Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa A
Is 42:1-4, 6-7; Tv 28; Cv 10:34-38; Mt 3:13-17.
Phép rửa của người Do Thái là một truyền thống lâu đời có nguồn gốc từ Cựu Ước. Nó là biểu tượng của bản sắc Do Thái và sự tiếp nối của đức tin Do Thái qua nhiều thế kỷ. Nó đã phát triển qua nhiều thế kỷ và hiện được cử hành theo nhiều cách khác nhau trong các cộng đồng Do Thái khác nhau. Phép rửa của người Do Thái, được gọi là Brit Milah cho bé trai và Brit Bat cho bé gái, là một nghi lễ cơ bản giới thiệu một em bé sơ sinh đến với đức tin Do Thái. Trong nghi lễ chuyển tiếp này, bé trai được cắt bao quy đầu và bé gái nhận được một lời chúc phúc đặc biệt. Phép rửa của người Do Thái là một hành động mang tính biểu tượng, thể hiện sự gia nhập của đứa trẻ vào giao ước giữa Đức Chúa và dân tộc Do Thái. Nó tượng trưng cho sự tiếp nối của truyền thống Do Thái, sự gắn bó của đứa trẻ với đức tin Do Thái và cam kết của cha mẹ trong việc nuôi dạy con cái theo các giáo huấn của người Do Thái.
Phép rửa, như một nghi thức dìm mình và là biểu tượng của sự thanh tẩy và đổi mới, đã được biết đến trong các tôn giáo cổ đại và trong cộng đồng người Do Thái. Nhưng phép rửa tội của Gioan đã khác biệt với tất cả những điều này ở ba khía cạnh chính: nó hướng đến sự thanh tẩy không còn mang tính nghi lễ, mà là về mặt đạo đức; nó không được lặp lại và do đó mang hình thức của một nghi thức nhập môn; nó có giá trị cánh chung vì nó đưa vào nhóm những người tuyên xưng niềm mong đợi tích cực về Đấng Messia sắp đến và thiết lập cộng đồng của Ngài trước.
Qua những điều này và những thực hành khác, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho phép rửa tội mới, do Chúa Giêsu thiết lập, chứ không phải do Giáo hội.
Nhưng chính Gioan Tẩy giả sẽ nói rằng phép rửa tội của Chúa Giêsu sẽ còn khác biệt hơn nữa: " Người sẽ làm phép rửa cho các ngươi bằng Thánh Linh và bằng lửa " (Mt 3:11) và " Người nào mà các ngươi thấy Thánh Linh ngự xuống và ở lại, tức là người làm phép rửa bằng Thánh Linh " (Ga 1:34).
Phép rửa tội của Chúa Giêsu, không giống như các nghi thức trước đó và thậm chí cả phép rửa tội của Gioan, không chỉ giới hạn ở việc tượng trưng cho ơn cứu độ hoặc chuẩn bị cho nó, mà còn báo trước ơn cứu độ ngay trong hiện tại, dù chỉ mới ở dạng phôi thai. Thật vậy, nó sở hữu một quyền năng hữu hiệu để tha tội và ban Thánh Linh. Việc kết hợp chúng ta với Chúa đã chết và sống lại, khiến chúng ta được chia sẻ sự sống của Thiên Chúa và được giới thiệu rõ ràng vào cộng đồng cứu rỗi của Ngài, tức là Giáo Hội.
