Chúa Nhật IV TN/A
Chúa Kitô, Người của Tám Mối Phúc
Đoạn Tin Mừng này là chủ đề suy niệm của chúng ta trong Lễ Các Thánh. Nó giúp chúng ta hiểu được rằng, qua nhiều thế kỷ, đã có những người nam và nữ tìm cách sống theo Tám Mối Phúc. Các Thánh là những người mà Giáo Hội đề nghị tôn kính, nhưng họ cũng là những người chúng ta biết trong cuộc sống, những người mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô gọi là "người bên cạnh". Một bà hoặc ông, một cô hoặc chú, một anh hoặc chị, một cha mẹ, hoặc một thành viên trong cộng đồng.
Tuy nhiên, hôm nay, ta muốn tập trung vào thực tế rằng Tám Mối Phúc chính là kim chỉ nam cho cuộc đời của Chúa Giêsu. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu đoạn Kinh Thánh này bằng cách xem xét bối cảnh mà câu chuyện diễn ra.
Chúa Nhật trước, chúng ta đã thấy Chúa Giêsu gọi các môn đệ đến với Ngài. Ngài nổi bật hơn các vị thầy khác thời đó, những người mà các thầy tương lai tụ tập lại, cầu xin được vào trường của họ. Chúa Giêsu chọn họ, và sáng kiến thuộc về Ngài.
Ngài để cho các môn đệ tự do đáp lại. Hôm nay, Tin Mừng cho chúng ta biết rằng chính họ là những người đến gần Chúa Giêsu để lắng nghe Lời Ngài. Những người được gọi giờ đây phải đồng ý. Chúa Giê-su dạy họ bài học đầu tiên, về bản sắc của một môn đệ.
Con đường ấy chính là con đường của Tám Mối Phúc. Bối cảnh là ngọn núi, một nơi mặc khải và giảng dạy tương tự như núi Sinai, nơi Chúa Giê-su, giống như Môi-sê, đã mặc khải luật pháp của Đức Chúa cho các môn đệ của Ngài. Bài học này không nên được xem như một danh sách các phúc lành, mà là một tập hợp các chỉ dẫn làm sâu sắc thêm Luật Môi-sê và mang đến một tầm nhìn cách mạng về công lý, tình yêu và sự hoàn thiện đạo đức.
Điều nổi bật nhất là Chúa Giê-su thể hiện con đường mà Ngài vạch ra cho các môn đệ của mình.
Trong một số đoạn, chúng ta được cho biết rằng Ngài nói với thẩm quyền bởi vì, trước hết và trên hết, Ngài đã sống theo lời dạy của mình. Ngài không phải là người chỉ biết nói những câu khẩu hiệu sáo rỗng, điều đang rất thịnh hành ngày nay, người truyền đạt các bài học bằng những câu nói dễ nhớ mà Ngài không thể sống theo.
Mọi người cảm nhận được điều này và rất ấn tượng. Điều được trao cho chúng ta là bản sắc của Chúa Kitô, nơi thực tại nhân tính và thần thánh cùng tồn tại.
Ngài là người nghèo khó về tâm linh một cách xuất sắc, là người hiền lành không dùng bạo lực, là người thương xót yêu thương trong đau khổ, và là người khao khát công lý, thậm chí đến mức ban cho hòa bình đích thực. Ngài là người bị bách hại nhưng thể hiện tình đoàn kết với những người đau khổ, hiện thân của hạnh phúc đích thực tìm thấy trong việc theo Chúa Kitô, một con đường mà, bất chấp đau đớn và hiểu lầm, dẫn đến niềm vui sâu sắc. Chúa Giêsu trở thành một bên tham gia vào phiên tòa lịch sử, do đó hiện thực hóa sự đồng nhất của Thiên Chúa trong con người, điều này đặt ra câu hỏi về tính toàn năng và sự thánh thiện, bởi vì chính nhờ sự đau khổ của Chúa Giêsu mà Thiên Chúa được cứu rỗi.
Vậy nên, việc hướng về Ngài trở thành động lực thúc đẩy chúng ta sống theo những câu Kinh Thánh đầy thách thức này, bởi vì chúng đi ngược lại với logic của thế gian, vốn chế giễu việc các Kitô hữu đề cao sự nghèo khó, hiền lành, lòng thương xót và sự chịu đựng bách hại.
Chắc chắn, những người bảo vệ đức tin nói với chúng ta rằng con đường này khó khăn, nhưng không phải là không thể.
Đức Trinh Nữ Maria, Nữ Vương các Thánh, đã biến Tám Mối Phúc thành con đường hoàn hảo cho hành trình của Mẹ và để khẳng định lời “vâng” của Mẹ.
Trong bài ca Magnificat, chúng ta tìm thấy toàn bộ kế hoạch cuộc đời của Mẹ được tóm tắt như một sự phản ánh của những giáo huấn này.
Chúng ta hãy cầu xin Mẹ, người đã sống bên cạnh Con mình cho đến khi chịu đóng đinh trên thập giá, giúp chúng ta cũng bước đi trên con đường này, một con đường dường như khó khăn nhưng có một mục tiêu quan trọng: sự sống đời đời.
Tám Mối Phúc: Con đường dẫn đến hạnh phúc và ơn cứu độ!
Hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta suy niệm Tám Mối Phúc mà Chúa Giêsu đã công bố ở đầu " Bài Giảng Trên Núi ".
Những lời này thực sự đề xuất một cách suy nghĩ, cách sống và cách hiện hữu mới. Đối với chúng ta, những người tin, bài giảng này chỉ ra con đường hoán cải liên tục của chúng ta; tuy nhiên, đối với những người không tin, đó vừa là một điều bí ẩn vừa là một thách thức.
Khi đọc những lời tán dương này, chúng ta không thể thờ ơ: hoặc chúng ta bác bỏ chúng như là điều không tưởng, không thể đạt được, hoặc chúng ta phải đón nhận chúng như một động lực thúc đẩy đức tin của chúng ta, việc chúng ta theo Chúa Giêsu, và niềm vui, hạnh phúc của chúng ta trong việc sống Tin Mừng.
Được "chúc phúc" là một sự bảo đảm cho những người tìm kiếm niềm vui và hạnh phúc. Nếu đức tin không mang lại sự mãn nguyện, rõ ràng nó không tồn tại, hoặc nó yếu đuối, dao động, không chắc chắn. Nếu chúng ta mang lại nỗi buồn và lan tỏa nỗi buồn, toàn bộ đời sống Kitô giáo của chúng ta phải được xem xét lại, bởi vì đức tin và niềm vui được tìm kiếm và linh hoạt cùng nhau.
Mẹ Thánh Teresa thành Calcutta đã hiểu rõ điều này. Điều nổi bật nhất về cuộc đời của bà là sự thanh thản thường trực trên khuôn mặt bà. Một ngày nọ, Mẹ nói với các nữ tu của mình: "Niềm vui của chúng ta là cách tốt nhất để rao giảng Kitô giáo."
Và các Mối Phúc cho chúng ta, những người Kitô hữu, thấy cách để tìm ý nghĩa cho cuộc sống: Chúa Giêsu tuyên bố những người sống theo những cách thức nhất định, góp phần tạo nên con đường hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, là những người được chúc phúc, những cách thức phải được đón nhận trong lòng và thực hành cả về nội dung lẫn hình thức. Và Ngài làm điều đó với thẩm quyền của một người sống theo những gì Ngài yêu cầu người khác, của một người đáng tin cậy vì Ngài làm những gì Ngài nói!
Mối Phúc đầu tiên mà Chúa Giêsu nói ra là: " Phúc cho những người nghèo khó trong tâm hồn, vì Nước Trời thuộc về họ." Lời tuyên bố này bao hàm các Mối Phúc khác. Người nghèo là những người đầu tiên nhận được tin mừng; họ là những người được ưu ái trong Nước Trời. Nghèo khó trong tâm linh không chỉ đơn thuần là điều kiện kinh tế, mà là thái độ của tâm hồn: Phúc Âm thực sự nói về những người nghèo khó trong lòng, nghèo khó trong ý định, nghèo khó trong tâm hồn.
Nhưng ai là những người nghèo khó trong tâm hồn?
Họ là những người không dựa vào tiền bạc, quyền lực hay thành công. Nghèo khó là người đã đoạn tuyệt với sự thờ thần tượng tiền bạc và quyền lực. Phúc thay cho người nào cảm thấy sự bồn chồn sâu sắc trong lòng thúc đẩy mình vượt lên trên những điều thuộc về thế gian này, dẫn dắt mình vươn lên, tìm kiếm cho đến khi tìm thấy Đức Chúa. Phúc thay cho người nào nương tựa vào Đá tảng, là Đức Chúa!
Những người không "nghèo" theo Phúc Âm không thể dành chỗ cho người khác trong cuộc sống của mình; họ thường thậm chí không nhận thấy sự hiện diện của người khác; họ vẫn khép kín trong chính mình, trong sự ích kỷ, kiêu ngạo và tham lam. Những người không "nghèo" theo Phúc Âm không thể liều mạng để xây dựng hòa bình; họ không thể khao khát công lý; họ không biết lòng thương xót theo đúng nghĩa của từ này. Những người "nghèo" trong Phúc Âm có khả năng làm được mọi thứ bởi vì họ đã khám phá ra giá trị của món quà được ban cho họ.
Và cuối cùng, trong Mối Phúc cuối cùng, Chúa Giêsu nói: " Phúc cho các con khi người ta sỉ nhục, bắt bớ và vu khống các con đủ điều xấu xa vì cớ Ta. Hãy vui mừng và hân hoan, vì phần thưởng của các con ở trên trời rất lớn ."
Điều này có nghĩa là những người sống theo tin mừng của các Mối Phúc chịu sự chế nhạo và bắt bớ: vì những người sống trong bóng tối ghét ánh sáng. Nhưng sự bắt bớ cũng là một phần của sự nghèo khó của người tín hữu: Giáo Hội càng từ bỏ những điều chắc chắn của con người, thì Giáo Hội càng trở nên vĩ đại và rạng rỡ hơn. Đây là lý do tại sao các Kitô hữu thời kỳ đầu, cũng như những người trong thời đại chúng ta, đã không sợ thử thách và bách hại! Trên thực tế, Chúa làm những điều vĩ đại với những người nhỏ bé, với những người khiêm nhường, với những người không có gì để đòi hỏi ở Ngài. Để đưa ra một vài ví dụ, hãy nghĩ đến Abraham: một người du mục vô danh trở thành cha của vô số tín hữu; Môsê, một người nói lắp bị Pharaon đuổi ra khỏi đất nước, trở thành người giải phóng Israel; David, con trai út của Jesse, một người chăn chiên khiêm nhường, trở thành vua của Israel và người thừa kế lời hứa về Đấng Mêsia; Maria, một cô gái vô danh, trở thành người được chúc phúc nhất trong số tất cả phụ nữ.
