ, ta thấy Phaolô cùng với Sila tiếp tục cuộc hành trình rao giảng Nước Thiên Chúa. Ta thấy cá tính mạnh mẽ của Phaolô trong việc đưa ra chương trình hành động. Tuy nhiên ngài chỉ là một người được sai đi. Chúa sai ngài đi, nên Chúa có toàn quyền để điều chỉnh những dự tính và những đường nẻo trong hành trình của ngài. Phaolô đã để cho Chúa tiếp tục thay đổi, hủy bỏ, hướng dẫn những dự tính của ngài.
Là một bài học cho ta ngày nay. Là thế hệ của tiến bộ kỹ thuật, của những chương trình điện toán, ta thường hành động theo những dự toán trước. Là điều tốt. Miễn là phải ở trong tay của đấng có sẵn ý muốn tốt lành cho mọi người, dẫu đôi lúc còn bí ẩn với nhiều người.
Một khiếm khuyết mà ta thường mắc phải là sự cứng nhắc. Đã lên chương trình như thế , thì phải làm theo thế. Chúa liên kết ta với Người, đem ta vào trong tim của Người để ta nên mềm mại, để biết lắng nghe ý muốn của Chúa, chắc chắn hiệu quả hơn mọi dự tính của ta.
Lạy Chúa Giêsu xin giữ con. Xin làm cho con biết lắng nghe ý muốn của Chúa Cha. Xin cho con đừng làm chủ những dự tính của mình, mà là người thực hành vui tươi những dự tính của Chúa.
Cũng như thanh sắt trên chiếc đe, con phó thác ý muốn con cho Chúa
+++
Niềm tin chứng nhân
Một đức tin cần phải bảo vệ và loan truyền bằng gươm giáo là một đức tin quá yếu ớt. Lịch sử chứng minh điều nghịch lý này là đức tin kitô giáo trở nên mạnh mẽ khi bị bách hại. Tertuliano đã viết: ‘Máu các Thánh tử đạo là hạt giống sinh ra người kitô hữu’. Ngày nay, từ ‘tử đạo’ được dùng để chỉ người chịu khổ và chết vì một ‘nguyên do’, có thể là lý tưởng quốc gia, cách mạng xã hội, ngay cả ‘thánh chiến’ của những kẻ quá khích. Nhưng những tử đạo kiếu ấy chỉ gây ra thêm đau khổ lớn lao và rộng khắp hơn cho nhiều người khác. Người tử đạo đích thực (từ nguyên ngữ hy lạp có nghĩa là chứng nhân) chịu khổ chỉ vì là kitô hữu: chứng nhân của Đức Kitô.
Thế kỷ chúng ta đang sống là thế kỷ của tử đạo, với vô số vị tử đạo, như các kitô hữu ở Thổ Nhĩ Kỳ, ở Mexicô…..ta có thể thêm vào đó nhiều vùng miền khác. Danh sách vẫn còn tiếp nối dài. Và nhiều người đã đối diện với một cuộc tử đạo ‘trắng’ nghĩa là không đổ máu, để sống vững niềm tin của mình trong một thế giới mỗi ngày một vô thần hơn hoặc rao giảng những đòi hỏi toàn vẹn của Giáo huấn giáo hội trong lãnh vực luân lý, có nền tảng là mạc khải của Đức Kitô. Đừng lấy làm ngạc nhiên, nhưng tốt hơn hãy vui mừng và hạnh phúc: vì đó là điều mà chính Ngài đã hứa ban cho chúng ta.
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Những tin cũ hơn








Suy NIệm Tuần V PS/A - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Ngày Hội ơn gọi 2026 giáo hạt Ninh Sơn và Ninh Phước: Bước đi trong hy vọng với Đức Kitô
Hiệp đoàn Teresa Calcutta: Sa mạc Huấn luyện Huynh trưởng Cấp I
Suy niệm Chúa nhật V PS - Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà
Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật V Phục Sinh -Lm. Xuân Hy Vọng