Khi nói và viết về sự mặc khải thiêng liêng và các sự kiện của nó, chúng ta có thể đề cập đến một bản đồ đức tin. Và trong bản đồ này, sông Jordan nổi bật lên. Một dòng sông thuộc về vùng đất của tâm hồn Kitô giáo. Chính trên bờ sông Jordan, Gioan Tẩy giả rao giảng sự hoán cải khỏi tội lỗi để đón nhận vương quốc của Đức Chúa đã đến gần, và Chúa Giê-su cùng đám đông xuống nước để chịu phép rửa. Sau khi Chúa tỏ mình ra với các mục đồng và các nhà thông thái, sự hiện diện của Chúa Giê-su trước mặt Gioan mang một đặc điểm Messia đặc biệt. Giao ước cũ được kết thúc trong Đấng Tiền Hô, dân mới của Đức Chúa được mở ra trong Chúa Giê-su Kitô. " Hãy để điều đó xảy ra ngay bây giờ" (Chúa phán với Gioan, người phản đối, "Tôi cần được ông làm phép rửa, mà sao ông lại đến với tôi?"), "vì như vậy là thích hợp để chúng ta làm trọn mọi sự công chính ." Gioan là lời tiên tri, Chúa Giê-su là sự ứng nghiệm. Vị tiên tri cuối cùng của giao ước cũ nhường chỗ cho giao ước mới mà Chúa Giê-su đã thiết lập khi Ngài giáng sinh (“ Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta rất hài lòng về Người ,” một tiếng từ trời sẽ tuyên bố khi Thánh Linh của Đức Chúa ngự xuống trên Chúa Giê-su dưới hình dạng chim bồ câu) (Mt 3:13-17).
“ Sự công chính của Đức Chúa ” và kế hoạch đã được Cha định từ muôn đời để sai Con Ngài đến thế gian để “ hòa giải mọi sự với chính mình ”. Trong phép rửa, Đấng Messia được công nhận. Cha, tuyên bố sự hài lòng của Ngài, khẳng định sứ mệnh cứu chuộc của Ngài. Và Chúa Giê-su tự xưng là “Tôi tớ của Đức Chúa”, khiêm nhường, không danh vọng, gánh lấy tội lỗi của dân Ngài. Ngài không bị ràng buộc bởi phép rửa của Gioan, cả về mặt đạo đức, vì chính Ngài vô tội, lẫn về mặt pháp lý, vì luật pháp không bắt buộc ai phải chịu phép rửa đó. Ngài chọn chịu phép rửa vì nghi thức đó sẽ mang đến sự mặc khải về phẩm giá Messia của Ngài. Để được công khai nhận là Đấng Cứu Thế, để nhận ra “sự công chính của Đức Chúa”, Chúa Giê-su “ là Đấng không có tội, đã trở nên tội lỗi vì chúng ta, để trong Ngài chúng ta cũng được trở nên sự công chính của Đức Chúa Trời ” (2 Cr 5:21). Chúa Giê-su gánh “ tội lỗi của tất cả chúng ta ”, và vì lý do này, Ngài xin được rửa tội sám hối, cùng với những người tội lỗi đến gặp Thánh Gioan.
Phép rửa tội của Chúa Giê-su là phép rửa tội của chúng ta, phép rửa tội của Giáo Hội, “ dân mới của Đức Chúa ”. Israen xưa, Con Đầu Lòng, đã đi qua giữa các cột nước ở Biển Đỏ và trên con đường khô ráo bên kia sông Giô-đan; như vậy, Israen mới của Đức Chúa trong Chúa Giê-su “ra khỏi nước”, được giải thoát, được cứu chuộc. Thánh Phaolô nhấn mạnh khái niệm này, về sự dìm mình và thanh tẩy, nhấn mạnh mầu nhiệm Phục Sinh trong khía cạnh tiên tri và trong thực tại của nó.Trong sách Xuất Hành, dân Israel được giải phóng khỏi Ai Cập để phụng sự Đức Chúa và dâng lễ vật cho Ngài (Xh 4:22).