Nhưng sự vĩ đại của Chúa đã tiếp tục làm nên những điều kỳ diệu trong suốt các thế kỷ, cho đến tận ngày nay: hãy nghĩ đến vị thánh Curé d’Ars, Thánh Leopold Mandic, Thánh Pio Pietrelcina, v.v... Họ chẳng là gì đối với thế gian, bị thế gian chống đối, nhưng thế gian buộc phải thừa nhận nơi họ một sự vĩ đại đến từ trên cao.
Vì vậy, Tin Mừng Chúa Nhật này mời gọi chúng ta hoán cải, thay đổi lối sống và tư duy của mình. Điều đó cũng khiến chúng ta suy ngẫm rằng chúng ta sẽ không chiến thắng bằng trí thông minh, kỹ năng và phương tiện của con người: chúng ta sẽ chiến thắng cái ác nếu chúng ta nghèo khó và khiêm nhường, bởi vì chỉ khi đó Chúa mới chiến thắng trong chúng ta. Amen!
Thứ Hai tuần IV Thường niên
Dâng Chúa Giêsu Vào Đền Thánh
Chúng tôi luôn thắp nến
Luật Môisê quy định rằng: bốn mươi ngày sau khi đứa con đầu lòng chào đời, cha mẹ phải đến đền thờ ở Giê-ru-sa-lem để dâng đứa con đầu lòng cho Chúa và làm nghi lễ thanh tẩy cho người mẹ. Đức Maria và Thánh Giuse cũng làm như vậy. Nghi thức nhằm dâng hiến con đầu lòng cho Thiên Chúa, để tưởng nhớ sự kiện Thiên Chúa đã từng cứu các con đầu lòng của dân Israel ở Ai Cập.
Các Tin Mừng nhấn mạnh đến câu chuyện này vì nó trùng hợp với thời điểm mặc khải lớn lao về con người của Chúa Kitô. Thực vậy, ông già Simeon, khi nhìn thấy Hài Nhi Giêsu, đã rất xúc động và được Chúa Thánh Thần soi sáng, đã chào đón Người bằng cách gọi Người là ‘ánh sáng của muôn dân’, ‘vinh quang của dân Israel’ và ‘dấu hiệu mâu thuẫn’. Nhưng ta muốn nêu bật một điểm quan tâm tổng quát hơn trong đoạn này, lấy cảm hứng từ những lời đầu tiên nói rằng Đức Maria và Thánh Giuse ‘đã đem Hài Nhi lên Giêrusalem để dâng Người cho Chúa’ và cả từ những lời kết thúc, cho phép chúng ta nhìn vào cuộc sống thân mật của Thánh Gia Nazareth: ‘Con trẻ lớn lên khỏe mạnh, đầy khôn ngoan, và đầy ân sủng Thiên Chúa’.
Trong Kitô giáo, nghi thức Dâng Mình không còn tồn tại, tuy nhiên ý nghĩa tâm linh của nó vẫn còn và có giá trị cho đến ngày nay. Nói cách khác, ngay cả cha mẹ Kitô giáo cũng phải ‘dâng con cái mình cho Thiên Chúa’ và sau đó giúp chúng ‘lớn lên trong khôn ngoan và ân sủng’, nghĩa là không chỉ về thể chất và trí tuệ mà còn về mặt tinh thần nữa.
Ngày nay việc ‘dâng con cho Chúa’ có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là nhìn nhận rằng con cái là một món quà của Thiên Chúa, chúng thuộc về Ngài, thậm chí trước cả cha mẹ chúng. Thực ra, theo giáo lý Kitô giáo, chính Thiên Chúa đã truyền vào đứa trẻ ngay từ lúc thụ thai nguyên lý tâm linh mà chúng ta gọi là linh hồn. Về vấn đề này, Kinh Thánh trong sách Maccabê 2 trình bày cho chúng ta một người mẹ nhìn bảy đứa con của mình bị kết án tử và thốt lên, gần như đầy kinh ngạc: ‘Mẹ không biết các con đã xuất hiện trong bụng mẹ như thế nào; Không phải mẹ đã ban cho các con hơi thở và sự sống, cũng không phải ban hình thức cho các chi thể của các con […] mà là Đấng Tạo Hóa vũ trụ, Đấng đã hình thành nên con người ngay từ đầu’ (x. 2 Mac 7,22 -23).
Nhưng chỉ dâng con cái cho Chúa một lần thôi, vào lúc bắt đầu cuộc đời, là chưa đủ. Điều này có nghĩa là cha mẹ phải luôn lo lắng về việc giáo dục kitô giáo cho con cái mình. Cha mẹ là những người rao giảng Tin Mừng đầu tiên cho con cái mình. Đôi khi, họ không nhận ra điều đó với những lời cầu nguyện họ giảng dạy, những câu trả lời họ đưa ra cho những câu hỏi của chúng, những chọn lựa họ đưa ra trước sự chứng kiến của chúng.
Trong lễ Dâng Chúa Giêsu, để tưởng nhớ Chúa Giêsu, Đấng được Simeon tuyên bố là ‘ánh sáng của muôn dân’, những ngọn nến nhỏ được làm phép để mọi người có thể mang về nhà sử dụng. Vì lý do này ngày lễ này thường được gọi là lễ Nến. Ta tin rằng vai trò của cha mẹ đối với con cái được tượng trưng rất rõ ràng qua ngọn nến nhỏ bé này.
Về vấn đề này, xin kể cho bạn một câu chuyện. Một ngày nọ, một cậu bé làm một chuyến hành trình dài. Khi anh ra khỏi nhà, trời vẫn còn tối và mẹ anh cầm đèn soi đường cho anh, dặn anh không nên rời xa nó vì bất cứ lý do gì. Anh ta đi bộ hàng giờ dưới ánh sáng của ngọn đèn đó, nhưng rồi mặt trời mọc và ngọn đèn trong tay anh ta bắt đầu nhạt nhoà đi, cho đến giữa trưa, anh ta không còn nhìn thấy nó nữa và anh ta muốn vứt nó đi. Tuy nhiên, anh nhớ lại lời hứa với mẹ và tiếp tục cầm chiếc đèn nhỏ trên tay. Anh ta đi bộ một lúc lâu cho đến khi mặt trời bắt đầu lặn và xung quanh anh ta lại trở nên tối tăm. Ngọn lửa trong tay anh bắt đầu được chú ý trở lại, cho đến khi trời tối hẳn, anh nhận ra rằng đó là thứ duy nhất cho phép anh tiếp tục và hoàn thành cuộc hành trình của mình. Và anh rất vui khi lại có ngọn đèn ấy bên cạnh.
Đó là niềm tin mà một đứa trẻ nhận được từ cha mẹ khi bắt đầu cuộc hành trình dài của cuộc đời. Lúc đầu chỉ có vậy, chỉ có chiếc đèn đức tin đó tồn tại. Thế rồi những ngọn đèn khác bật sáng, những sở thích và giá trị khác đến chiếm giữ tâm trí. Niềm tin mà bạn có khi còn nhỏ thường bị lu mờ và bạn thậm chí không còn nhận ra mình có nó nữa. Nhưng buổi tối đến, thời điểm mà muôn vàn ánh sáng đã làm chúng ta chói mắt trong cuộc đời, lần lượt tắt hoặc không còn chiếu sáng nữa. Và rồi chúng ta tái khám phá đức tin của mình từ ngọn nến nhỏ được lãnh nhận một cách tượng trưng trong bí tích rửa tội và được nuôi dưỡng trong gia đình. Vì thế, chúng ta không được nản lòng khi trao ngọn nến sự sống cho con cái chúng ta. Nhưng cách tốt nhất, nếu bạn muốn truyền đức tin cho con cái mình, là hãy sống đức tin đó với chúng và trước mặt chúng, mà không bao giờ nản lòng. Thánh Phanxicô de Sales đã nói với một người mẹ rằng khi bạn không còn có thể nói về ‘Thiên Chúa với con cái mình’, thì đã đến lúc nói chuyện với ‘Thiên Chúa về con cái bạn’, nghĩa là cầu nguyện cho chúng.
Hôm nay cũng là ngày lễ của các tu sĩ, ngày của đời sống thánh hiến. Vâng, phải cư xử thế nào khi một người con trai hay con gái bày tỏ ý định tận hiến trọn vẹn cho Chúa, sống đời tu trì hay linh mục? Có những gia đình cũng xưng mình là Kitô hữu, nhưng những lời mời về ơn gọi được chào đón với nỗi buồn bã, như thể đó là một điều bất hạnh. Đã bao nhiêu lần cha mẹ cố gắng ngăn cản con cái đi theo con đường của chúng! Đúng hơn, đó phải là một vinh dự và niềm vui cho các bậc cha mẹ Kitô giáo khi một đứa con quyết định dâng hiến chính mình cho Chúa. Do đó, cha mẹ không được cản trở con cái mình trong sự lựa chọn khó khăn này, nhưng hãy đồng hành cùng chúng, cho đến khi chúng cùng những bạn bè khác bước lên bàn thờ, trong ngày vui dâng hiến của chúng. Trong nhiều năm qua, nhiều bậc cha mẹ đã cảm thấy cần phải xin lỗi con trai linh mục hoặc con gái nữ tu của mình vì đã không hiểu chúng kịp thời.
Ta kết thúc bằng một đoạn cảm động về cuộc đời của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Thánh nữ được cha mình (mẹ đã qua đời) hỗ trợ trong việc thực hiện ơn gọi của mình. Cô muốn vào dòng Kín Carmel, nhưng gặp khó khăn vì chưa đủ tuổi. Cha của cô đã cùng cô từ Pháp đến Rome, để đích thân xin phép Giáo hoàng Lêô XIII và cuối cùng, họ đã được chấp thuận. Trong một bức thư gửi cho cha mình, cô viết từ dòng Carmel: ‘Thưa cha, con sẽ cố gắng trở thành một vị thánh vĩ đại’. Như chúng ta biết, cô ấy đã thành công. Không những là một vị thánh mà còn là một Tiến sĩ Hội Thánh. Cha mẹ của Thánh Têrêsa là mẫu gương tốt nhất về ý nghĩa của việc ‘dâng con cái mình cho Chúa’!
Hãy luôn đốt ngọn nến cho con nhé. Xin Mẹ Maria giúp chúng ta trở thành ánh sáng cho người khác và sống trọn vẹn ơn gọi cứu rỗi thế giới. Amen.
Lễ dâng Chúa Giêsu vào đền thánh
Liên kết các bài đọc
Chủ đề của việc cử hành hôm nay liên quan đến mùa Giáng Sinh hơn là mùa thường niên- chúng ta đọc đoạn Tin Mừng này dịp lễ Thánh Gia- được nhấn mạnh trong kinh Tiền Tụng: Đức Giêsu được Chúa thánh Thần công bố là vinh quang của Ít-ra-en và là ánh sáng soi đường cho muôn dân. Đức Giêsu là đấng Cứu Thế mọi người mong đợi.
Sứ điệp
Việc mong đợi đấng Cứu Thế từ bao thế kỷ của dân Chúa giờ đây cô đọng lại nơi đền thờ, qua hai khuôn mặt Anna và Simeon. Nơi đây cũng như suốt tin mừng, thánh Luca cố gắng trình bày cả hai bên nam/nữ đều cần đến ơn cứu độ, mỗi bên đều hướng nhìn về Ánh Sáng đã được hứa ban, có khả năng dọi chiếu vào bóng đêm của tội lỗi. Trong khi phần lớn những người đương thời lãng quên, thì Anna và Simeon đại diện cho số dân Ítraen trung thành, đến đón tiếp Chúa vinh quang tiến vào thánh điện của Ngài (bài đọc 1, thánh vịnh). Maria. Giuse, Anna, Simeon đại diện cho thế hệ của những người không sống khép kín nơi chính mình, hoặc chìm đắm trong những cảnh huống của cuộc sống -dù là rất cần thiết- mà sống vì ơn cứu rỗi muôn dân. Chính họ là những anh hùng của dân tộc. Và của chúng ta. Do cung cách họ sống và do họ sẵn sàng để Thánh Thần hướng dẫn, họ mới có thể làm chứng rằng con trẻ là Đấng toàn dân Ítraen- toàn thể nhân loại- mong đợi. Và cho dù Ngài đến, không phải với vinh quang nhưng hoàn toàn giống anh em mình (bài đọc 2), để có thể chia xẻ khổ đau của họ và trở nên dấu chỉ của sự chống đối (Tin Mừng). Hai cụ già Anna và Simeon vạch ra con đường cho các bậc làm ông bà, cha mẹ. Trong hoàn cảnh hiện nay, việc hướng tâm hồn mình về với ơn cứu độ, đòi hỏi nhiều cố gắng. Mẹ Maria và Thánh Giuse, trước khi thấy con mình bị dân chúng chối bỏ và đóng đinh, đã âm thầm chấp nhận thách đố của lòng tin qua cuộc sống đời thường tại Nagiarét.
Giáo Lý
Phụng vụ thúc đẩy ta đào sâu hơn về đức cậy, nhân đức đối thần, 'nhờ đó chúng ta khao khát Nước Trời và sự sống vĩnh cửu như hạnh phúc đời mình' (GLCG 1817-21). Những người sống đời thánh hiến hãy suy tư về cung cách sống mẫu mực của Anna và Simeon (GLCG 914-33); khi họ sống hết mình một cách trung thực ơn gọi của mình, cuộc sống của họ sẽ mang lại nhiều lợi ích, như Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu minh chứng (GLCG 826).
Gợi ý mục vụ
Đâu là những hướng đi của cuộc đời bạn? Đối với bạn điều gì thực sự quan trọng? Công việc, giải trí, đi chơi với bạn bè, thành công, tiền bạc, cuộc hẹn sắp đến, gia đình…? Cuộc sống của một kitô hữu không thể đặt nền tảng hoàn toàn trên một trong những điều ấy; chúng không phải là cái mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. Mỗi kitô hữu phải làm chứng cho mọi người về ý nghĩa đích thực của cuộc sống, và chỉ cho họ biết phải tìm nơi đâu: nơi Đấng là dấu chỉ chống đối cho nhiều người, và là viên đá vấp ngã. Đối với mỗi người chúng ta, điều quan trọng hơn hết chính là phần rỗi đời đời: của chúng ta, của những người thân, của tất cả con cái của Thiên Chúa. Cuộc sống của tôi đã thực sự đặt nền tảng trên điều ấy chưa?
Bị người đời ghét bỏ. Môn đệ không hơn Thầy. Các vị thánh, các đấng sáng lập các dòng tu lớn thường hay gặp nhiều sự chống đối, hiểu lầm và bách hại. Bị ghét bỏ, cần phải được xem như là thân phận thông thường của người kitô - cho dù sống trong hoàn cảnh nào.
Hôm nay là ngày cầu nguyện cho những người sống đời thánh hiến. Đời thánh hiến là một bậc sống kitô mang tính triệt để nhất. Trong đó người ta chọn sự mới mẻ của Đức Kitô, đấng không bao giờ già nua. Chúng ta cầu nguyện cho các tu sĩ nam nữ và cho những ai sống đời thánh hiến dưới nhiều hình thức khác nhau, để cho họ trở nên dấu chỉ đích thực của sự chống đối trong thế giới: không về phe của thế gian và những điều chống lại tin mừng, nhưng để mang lại một cách hiệu quả sự luôn luôn mới mẻ của tin mừng cho thế gian. Cũng như Đức Maria, các cha mẹ cần chuẩn bị để nhận ra những dấu chỉ của sự chống đối nơi thực trạng của cuộc sống; ngay cả nơi con cái họ. Buồn biết bao khi con cái gặp phải chống đối của cha mẹ khi mà chúng đang trải nghiệm lời mời gọi theo Đức Kitô trong đời sống thánh hiến.
+++
Trình thuật giải thoát một người bị quỷ ám là một dụ ngôn sống động làm ta suy nghĩ về chỗ đứng của tiền tài của cải vật chất trong cuộc đời của mình.
Ba lần động từ ‘van xin’ được sử dụng để quy về Đức Giêsu. Trước hết các thần ô uế (đạo binh) khẩn khoản nài xin Đức Giêsu đừng đuổi chúng đi ra khỏi vùng ấy. Quả vậy, trong vùng đất của dân Ghêrasa, đất dân ngoại, các thần ô uế làm chủ. Nên chúng nài xin Đức Giêsu cho chúng nhập vào đàn heo. Đức Giêsu cho phép vì đối với Ngài việc giải thoát một con người, được dựng nên giống hình Thiên Chúa, thì quan trọng hơn là việc mất mát một đàn heo. Hai ngàn con heo lao xuống biển và chết ngộp hết: một thảm kịch cho dân Ghêrasa.
Dân chúng sai một nhóm đại diện đến nài xin Đức Giêsu ra khỏi vùng đất của họ. Họ không sẵn sàng để hy sinh những của cải vật chất như cái giá cho việc giải thoát một con người. Đức Giêsu, đã dạy rằng không được làm tôi hai chủ (Thiên Chúa và tiền của), đối với họ là một kẻ gieo tai họa. Họ chuộng của cải hơn Đức Giêsu: họ nài xin Ngài rời khỏi vùng đất của họ. Thật đáng buồn khi thấy Đức Giêsu bị đuổi ra ngoài cửa. Không thể trách cứ họ: vì họ không biết việc họ làm, bởi lẽ họ là dân ngoại. Cũng đáng buồn khi ngày nay thấy Đức Giêsu bị đừng ngoài cửa trong một vùng đất ‘kitô giáo’, bởi những gia đình kitô, bởi những người tự cho là kitô hữu, nhưng không sẵn sàng yêu mến Thiên Chúa hơn của cải. Tôi có ở trong số những người ấy không?
Sau cùng người bị quỷ ám, một khi đã được chữa khỏi, đã nài xin Đức Giêsu: nài xin được ở với Người. Nhưng Người không chấp nhận; Người sai anh đi về nhà anh. Bởi lẽ không phải tất cả những ai gặp gỡ Đức Kitô đều có cùng một ơn gọi như nhau. Nhưng tất cả đều phải có bổn phận loan báo lòng thương xót của Chúa.
Thứ ba Tuần IV Thường niên
Trước bệnh tật và cái chết, người ta không còn để ý nhiều đến những khác biệt nữa. Ta cảm thấy bình đẳng như nhau: giàu nghèo, quyền thế hay không có địa vị, do thái hay dân ngoại. Đó chính là trải nghiệm của hai nhân vật trong tin mừng hôm nay. Ông Giairô, trưởng hội đường, thấy con gái mình đang chết mà không thể làm gì để can thiệp. Người đàn bà ngoại giáo, đau bệnh xuất huyết, dù đã hao tốn biết bao tiền bạc, nhưng không thể cải thiện tình trạng. Sức khỏe suy yếu, cái chết của một người thân đặt ta trước một sự bất lực, trước sự nhỏ bé, trước những giới hạn của ta. May mắn thay những người ý thức mình chỉ là những tạo vật, thấy mình cần đến Đấng Tạo Dựng nên mình.
Ông Giairô và người đàn bà ngoại giáo biết điều này. Họ tìm đến với Đức Giêsu, mỗi người một cách, thể hiện một cử chỉ đầy sự khiêm tốn. Ông trưởng hội đường sụp lạy dưới chân Thầy; người đàn bà bằng lòng với việc chạm nhẹ vào vạt áo của Chúa. Trong cả hai trường hợp, Chúa động lòng thương vì lòng tin của họ, Ngài muốn củng cố niềm tin ấy. ‘Ai chạm đến Ta? Và người đàn bà muốn ẩn mình trong đám đông, đến trình diện dưới chân Chúa: ‘Đức tin con đã chữa con’. Đức Giêsu nghe biết con bé vừa mới chết, đã nói với ông Giairô: ‘Con bé không chết đâu. Nó ngủ đấy’. Chúa không chỉ bằng lòng đối xử lịch thiệp đối với hai con người tràn đầy thất vọng; Ngài muốn nhiều hơn thế. Ngài muốn họ tin vào Ngài, đấng cứu độ muôn dân. Cả hai cần phải tin, có đức tin. Họ cần phải tin ‘cách ngược dòng’. Bởi lẽ ngay các môn đệ cũng không hiểu tại sao Đức Giêsu có thể được chạm đến bằng cách khác. Và đám đông chế nhạo Chúa khi nghe Ngài bảo con bé đang ngủ.