Trong các sách Phúc Âm, dân Israel mới, đã ở bên sông Jordan, hướng về Cuộc Khổ Nạn và Thập Giá (Chính Chúa Giêsu gọi Cuộc Khổ Nạn là " Phép Rửa ". " Ta phải chịu phép rửa, và Ta đau khổ biết bao cho đến khi chịu phép rửa " (Lc 12:50); và nói với các con trai của Zê-bê-đê: " Các ngươi có thể uống chén mà Ta phải uống, và chịu phép rửa mà Ta phải chịu không? " (Mc 10:38). Chúa Giêsu bắt đầu sứ mệnh của Ngài bằng phép rửa bằng nước, và kết thúc bằng phép rửa bằng máu (1 Ga 5:6). Và về mầu nhiệm cứu chuộc này, Chúa Thánh Thần " làm chứng ".
Chúa Thánh Thần, Đấng đã bay lượn trên mặt nước như sức mạnh của Thiên Chúa để lập trật tự trong công trình (St 1:1), hiện ra "như chim bồ câu", giáng xuống và ở lại mãi mãi trong Chúa Kitô và trong Giáo Hội: " Ta đã đặt Thần của Ta trên người ấy" (Is 42:1), "Cả hai đều được đầy dẫy Thánh Thần " (Cv 1:1). 2, 4).
Do đó, phép rửa tội là sự hiển linh của sự Nhập Thể, sự hiển linh của địa vị Con Thiên Chúa, sự hiển linh của Đấng Messia, sự hiển linh của Ba Ngôi, sự hiển linh của Mầu nhiệm Phục Sinh trong lịch sử cứu độ tiếp diễn trong phép rửa tội của chúng ta: " Chúng ta là những người đã chịu phép rửa trong Chúa Giêsu Kitô, cũng đã chịu phép rửa trong sự chết của Người, để, như Chúa Kitô đã được sống lại bởi quyền năng của Chúa Cha, chúng ta cũng được sống một đời sống mới " (Rm 6:3-4).
Sự hiển linh qua Chúa Thánh Thần. " Người Con yêu dấu " mà Chúa Thánh Thần ngự trên được nhận biết trong sứ mệnh của Người như một vị tiên tri trong việc rao giảng sứ điệp cứu độ, như một vị linh mục trong hy sinh duy nhất được Chúa Cha chấp nhận, như một vị vua, tức là Đấng Messia được chờ đợi như Đấng Cứu Thế. Chúng ta cũng vậy, trong phép rửa tội của mình, nhận được một sự thánh hiến mang tính tiên tri, linh mục và vương giả, cam kết, và phải cam kết, toàn bộ cuộc đời mình cho ơn cứu độ. Đó là vấn đề tái khám phá và sống phép rửa tội bí tích của chúng ta.
Đó là một nghi thức khai tâm cho phép chúng ta bước vào đời sống đích thực, đời sống của Thiên Chúa, Đấng đã là sự sống vĩnh hằng ngay trong thời gian.
Đó là một ơn gọi và sứ mệnh, được ghi nhận bằng một dấu ấn không thể xóa nhòa, đưa chúng ta vào việc phục vụ Chúa Kitô trong Giáo Hội và Giáo Hội trong Chúa Giêsu Kitô. Đó là một mầu nhiệm thánh hóa và làm con cái Thiên Chúa, biến con người thành một chi thể sống động của Thân Thể Chúa Kitô, và kết hợp chúng ta vào gia đình Thiên Chúa. Đó là một sự tái sinh, từ cái chết đến sự sống, bởi vì, như Thánh Augustinô khẳng định, sự tái sinh qua phép rửa tội và sự sống đời đời chỉ là một và cùng một công việc. Đó là một sự chuyển đổi từ tội lỗi sang tình liên đới của tình yêu thương, là điều hòa giải và cứu rỗi.
Đó là một sổ đăng ký của Giáo hội ban cho chúng ta một danh xưng: "Kitô hữu," và một họ: "Công giáo." Được ký tên "nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần," toàn bộ kế hoạch cứu độ phải trở thành cam kết hằng ngày của chúng ta. Lời của Chúa Cha cũng được nói với chúng ta, và Thánh Linh của Chúa cũng ngự trên chúng ta. Sống và làm chứng cho Chúa Kitô có nghĩa là sống và làm chứng cho phép rửa tội của chính mình. Mỗi người chúng ta đều được giao phó cùng một sứ mệnh như Chúa Giêsu, và vì sứ mệnh này mà chúng ta được thánh hiến.