Những lúc hoạn nạn khổ đau có thể biến thành những thời điểm của ân sủng. Chúng tách ta ra khỏi những chắc chắn giả tạo của mình, khỏi niềm tin quá lớn vào chính mình và vào những phương thế nhân loại. Chúng nhắc nhớ ta tình trạng tạo vật của mình, là con cái Thiên Chúa, những kẻ được cứu. Chúng có thể thức tỉnh niềm tin và sự phó thác của ta. Chúng giúp ta không chỉ tìm để được sự cứu chữa từ Chúa, mà còn đưa ta vào trong thánh ý Chúa, trong bàn tay của Cha.
Theo nghĩa đó, lời Chúa Giêsu nói với đứa con gái nhỏ của ông Giairô ‘Hãy chỗi dậy’ là lời mời gọi vượt lên trên sự kiện phép lạ được thực hiện cho cô bé. Lời ‘Hãy chỗi dậy’ còn ngỏ với chính chúng ta nữa: ‘Hãy hiến dâng cho Thiên Chúa chính mình anh em, là những người sống đã từ cõi chết trở về, và dùng chi thể anh em như khí cụ để làm điều công chính phục vụ Thiên Chúa’ (Rm 6,13).
+++
Năm Chẵn
2 Sm19:1 : Vua vô cùng xúc động, liền lên phòng trên cổng thành và khóc nức nở, nói trong nước mắt rằng: “Con ơi! Áp-sa-lôm, con trai ta, con trai Áp-sa-lôm! Ước gì ta chết thay con, Áp-sa-lôm, con trai ta, con trai ta!”
Đoạn Kinh Thánh này là một trong những đỉnh điểm kịch tính trong cuộc đời vua Đa-vít: con trai ông, Áp-sa-lôm, kẻ đã nổi loạn chống lại ông, bị một trong những viên tướng của ông giết chết. Vua, dù đang có chiến tranh với con trai mình, nhưng không muốn điều này xảy ra và đã xin tha mạng cho Áp-sa-lôm. Khi nghe tin, ông khóc thương Áp-sa-lôm với lòng thương xót xé lòng. Những người trung thành theo ông không hiểu và trách móc ông. Đa-vít là một vị vua quá đỗi con người! “Ước gì ta chết thay con”: đó là tiếng kêu than của một người cha yêu thương con trai mình tha thiết, ngay cả khi con trai chống lại mình.
Nước mắt của vua Đa-vít cho thấy tấm lòng quan trọng hơn tất cả mọi thứ. Không có vinh quang nào của vua chúa, không có chính sách nào của quốc gia có thể quý giá bằng tình yêu.
Đoạn Kinh Thánh này không chỉ lay động lòng người bằng một tình cảm cao cả và mạnh mẽ, mà còn cho chúng ta thấy trước điều Chúa Cha làm cho chúng ta trong Chúa Giêsu: Ngài phó thác chính Con mình vào tay loài người, do đó cũng vào tay chúng ta, để cứu rỗi chúng ta. "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho ai tin Ngài thì được cứu rỗi." Tình yêu của Đa-vít dành cho Áp-sa-lôm chỉ là hình bóng của tình yêu mà Đức Chúa dành cho mỗi người chúng ta! Thánh Phaolô nói: "Đức Chúa bày tỏ tình yêu của Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là tội nhân, thì Đức Kitô đã chết vì chúng ta" (Rm 5:8).
Hôm nay, khi trở về với tâm hồn mình, tôi sẽ cầu xin ánh sáng của Chúa Thánh Thần để có thể thấu hiểu những sự phản bội và nổi loạn đang ẩn náu trong lòng tôi; tôi sẽ chiến đấu chống lại chúng. Từ Đức Chúa, người Cha vô cùng nhân lành, tôi sẽ cầu xin một trái tim có khả năng yêu thương: có khả năng vượt qua những mưu mô của sự cạnh tranh nghề nghiệp, sự chia rẽ trong gia đình và những trò chơi quyền lực. “Xin cho con một trái tim hiền lành và khiêm nhường, một trái tim biết yêu thương,” con sẽ lặp đi lặp lại lời này suốt cả ngày.
Đối với con, thà chết vì Chúa Giêsu Kitô còn hơn làm vua đến tận cùng trái đất. Con tìm kiếm Đấng đã chết vì chúng ta. Con khao khát Đấng đã sống lại vì chúng ta.
Thánh Ignatius thành Antiochia
Năm Lẻ
Chạm đến ngài với lòng tin
Các bài đọc hôm nay cho ta thấy tầm quan trọng và thiết yếu của việc liên hệ với Đức Giêsu.
Thư Do thái dùng hình ảnh mang tính thể thao để miêu tả tình trạng hiện thời của chúng ta. Chúng ta cùng ở trong vận động trường, cuộc so tài, có sự hiện diện của các khán giả, nghĩa là các thánh, những người đã đạt đến mục tiêu và đang dõi mắt nhìn chúng ta từ thiên đàng. Chúng ta được khuyến khích chạy 'nhìn thẳng vào Đức Giêsu, Đấng khơi nguồn đức tin và làm cho nó nên hoàn tất'. Đó là nền tảng. Khi chúng ta nghĩ đến gương mẫu của các thánh, các vị tử đạo và nhất là của Đức Giêsu trong cuộc thương khó, cái chết và cuộc phục sinh của ngài, mọi khó nhọc chỉ còn là điều nhỏ. 'Anh em hãy nghĩ tưởng đến Đấng đã liều thân chịu cuộc tấn công của những người tội lỗi'.
Nhìn thẳng vào Đức Giêsu là phương cách thứ nhất để liên hệ với ngài. Còn cách thứ hai: hãy thưa với ngài, cầu xin ngài can thiệp khi ta gặp khó khăn và biểu lộ quyền năng ngài ra khi ta đau yếu, như ngài đã làm cho Ông Giairô, 'ông sụp lạy van xin rằng: Con gái tôi đang hấp hối. Xin Thầy đến đặt tay trên nó và nó được khỏi và được sống'. Hay như người đàn bà đau bệnh kia. Xấu hổ vì căn bệnh của mình, nhưng muốn Đức Giêsu cứu chữa nên tìm mọi cách để chạm đến ngài cho dù cách kín đáo: 'Miễn sao tôi chạm đến áo ngài…' Nhưng Đức Giêsu dừng lại nơi việc động chạm này, để nói rằng không đơn thuần việc chạm đến áo chữa lành bà, nhưng chính nhờ lòng tin: 'Ai chạm đến Ta?...Hỡi con, đức tin con đã chữa con'.
Khi nhìn lên Đức Giêsu, chúng ta hãy nhìn với lòng tin; khi thưa với ngài, chúng ta hãy thưa với lòng tin; chúng ta chạm đến ngài với lòng tin. Ngài sẽ biến đổi chúng ta, sẽ trao ban chính ngài cho ta, sẽ làm cho ta nên giống ngài và cho ta có khả năng giúp đỡ kẻ khác.
Thứ tư Tuần IV Thường niên
Đức Giêsu vui vẻ trở về làng quê của mình. Trong hội đường là nơi người ta thường nghe giải thích Kinh Thánh, hôm nay Người đứng lên làm việc đó. Người thực hiện với lòng đơn sơ và sâu xa, với uy quyền. Những người nghe Người nói đều kinh ngạc. Họ không hiểu làm sao một đứa trẻ, một thiếu niên, một người thợ mộc mà họ quen biết nhiều năm qua lại có thể là một ngôn sứ được. Là một trong những người đồng hương với họ, nên không thể được!
Đức Giêsu cũng ngạc nhiên vì sự thiếu lòng tin của họ nên Người không thực hiện phép lạ tại đây.
Trong con người, vì ảnh hưởng của tội, có một sự mù quáng lạ lùng và đồng thời có một nghiêng chiều về sự kiêu căng, thường được che đậy dưới chiêu bài đi tìm sự công chính và bình đẳng.
Chúng ta rất khó chấp nhận sự khác biệt. Người khác ta, nhất là nếu ở bên cạnh ta, làm cho ta sợ. Khi nó ở xa, thì dễ dàng chấp nhận. Còn kẻ giống ta và là người cận thân của ta, thì lại không có thể hơn ta được.
Thời đại của ta đang sống trong những điều trừu tượng cũng như những tuyên bố rõ ràng làm ta yên lòng: những quyền lợi của con người, sự bình đẳng mọi người, công bình cho kẻ bị áp bức, khước từ mọi hình thức phân biệt chủng tộc…Bởi vì, sự bùng nổ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, của lòng đố kị, bạo lực xuất phát từ nơi nào và lúc nào mà ta ít quan tâm nhất! Bởi lẽ trong mỗi con tim đều có chứa sẵn tiềm lực của sự phân biệt chủng tộc. Những tuyên bố văn hoa từ môi miệng chúng ta nói lên những xác tín tinh thần của ta luôn ẩn giấu phía sau trong lòng ta một ngoại trừ nào đó. Ta yêu thương mọi người, dĩ nhiên là thế; ta tôn trọng mọi người, dĩ nhiên là thế…nhưng trừ hai, ba người bên cạnh ta không ‘đáng’ để ta thương! Những ngoại trừ giống như quả bom nổ chậm một ngày nào đó sẽ phá hủy những xác tín của ta.
Vì thế nên Chúa không bao giờ nói: Hãy yêu thương tất cả mọi người. Nhưng lại nói: Hãy yêu người cận thân của ngươi. Nghĩa là ở bên cạnh ngươi, là người gặp trên đường, ở trong cùng một thành phố với ngươi. Người có vẻ khác biệt với ngươi, không suy nghĩ giống như ngươi, làm cho ngươi chán ngấy…Ta phải thú nhận cách khiêm tốn rằng con tim của ta có khuynh hướng phân biệt đối xử, và ta phải chiến đấu chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc này. Khi ta yêu thương từng người một, những người cận thân với ta, trái tim của ta sẽ nở ra và dần dần mang chiều kích toàn cầu.
Năm Chẵn
2 Sm 24:16-17: "Khi Đa-vít thấy thiên sứ đánh dân chúng, ông thưa cùng Đức Chúa rằng: 'Con đã phạm tội, con đã làm điều ác; nhưng những con chiên này thì sao? Xin Chúa giáng tai họa xuống trên con và nhà cha con!'
Đa-vít đã phạm tội vì kiêu ngạo và tự phụ. Trong cơn khát quyền lực mãnh liệt, ông bị ám ảnh bởi việc biết được số lượng dân chúng mà ông cai trị. Tuy nhiên, sau khi biết chính xác số lượng thần dân của mình, ông cảm thấy hối hận trong lòng về thái độ sai lầm của mình và cầu nguyện với Chúa để Ngài xóa bỏ tội lỗi đó khỏi lương tâm ông vì, ông nói, "Tôi đã phạm một tội lỗi lớn."
Chúa chấp nhận sự ăn năn của Đa-vít và đề nghị ông phải chịu hình phạt để sửa phạt, với động cơ là muốn thấy ông trở lại con đường đúng đắn.
Đa-vít chọn hình phạt là bệnh dịch, nhưng khi thấy sự đau khổ của những người mắc phải căn bệnh chết người đó, ông nói với Chúa: "Chính con đã phạm tội, chính con đã làm điều ác, nhưng những con chiên của con, chúng đã làm gì?" Ông cầu xin Chúa đánh phạt ông, nhưng tha cho dân chúng.
Ở đây Đavid một người sống cuộc đời thường bị cuốn theo bản tính bốc đồng và những khuynh hướng đam mê của mình, tuy nhiên vẫn là một con người đích thực: ông không từ bỏ việc đối diện với tội lỗi của chính mình và lên án chúng trong lương tâm. Không chỉ vậy, xuất phát từ ý thức công lý gắn liền với lòng bác ái, ông ấy yêu cầu được tự mình trả giá cho tội ác nhưng đổi lại, người dân của ông ấy sẽ được tha thứ.
Lạy Chúa, con cảm tạ Ngài vì nhân cách mãnh liệt và đa diện của Đa-vít, người không che giấu tội lỗi của mình, mà trái lại, theo một nghĩa nào đó, còn gánh lấy tội lỗi của dân chúng, cầu xin Chúa tha thứ cho đàn chiên của Ngài (như ông gọi dân chúng) khỏi sự trừng phạt. Ông thậm chí còn cầu xin sự trừng phạt của Chúa giáng xuống trên mình để những người khác được cứu rỗi. Xin Chúa dẫn con ra khỏi gai nhọn của sự ích kỷ và ban cho con lòng quảng đại đối với người lân cận. Không chỉ Đa-vít, mà chính Ngài là Đấng đã gánh lấy mọi tội lỗi của thế gian để cứu rỗi tất cả những ai quy phục Ngài.
‘Lòng thương xót là chiều kích không thể thiếu của tình yêu, nó giống như tên gọi thứ hai của tình yêu vậy.’ -Giáo hoàng Gioan Phaolô II
Năm Lẻ
Cần vượt lên trên lòng tự ái để nhận ra sự giúp đỡ của người khác
Đức tin cần thiết để Chúa có thể hành động cách tự do và tặng ban tràn trề hồng ân của Ngài: vì sự thiếu lòng tin của những người đồng hương, Đức Giêsu không thể thực hiện việc diệu kỳ nào. Họ đã không tin vào ngài vì ngài là một người thuộc bọn họ, chẳng có gì khác thường cả, họ quá biết ngài.
Bài đọc 1 nhắc ta nhớ rằng cả chúng ta cũng dễ dàng dừng lại ở những cái bề ngoài đối nghịch mà không nhận ra được sự can thiệp của Thiên Chúa. Thử thách xảy ra cho mọi người, cả những người tin và những kẻ không tin, nhưng chúng ta có cảm nghĩ là lẽ ra không nên xảy ra cho những người tin, hoặc nếu có thì chỉ xảy ra một vài loại thử thách nào đó thôi. Chúng làm cho chúng ta ngã lòng và vất vả lắm ta mới nhận ra được bàn tay của Thiên Chúa.
Thánh Kinh dạy ta biết vượt lên trên những hoàn cảnh xem ra nghiệt ngã, để có thể nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa đấng muốn thực hiện và do đó ngài cần chúng ta mở lòng ra để cho ngài hành động. 'Hỡi con, chớ khinh thường khi Chúa sửa dạy con và đừng chán ngán khi ngài khiển trách. Vì Chúa sửa dạy ai mà ngài yêu mến và đánh đòn kẻ mà ngài chọn làm con', sách Châm Ngôn đã viết như thế. Tác giả thư Do thái nhắc lại điều này để dạy dỗ các tín hữu: 'Ngày nay, hẳn ai cũng coi việc sửa dạy là nỗi cay đắng hơn là niềm vui'. Nói đến đau bệnh, những nghịch cảnh trong tương giao giữa người với người, nói đến thất bại trong những việc làm cho Chúa, nếu chúng ta chỉ nhìn cái vẻ bề ngoài thì chúng ta kém lòng tin. 'Ngài đánh đòn kẻ Ngài chọn làm con'. Đó là cách liên hệ với Chúa mà ta cần phải nhận biết. Và như thế sẽ thay đổi tất cả. Thử thách được soi sáng từ bên trong và thay vì chỉ xem như là nguyên nhân gây đau khổ, trở nên cơ hội tạo quan hệ trực tiếp với Thiên Chúa: Thiên Chúa quan tâm đến chúng ta. Khi ta bị thử thách ta thường nghĩ: Thiên Chúa bỏ rơi ta, không còn nghĩ đến ta nữa, đã để chúng ta rơi vào tình cảnh không đáng có của những người làm con…và sự thật thì ngược hẳn lại. Thay vì than trách chúng ta nên bằng lòng vì Thiên Chúa quan tâm đến chúng ta: 'Chúa sửa dạy ai mà ngài yêu mến và khiển trách ai mà ngài chọn làm con'. Quả khó thật, luôn luôn cần bắt đầu lại để nhận ra trong cơn thử thách sự can thiệp tích cực của Chúa. Đây là một hành động đức tin vì vẻ bên ngoài không nói lên sự thật nhưng lời Chúa và Thánh Thần Chúa trong ta mở lòng ta và làm cho ta hiểu rằng Thiên Chúa can thiệp vào cuộc sống chúng ta một cách trìu mến và mạnh mẽ khi ta gặp thử thách.
Tác giả thư Do thái nhận xét rất thực tế: 'Ngày nay, hẳn ai cũng coi việc sửa dạy là nỗi buồn khổ hơn là nguồn vui'. Lòng tự ái, ở đây không phải đau khổ là đáng kể nhưng lòng khiêm tốn: nếu có ai đó chỉ cho ta thấy khuyết điểm của mình, chúng ta buồn vì chỉ nghĩ đến nhận xét của người kia mà không nghĩ đến cái khuyết điểm của mình. Cần vượt lên trên lòng tự ái để nhận ra sự giúp đỡ của người khác. Ông Socrate đã nói: đỉnh cao của hạnh phúc là không có khuyết điểm và không làm điều gì xấu, nhưng ông còn thêm ngay sau đó, hạnh phúc cho người được sửa dạy khi sai lỗi vì họ có thể sửa chữa.
Thánh Kinh còn đi sâu hơn nữa: chúng ta hạnh phúc vì Thiên Chúa sửa dạy chúng ta không phải chỉ vì là cơ hội để ta tiến triển mà còn vì mối quan hệ của ta với Chúa được chặt chẽ hơn. Thư Do thái đã viết về Đức Giêsu, cho dù là người con toàn hảo, đã muốn học vâng phục trong mọi sự ngài chịu, muốn nhìn nhận giá trị của sự giáo dục khắc khổ, cần thiết cho chúng ta. Ngày nay, khi chúng ta sống những khoảnh khắc của việc giáo dục khắc khổ này, chúng ta được liên kết với ngài cách đặc biệt và chúng ta có thể tiến triển nhiều trong tình yêu của ngài. Thử thách là động lực của hy vọng, thử thách là phương tiện để yêu mến: đó là những viễn ảnh cần ghi nhớ trong những khó khăn lớn nhỏ của cuộc đời, sẽ nuôi dưỡng lòng can đảm và đức tin của chúng ta. Xin Chúa mở mắt chúng ta để biết nhận ra sự quan tâm hiền phụ của ngài đối với chúng ta.
Thứ năm Tuần IV Thường niên
Thánh Agata
Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa
Lời nguyện nhập lễ nài xin lòng thương xót Chúa, nhờ lời chuyển cầu của thánh nữ Agata, người đã làm rạng sáng Hội Thánh bằng vinh quang của sự trinh khiết và việc tử vì đạo. Tử vì đạo, tự hiến cho Đức Kitô để đến với Thiên Chúa qua hy lễ đời sống; sự trinh khiết chỉ có ý nghĩa khi được hiến dâng. Không có hiến dâng, có thể nó chỉ là một hình thức ích kỷ: muốn giữ lấy cho mình. Ta gặp nhiều thiếu nữ không muốn hiến dâng mình, họ muốn dành tất cả sự độc lập của họ để hoạch định cuộc sống theo phong cách, theo ý nghĩ, theo ngẫu hứng của riêng họ: trên bình diện thể lý họ là những trinh nữ nhưng là một loại trinh khiết vô nghĩa, chỉ cốt biểu lộ lòng ích kỷ.
Sự trinh khiết kitô giáo khác hẳn: là hiến dâng cho Chúa, từ bỏ chính bản thân mình để sống hoàn toàn cho ngài. Trong bài đọc 1 Phaolô sánh ví cộng đoàn với một trinh nữ dâng hiến cho Chúa và sự trinh khiết được dâng hiến thực sự là hình ảnh của Hội Thánh, mà Chúa muốn phải là trong trắng, không nhăn nheo, không tỳ vết, như Phaolo viết trong thư gởi tín hữu Ephêsô. Trong đoạn thư đọc hôm nay, sự trinh khiết đi đôi với lời khuyên nghịch lại tính kiêu căng, nêu bật điều này là sự trinh khiết không bao giờ nhằm thỏa mãn bản thân mà cần phải được sống trong sự kết hiệp mật thiết với Chúa. Lời khuyên đó là: 'Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa'. Trong thư gởi Roma ngài giải thích rằng Thiên Chúa đã thực hiện ơn cứu độ nhờ qua đức Kitô chứ không nhờ việc thực thi lề luật. Tuy nhiên không ai có thể tự khoe khoang trước mặt ngài. Tất cả sự hãnh diện, tất cả sự kiêu sa của chúng ta ở trong Chúa. Bất cứ điều gì chúng ta làm một mình, sẽ đầy khuyết điểm, nhưng nếu ta làm trong liên kết với Chúa, sẽ được thực hiện trong tình yêu và tình yêu sẽ hoàn thiện chúng.
+++
Lần đầu tiên Đức Giêsu sai các tông đồ đi loan báo tin mừng. Người muốn họ trải qua kinh nghiệm, dưới sự hướng dẫn của Người, kinh nghiệm của những người chài lưới người. Người nghĩ rằng họ đã hiểu được điều mà Người chia sẻ với họ không chỉ nhằm cho họ mà thôi.
Giáo huấn mà họ đã lãnh nhận không chỉ dành cho một nhóm nhỏ ưu tiên. Một ngày nào đó họ sẽ phải ‘đi khắp thế gian rao giảng tin mừng cho mọi tạo vật’ (Mc 16,15)
Việc rao giảng tin mừng này cần phải xuất phát từ con tim tràn đầy, từ nhu cầu muốn chia sẻ ‘sự phong phú’ mà họ đã lãnh nhận. Bởi lẽ họ không phải là những tuyên truyền viên mà là những chứng nhân. Họ không phải là những người làm công ăn lương mà là những người tình nguyện: ‘Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy’ (Mt 10,8).
Chính đó là lý do Chúa nhấn mạnh về sự khó nghèo: một áo choàng, một đôi dép, một cây gậy đi đường. Họ được mọi người đón tiếp không phải vì quần áo tươm tất, nhưng vì niềm tin mà họ chứng tỏ qua lời nói và lối sống.
Về việc họ sinh sống, nơi mỗi thành thị luôn có một tín hữu cung cấp cho. Chỉ cần một người là đủ rồi, không cần phải đi từ nhà này sang nhà khác. Đừng để rơi vào cám dỗ làm người khách vinh dự mỗi ngày một nhà. Điều này có thể làm họ sai trệch sứ vụ của mình. Ta luôn bị cám dỗ được nuông chiều…và nếu không có ai nghe chúng ta, thì sao: cần phải giũ bụi chân và ra đi đến làng khác.
Cám dỗ lớn nhất của chúng ta ngày nay trong việc loan báo tin mừng là dựa quá nhiều vào những phương tiện hơn là vào nội dung, vào việc trình bày làm vui lòng người khác hơn là sự xác tín nội tâm. Đức Giêsu không lên án các phương tiện, nhưng nhắc nhở chúng ta rằng đức tin, lòng quảng đại, sự quên mình, niềm tin cá nhân của người tông đồ là con kênh qua đó họ rót vào các tâm hồn sứ điệp của Thiên Chúa.
+++
Năm Chẵn
‘Khi thấy mình đã gần đất xa trời, vua Đavít truyền dạy Salômon con mình rằng: Cha sắp bước vào đoạn đường mà mọi người trên đời phải đi qua; con hãy can đảm lên, và sống cho xứng bậc nam nhi. Hãy tuân giữ các huấn lệnh của Đức Chúa, Thiên Chúa của con, mà đi theo đường lối của Người, là giữ các giới răn, mệnh lệnh, luật pháp và chỉ thị của Người, như đã ghi trong luật Môsê’ (1V 2,1-3)
Như trong cuộc sống mỗi người, cũng đã xảy ra như thế đối với Đavít, giây phút phải rời bỏ tất cả mọi sự. Thật đẹp khi Kinh Thánh thuật lại cho ta thái độ của con người Đavít trong thời khắc rất quan trọng của cuộc ra đi.
Trong những lời cuối cùng của mình, ông cho thấy mình đang sống không phải trong một thảm cảnh nhưng trong một cuộc xuất hành, con đường của mọi người.
Lúc này ông hướng tất cả về đứa con trai, thấy mình có trách nhiệm để lại những lời khuyên mà trong tình cảnh như thế thật hết sức quan trọng, đòi hỏi con phải có sức mạnh tâm hồn, mạnh mẽ xứng đáng là một nam nhi. Và căn tính cho con mà Đavít yêu cầu là tuân giữ lề luật Thiên Chúa, đi trong đường lối những huấn lệnh của Người.
Đavít không đòi hỏi con mình tuân theo lề luật cách bó buộc vì là luật nhưng vì nó đến từ Thiên Chúa và nếu ta tự do sống trong tình yêu Thiên Chúa, nó sẽ dẫn đưa ta đến những điều tích cực. Nên Đavít đề nghị để con thành công theo những lời Thiên Chúa hứa.
Năm Lẻ
Dt 12:22-24: Các ngươi đã đến núi Si-ôn, đến thành của Đức Chúa Trời hằng sống, là Giê-ru-sa-lem trên trời, đến vô số thiên sứ, đến buổi họp mặt long trọng của những con trưởng được ghi tên trên trời, đến Đức Chúa Trời là Đấng phán xét muôn loài, đến linh hồn của những người công chính đã được hoàn thiện, và đến Đấng Trung Bảo của Giao Ước Mới.
Tác giả thư Do Thái nhấn mạnh hơn bao giờ hết sự khác biệt to lớn giữa bối cảnh của Giao Ước Cũ và Giao Ước Mới. Trong Giao Ước Cũ, khi Môi-sê đến núi Si-nai để nhận luật pháp từ Đức Chúa, điều này được ban hành cho toàn dân, điều đó xảy ra qua sự biểu hiện của một quyền năng thiêng liêng không thể tưởng tượng nổi. Trước quyền năng ấy, Môi-sê phủ phục xuống đất trong sự ngưỡng mộ nhưng cũng đầy sợ hãi, đến nỗi ông nói: “Tôi sợ hãi và run rẩy.” Bầu không khí của Giao Ước Mới, trong sự hoàn thành trọn vẹn mọi lời hứa, là một kết quả vui mừng, nơi sự hiện diện của vô số thiên thần và anh em giờ đây được hiện thực hóa trọn vẹn trong Tình Yêu là một "cuộc tụ họp hân hoan" quanh Thiên Chúa Cha và Chúa Giêsu. Ngài, qua mầu nhiệm cái chết và sự phục sinh của Ngài, chính là Đấng Trung Gian của Giao Ước Mới này, nơi chỉ có niềm hạnh phúc vô bờ bến khi biết cách yêu thương mới là luật lệ. Điều đó khiến ta nghĩ đến "bông hồng trắng" được các thiên thần và các thánh kết thành, như Dante đã hình dung xung quanh Chúa Ba Ngôi.
Hôm nay, trong khoảnh khắc chiêm niệm của mình, ta đi vào niềm tin sâu sắc rằng ta được mời gọi để thực sự sống bầu không khí của Giao Ước Mới này với lòng tin tưởng và sự thanh thản lớn lao. Vì vậy, ta sẽ cầu xin Chúa Giêsu sống trong ta và qua ta một "bữa tiệc của những tư tưởng thánh thiện", mà nhờ ân sủng của Ngài, trở thành một bữa tiệc (dù đôi khi mệt mỏi) của những việc lành, chỉ được chi phối bởi một Luật duy nhất: đó là luật bác ái.
Hãy tự do làm những gì lòng bác ái mách bảo bạn. Thánh Maria Domenica Mazzarello
Thứ sáu Tuần IV Thường niên
Phaolô Miki và các bạn tử đạo
Thánh vịnh đáp ca nói đến nước mắt và niềm vui thật sự chẳng phù hợp chút nào đối với các vị tử đạo Nhật bản, bởi vì họ đã không gieo trong khóc lóc mà trong niềm vui. Người ta thuật lại khi họ bị điệu đến nơi hành quyết, người ta thấy mặt họ rạng rỡ niềm vui. Phaolô Miki sau khi bị kết án cùng với các bạn khác, đã viết thư cho Bề trên của dòng Tên một cách đơn sơ: ‘Chúng con đã bị kết án hình khổ thập giá, nhưng xin đừng lo cho chúng con vì chúng con được an ủi hết sức trong Chúa. Chúng con chỉ có một điều ước ao duy nhất, đó là trước khi đến Nagasaki, ước gì chúng con có thể gặp được một linh mục dòng Tên để lãnh nhận bí tích giao hòa, tham dự thánh lễ và lãnh nhận Thánh Thể. Đó là điều ao ước duy nhất của chúng con’.
Ta thấy niềm vui của niềm hy vọng dựa trên đức tin sinh ra nhiều hoa quả đức ái. Dĩ nhiên chỉ đức tin là nền tảng niềm vui lớn lao của họ, ngay cả lúc trên thập giá. Bị đóng đinh thập giá cùng với Đức Kitô là niềm vinh dự lớn lao đối với họ vì họ tin rằng Đức Kitô đã chết vì họ và vì ơn cứu độ của họ. ‘Con Thiên Chúa đã yêu thương tôi và đã hiến mình vì tôi’. Thập giá xuất hiện trong đức tin như đỉnh cao của tình yêu Đức Kitô và tình yêu mà ta có thể dâng cho Người. Trong niềm tin ấy họ đầy tràn hy vọng và niềm vui.
Niềm hy vọng của họ không phải là phần thưởng, nhưng là chứng tá (tử đạo): họ hy vọng rằng Đức Giêsu sẽ nâng đỡ họ cho đến hơi thở cuối cùng và giúp họ hiến dâng đời mình bằng một tình yêu vô giới hạn. Noi gương Đức Giêsu để hiến dâng mạng sống cho người khác là nguồn của niềm vui.
Từ trên thập giá, Phaolô Miki vẫn tiếp tục rao giảng Đức Kitô và làm chứng về niềm hy vọng của mình. Ngài nói với những người hiện diện: ‘Tôi là người Nhật như anh em, tôi không phải là người ngoại quốc và chính vì niềm tin của tôi vào Đức Kitô mà tôi bị kết án. Tôi đang phải chịu cảnh cùng cực này, nên anh em hãy tin sự chân thành của tôi. Tôi không có ý lừa bịp anh em và tôi tuyên bố rằng không có ơn cứu độ ngoài niềm tin vào Đức Kitô’. Và Ngài còn tiếp tục, chứng tỏ niềm tin và niềm hy vọng tràn đầy con tim yêu thương của Ngài: ‘Đức Kitô muốn chúng tôi tha thứ cho những người làm hại chúng tôi và cầu nguyện cho họ. Nên tôi tha thứ cho những ai tham gia vào cái chết của chúng tôi và tôi mong ước họ trở lại để họ cũng được cứu độ’.
Tất cả các bạn của Ngài vui cười và hát vang những bài thánh ca từ trên thập giá.
Đôi lúc ta nghĩ rằng vui vẻ trong những hoàn cảnh thường nhật của cuộc sống thì khó hơn là trong những hoàn cảnh đặc biệt, một cách nào đó có ân sủng Chúa nâng đỡ. Nhưng ta lại có những gương mẫu khác soi chiếu cho cuộc sống thường ngày. Về điều này Thánh Phaolô viết: ‘Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô và không phải là tôi sống nữa, mà là Đức Kitô sống trong tôi’. Thánh giá của Đức Kitô soi chiếu cho muôn vàn thập giá khác.
Cầu xin Chúa cho ta kết hiệp với sự sống thần linh của Chúa mà ta nhận thấy nơi chính cuộc sống của các thánh tử đạo.
+++
Mc 6:14-29: Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại câu chuyện buồn về âm mưu dẫn đến việc chặt đầu Gioan Tẩy giả. Câu chuyện được kể vì lời rao giảng của Gioan, theo một nghĩa nào đó, đã lay động lương tâm của Hêrôđê; nó cũng dạy chúng ta rằng trong mỗi chứng nhân chân chính đều sống trong cùng một ngọn lửa và niềm đam mê như ở những người đích thực. Gioan Tẩy Giả chết trước Chúa Giêsu, nhưng trong cái chết của ông, chúng ta thấy một hình ảnh báo trước về chứng nhân cuối cùng mà chính Chúa Giêsu sẽ làm vài năm sau đó trên thập tự giá. Chúa Giêsu bị đóng đinh được báo trước trong cái chết vô tội của Gioan Tẩy giả, nhưng Hê-rôđê không thể biết điều này, trong khi chúng ta cũng biết rằng bất cứ khi nào một người trải qua những biến cố bi thảm, như đã xảy ra với Gioan Tẩy giả, chính Chúa Giêsu hiện diện trong nỗi đau đó. Nghịch lý thay, ngay cả khi chúng ta thấy mình trong những tình huống mà, ở một mức độ nào đó, chúng ta thậm chí còn phải chịu trách nhiệm: ngay cả khi đó, Chúa Giêsu vẫn hiện diện. Không phải tất cả chúng ta đều là Gioan Tẩy giả; đôi khi chúng ta là Hêrôđê hoặc Hêrôđiađê; điều quan trọng là liệu chúng ta có muốn trở về với Ngài, từ nay trở đi hay không.
Thưa Thầy, xin cho con được làm chứng nhân của Thầy bằng cách sống trọn vẹn nhân tính của mình và luôn luôn với lòng khiêm nhường mong muốn tiếp tục cuộc hành trình cùng Thầy.
"Nếu người ta nói xấu bạn, hãy sống sao cho không ai tin lời họ nói." - Platon
Năm Lẻ
Bài đọc I trình bày lý tưởng kitô giáo: sống trong đức bác ái, đức thanh tịnh, khó nghèo, vâng phục. Lý tưởng kitô giáo không chỉ dành cho ai được mời gọi sống đời thánh hiến. Đời thánh hiến căn tính hóa những phận vụ này; tuy nhiên Đức Kitô mời gọi mọi người thực hành những nhân đức trên.
Đức bác ái. Anh em hãy kiên trì trong tình yêu huynh đệ. Hãy nhớ đến những kẻ tù đày như thể anh em là bạn đồng hành của họ, và đến những kẻ đau khổ, vì anh em đang sống trong một thân xác hay chết. Đức ái là biểu hiện tình yêu Thiên Chúa đã lãnh nhận, trao ban, một tình yêu quảng đại, thường hằng.
Đức thanh khiết. Tác giả nói điều này cho những người sống đời gia đình: ‘Ai nấy phải tôn trọng hôn nhân, chớ làm cho loan phòng ra ô uế, vì Thiên Chúa sẽ xét xử các kẻ gian dâm và ngoại tình’. Đức khiết tịnh của những tu sĩ là dấu chỉ, sự trợ giúp, sức mạnh cho những người khác.
Đức khó nghèo. ‘Trong cách ăn nết ở, anh em đừng có ham tiền, hãy coi những gì mình đang có là đủ’. Một tinh thần khó nghèo diễn tả lòng tin tưởng vào Thiên Chúa: ‘Đến nổi chúng ta tin tưởng mà nói: Có Chúa ở cùng tôi mà bênh đỡ, tôi chẳng sợ gì’.
Sau cùng, đức vâng phục. ‘Anh em hãy nhớ đến những người lãnh đạo…Anh em hãy vâng lời những người lãnh đạo anh em và hãy phục tùng họ…như thế họ sẽ vui vẻ thi hành phận sự của mình mà không than thở. Bởi vì điều đó chẳng ích gì cho anh em’.
Hãy cầu xin Chúa ơn sống sung mãn lý tưởng đời sống kitô giáo này và giúp những người quanh ta cùng sống trong niềm vui và can đảm.
Năm Chẵn
Hc 47, 9:12: "Đa-vít... trong mọi việc làm của mình đều ca ngợi Đấng Thánh, Đấng Tối Cao bằng những lời tán tụng; ông hát thánh ca bằng cả tấm lòng và yêu mến Đấng đã tạo dựng nên mình... Ông làm cho các lễ hội trở nên lộng lẫy, ông tô điểm cho các ngày lễ đến mức hoàn hảo, làm cho danh thánh của Chúa được ca ngợi và đền thờ vang vọng từ sáng sớm."
Sách Huấn Ca chứa đựng những viên ngọc quý của sự khôn ngoan, một trong số đó liên quan đến nhân cách của Đa-vít, người không chỉ là một nhà lãnh đạo dũng cảm, luôn sẵn sàng bảo vệ dân mình, mà còn sống theo nguyên tắc ngợi khen Thiên Chúa, không chỉ riêng cá nhân ông. Ông cảm nhận được tầm quan trọng của việc làm cho các lễ hội thêm long trọng và giáo dục dân chúng về sự ngợi khen Nơi Cực Thánh, điều làm cho cuộc sống con người trở nên tươi đẹp và trang nghiêm.
Lạy Chúa, xin cho con nhận ra rằng cuộc sống của con thật quý giá nếu con hiểu rằng nó được Chúa ban cho và vì thế con sống cuộc đời này với lòng ngợi khen Ngài, tôn vinh Ngài, Đấng là nguyên nhân và lý do tồn tại của con. Vì vậy, xin cho con được trải nghiệm những ngày nghỉ lễ như một sự thay thế cho những ngày làm việc: với những khoảng thời gian nghỉ ngơi cần thiết, với những lựa chọn giải trí cho sức khỏe thể chất, tinh thần và tâm linh của con, và nhờ đó (cho bản thân con, gia đình và bạn bè con) được đến với bến bờ của niềm vui, sự thanh thản và bình an.
"Việc liên tục trò chuyện với Chúa Kitô làm gia tăng tình yêu thương và lòng tin tưởng." - Thánh Teresa Avila
Thứ bảy tuần IV Thường niên
Luôn là niềm vui khi nghĩ rằng Đức Giêsu đã trao ban mẹ ngài làm mẹ của ta: điều này làm cho ta cảm thấy biết bao dịu ngọt và can đảm trong đời sống thiêng liêng. Hôm nay ta kết thúc thư do thái và ta gặp thấy một giáo huấn hết sức quan trọng mà ta có thể đón nhận như đến từ Đức Maria, chính Mẹ cũng nói những điều ấy cho ta.
‘Nhờ Đức Giêsu, chúng ta hãy luôn dâng lời ngợi khen làm lễ tế dâng lên Thiên Chúa’. Linh hồn chúng ta phải luôn sống trong tâm tình ngợi khen và cảm tạ và do đó ta cần phải ý thức những ân huệ lớn lao mà Thiên Chúa không ngừng ban cho ta nhờ Đức Giêsu.
Một khi tin tưởng điều đó, lòng tri ân sẽ thúc đẩy ta thực hiện trong niềm vui những lễ tế khác mà tác giả thư khuyến dụ. ‘Anh em chớ quên làm việc từ thiện, giúp đỡ lẫn nhau, vì Thiên Chúa ưa thích những hy lễ như thế’. Đó là hy lễ của tình bác ái huynh đệ, rộng mở lòng cho người khác để làm điều tốt, giúp đỡ, chia sẻ với họ những điều mình có. Bằng cách đó chúng ta tiếp tục hy lễ của Đức Giêsu trong thực tế đời sống của mình, vì chính ngài tiếp tục lễ dâng của ngài nơi ta.
‘Anh em hãy vâng lời những người lãnh đạo anh em và phục tùng họ, vì họ chăm sóc linh hồn anh em như những người sẽ phải trả lẽ với Thiên Chúa’. Đôi lúc thật khó mà phục tùng, nhưng đó chính là con đường của đức ái và hiệp nhất đích thực, không có con đường nào khác. Thái độ sâu thẳm bên trong của sự vâng phục này chính là sự vâng phục Thiên Chúa, qua những vị lãnh đạo mà Ngài chọn. Nếu ta sống như thế, Thiên Chúa của sự bình an sẽ làm cho ta nên hoàn thiện trong mọi điều thiện hảo nhờ Đức Giêsu, Chúa chúng ta, bằng cách thi hành nơi ta thánh ý của ngài. Cũng như chính ngài đã thi hành thánh ý Chúa Cha, ta cũng có thể thi hành thánh ý Cha nhờ ngài, tìm gặp bình an, niềm vui và đức ái toàn thiện.
Trong tất cả những điều đó Đức Maria là vị hướng đạo chúng ta, mẹ luôn dâng lên Thiên Chúa một hy lễ ngợi khen, mẹ yêu thương hết mọi người, luôn là người tôi tớ khiêm nhu của Chúa, hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa.
+++
Chứng nhân cho Đức Kitô
Các môn đệ ra đi và 'diễn đàn' vắng. Thánh Mátcô lấp đầy bằng 2 đoạn chuyển tiếp: ý kiến của Hêrôđê về Đức Giêsu và việc sát hại Gioan Tẩy Giả. Đoạn này được đặt giữa việc sai các môn đệ ra đi và việc họ quay về, mang ý nghĩa rõ rệt: dấu chỉ tiên báo về sự đối nghịch và cái chết chứng tá của Đức Giêsu và các môn đệ Ngài. Đoạn tin mừng này thuật lại cái chết của Gioan Tẩy Giả. Sử gia Flavio Giuseppe ghi rõ: 'Vì sợ rằng ảnh hưởng lớn của ông Gioan có thể thúc đẩy dân bạo loạn, Hêrôđê nghĩ tốt hơn hết là cất ngay ông ta đi trước khi rắc rối xảy ra vì có nguy cơ không làm chủ được tình thế. Và như thế, vì tính đa nghi của Hêrôđê mà Gioan đã bị tống giam trong ngục Macheronte và bị chém đầu tại đây'.
Khi các ngôn sứ 'đặt ngón tay trên vết thương' và đi vào tận cốt lõi của vấn đề, thường thì họ sẽ bị loại trừ ngay không chút đắn đo. Đầu của Gioan Tẩy Giả đặt trên dĩa, ngay trong bữa đại tiệc, xem chừng ra hơi khác thường. Suy nghĩ cho kỹ đi, không phải là một 'dĩa' (món ăn) hiếm thấy đâu: có biết bao cái đầu bị chém ngay trong các bữa ăn trưa, ăn tối…!
Đuợc đặt sau việc sai Nhóm Mười Hai, đoạn văn này báo trước thân phận của nhà truyền giáo, của người chứng nhân cho Đức Kitô. Cái chết của Gioan báo trước cái chết của Đức Giêsu và của những người được sai đi. Điều khác biệt giữa cái chết do nguyên nhân tự nhiên và cái chết vì đạo nằm ở chỗ: cái thứ nhất là kết thúc còn cái thứ hai là mục đích của cuộc sống. Vị tử đạo làm chứng ngay trong cái chết và vượt trên cái chết, tình yêu nguyên lý của sự sống.
Bữa tiệc trong cung điện của Hêrôđê làm đối trọng với bữa tiệc Chúa Giêsu chuẩn bị trong hoang địa được diễn tả trong đoạn tiếp sau (Mc 6,30-44). Bữa thứ nhất nhắc nhớ sự sinh vào Nước Trời qua cái chết; Bữa thứ hai tiên báo cái chết của Chúa, như là hồng ân của sự sống. Các gia vị trong bữa tiệc của Hêrôđê là giàu sang, quyền thế, kiêu căng, mưu mô, hận thù và bất công và kết thúc là cái dĩa ghê rợn với cái đầu mới bị chém. Lịch sử thế giới không gì khác hơn là một biến thiên đơn điệu đến mức buồn nôn của những món ăn độc hại như thế.
Bữa tiệc của Đức Giêsu ngược lại mang hương vị giản đơn của bánh, của tình yêu tự trao ban và nẩy nở qua những chia sẻ của tình huynh đệ.
+++
Đức Giêsu chỉ dạy cho các môn đệ của Ngài sau khi họ đi rao giảng trở về. Người ta thường quan tâm đến điều ‘họ đã làm và đã dạy’. Bởi lẽ người tông đồ phải truyền đạt cách trung thành lời đã được trao phó và qua cung cách sống làm chứng cho chân lý họ giảng dạy. Họ đã lao nhọc nhiều và giờ đây cần phải được nghỉ ngơi. Đức Giêsu bảo họ: ‘Anh em hãy lánh riêng ra, đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút’.
Nhưng họ cần học những bài học khác. Đặc biệt là người tông đồ không phải là một công nhân, làm theo giờ quy định, với những kỳ nghỉ và phần thưởng có sẵn. Không, người tông đồ là một thiện nguyện viên, một người hiến thân hoàn toàn. Dân chúng đến và ‘các ông cũng chẳng có thời giờ ăn uống nữa’, thánh sử Mátcô ghi nhận.
Họ cần phải học trước tiên để có cái nhìn của người tông đồ.
Đức Giêsu nhìn dân chúng đến với mình. ‘Ngài chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt’. Tinh thần truyền giáo phát sinh từ cái nhìn đối với dân chúng. Một cái nhìn không dừng lại nơi vẻ bề ngoài. Một cái nhìn đoán biết trước những nhu cầu ẩn giấu của họ. Không chỉ là những nhu cầu vật chất, khao khát tình yêu, những khắc khoải kín đáo nhưng còn là nhu cầu về Thiên Chúa, về ơn cứu độ.
Có thể có nhiều cách thức nhìn dân chúng. Nhà kinh doanh nhìn họ như những kẻ tiêu thụ; nhà chính trị nhìn họ như những người ủng hộ hoặc đơn giản chỉ vì một lá phiếu bầu; người buôn bán xem họ như những khách hàng; giới truyền thông nhìn họ như độc giả, thính giả, khán giả; giới người mẫu như những fan hâm mộ…
Tất cả những cái nhìn bề ngoài chỉ xem người khác như cái mang lại tư lợi.
Người tông đồ nhìn ‘con người trong thực thể riêng biết của họ, có riêng lịch sự đời mình và nhất là một lịch riêng cho linh hồn…Con người trong sự thật tròn đầy của đời sống…Con người là con đường của Giáo Hội’ (GP II, Đấng Cứu Chuộc Con Người, 14). Mỗi người có một nhân vị riêng.
Biết bao người trên thế giới ngày nay giống như đàn chiên không người chăn dắt! cho họ bánh ăn, tương đối dễ dàng; phục vụ họ, nhất là khi biết mình sẽ được lãnh nhận lòng biết ơn từ nơi họ, cũng là điều dễ dàng. Nhưng trao ban Thiên Chúa là đặc ân của người biết mình được Thiên Chúa yêu thương và yêu thương người khác trong Đức Kitô. Nghĩa là người, như Đức Giêsu, có cái nhìn của Thiên Chúa.
Năm Chẵn
1 V 3:7-9: "Này, tôi chỉ là một đứa trẻ; tôi không biết phải làm thế nào. Tôi là tôi tớ của ngài, ở giữa dân ngài đã chọn, một dân tộc đông đảo, đông đảo đến nỗi không thể đếm nổi. Vậy, xin ban cho tôi tớ ngài một tấm lòng hiểu biết, để tôi có thể phân biệt dân ngài và biết điều thiện và điều ác."
Sau-lê cũng cho chúng ta thấy những phẩm chất của sự khôn ngoan được thể hiện trong trách nhiệm và sự tin tưởng hoàn toàn vào Chúa.
Trước hết, ông nhận thức được những hạn chế của mình: tuổi trẻ chắc chắn không cho phép ông trở thành một chuyên gia. Sau đó, ông cầu nguyện với Chúa một cách rất đơn giản, nói rằng ông không biết phải làm thế nào. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là ông không nản lòng, càng không từ chối chấp nhận những gì Chúa đã sắp đặt cho ông.
Thay vào đó, ông để cho sự căng thẳng và lo lắng đau đớn của mình hoàn toàn được xoa dịu trong lời cầu nguyện. Chúa ở đó, thúc đẩy ông tìm ra những lời cầu nguyện vừa can đảm vừa tự tin.
Lạy Chúa Giê-su, Đấng đến để chữa lành người bệnh, con cầu xin Chúa ban cho con một tấm lòng rộng mở để lắng nghe Lời Chúa, một tấm lòng rộng mở để đón nhận những gì Chúa muốn nói với con, để sống vâng phục ý muốn của Chúa, mang lại bình an và điều tốt lành cho con và anh chị em con.
"Người nào không chịu lắng nghe Chúa trước tiên thì chẳng có gì để nói với thế gian." - Hans Urs von Balthasa
Năm Lẻ
Dt 13:15-16: Nhờ Đức Chúa Giê-su Christ, chúng ta hãy luôn dâng lên Đức Chúa Trời lễ vật ngợi khen, tức là lời ngợi khen từ môi miệng xưng nhận danh Ngài. Đừng quên làm điều thiện và chia sẻ những gì mình có, vì Chúa hài lòng với những sự hy sinh như vậy.”
Tác giả thư Dt giúp chúng ta thấu hiểu vẻ đẹp của ý nghĩa cuộc sống, được làm sâu sắc thêm bằng sự ngợi khen Chúa và mở rộng bằng cách mở lòng mình để hiến dâng bản thân cho anh chị em mình. Trong cuộc sống hằng ngày, chắc chắn có yếu tố hy sinh, thường không gây chú ý. Nhưng chính sự lặp đi lặp lại của những hy sinh nhỏ nhặt hàng ngày có thể khiến chúng ta chán nản hoặc mở lòng đón nhận niềm vui sướng. Đó là sự đơn điệu và buồn tẻ khi luôn phải chịu đựng những vấn đề sức khỏe nhỏ nhặt, sự bất tiện trong công việc, hay tính cách không vui của người khác; đó là lịch trình “chật chội” đối với tôi, hay sự kiện bất ngờ làm gián đoạn kế hoạch của tôi. Chính tất cả những điều nhỏ nhặt này, khi được dâng lên Cha trong Chúa Giê-su, “Đấng Trung Gian của giao ước mới và đời đời”, vừa là của lễ và tư tế của một sự hy sinh tinh khiết nhất, trở thành một lễ vật dâng lên Chúa, một sự hân hoan, một lễ hội biến cuộc sống thành bài ca. Điều này đặc biệt quan trọng. Điều đó thật đúng khi trái tim rộng mở đón nhận người khác, khi ta hiến dâng chính mình như một món quà.
Hôm nay, trong khoảnh khắc tĩnh lặng chiêm niệm, con sẽ cầu xin Chúa giữ con khỏi sự tẻ nhạt của những sự lặp đi lặp lại vô hồn, của sự hy sinh không có tình yêu thương và không có lời ngợi khen. Và con sẽ cầu nguyện: Xin mở rộng trái tim con đón nhận nhu cầu của người khác và để nó bừng cháy, tỏa sáng trong tình yêu thương.
"Xin Chúa ban phước lành cho dân tộc này! Nguyện xin họ ôm lấy trái đất bằng vòng tay huynh đệ, dưới cầu vồng bình an của Ngài." L. Sedar Senghor
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn








"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó".
Ông cố Giuse - thân phụ Cha Huynh - phó xứ Gò Thao
Sứ điệp nhân ngày thế giới Đời sống thánh hiến 2026
Diễn văn ĐTC gửi tham dự viên Đại hội toàn thể của Bộ GLĐT 2026
Bài 3: Một kho tàng thánh thiêng duy nhất - Mối quan hệ giữa Kinh thánh và Truyền thống - CĐ Vatican II