Đó là một phép rửa tội sám hối, mà chúng ta phải sống trong sự hoán cải và hiệp thông liên tục và không gián đoạn với Chúa, và đồng thời là một phép rửa tội đòi hỏi chúng ta phải trở thành những " dấu hiệu " đích thực của Chúa: " Như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các con... Ai tin các con sẽ được cứu rỗi ." Một phép rửa tội bằng nước và máu. Nguyện xin máu đã tái sinh chúng ta đừng bao giờ khô cạn trên trán chúng ta, và nguyện xin nguồn nước hằng sống dâng lên sự sống đời đời đừng bao giờ cạn kiệt trong chúng ta! Nguyện xin lòng tốt của Chúa luôn luôn ngự trên chúng ta.
Cam kết này phải mở rộng đến việc rửa tội trong cộng đồng cho tất cả mọi người.
Ôn lại cuộc đời:
Với tư cách cá nhân, vợ chồng, gia đình hay cộng đồng, chúng ta trải nghiệm phép rửa tội của mình như thế nào... một nghi thức, một buổi lễ, một truyền thống với những "lợi ích", hay, mỗi ngày, là một cam kết, một sự trưởng thành, một sự sống "Kitô giáo" đầy thử thách đối với bản thân, đối với "láng giềng" và đối với xã hội ?
+++
Mùa Giáng Sinh kết thúc với lễ trọng hôm nay, Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa. Một sự kiện trọng đại, cần được thấu hiểu chứ không phải xem nhẹ. Chúa Giêsu, Con của Đấng Tối Cao, chịu phép rửa của Gioan, nhằm thể hiện ước muốn thay đổi đời sống mình, chuẩn bị đón nhận Đấng Messia. Đó là một nghi thức không thanh tẩy chúng ta khỏi tội lỗi cũng không ban cho chúng ta Thánh Linh. Vì vậy, Chúa Giêsu đứng cùng với những người tội lỗi, như thể muốn nói rằng Ngài trở nên một trong chúng ta trong mọi phương diện, cho chúng ta thấy sự liên đới của Ngài với nhân loại tội lỗi, tức là với mỗi người chúng ta. Ngài ngay lập tức tỏ mình là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Đấng đồng hành với chúng ta, khao khát ơn cứu độ của chúng ta. Cuộc phiêu lưu công khai của Chúa Giêsu bắt đầu từ đây: để đến gần chúng ta, để ở bên cạnh chúng ta. Điều đó nói lên điều gì về cuộc sống của chúng ta? Rằng Thiên Chúa không ghê tởm những điều sai trái nơi chúng ta, nhưng Ngài liên tục đến gặp gỡ chúng ta, gõ cửa tâm hồn chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi những điều sai trái, cho phép chúng ta khám phá tình yêu sâu sắc của mình. Vâng, Chúa không hổ thẹn về chúng ta, về sự thấp hèn của chúng ta, nhưng Ngài bước vào đó để nâng chúng ta lên và ban cho chúng ta sự sống mới.
Gioan kinh ngạc về tất cả điều này: "Tôi cần được Ngài làm phép rửa tội, mà Ngài lại đến với tôi sao?" Câu trả lời của Chúa Giê-su là tất cả đều là một phần của kế hoạch yêu thương lớn lao hơn, trong sự mặc khải tuyệt đẹp về tình yêu của Ngài dành cho chúng ta, điều sẽ đạt đến đỉnh điểm trên thập tự giá. Với phép rửa tội của Chúa Giê-su, một "câu chuyện mới" bắt đầu, một câu chuyện tình yêu mà Chúa muốn dệt nên với mỗi người chúng ta. Khi Ngài bước ra khỏi nước, trời mở ra và Thánh Linh ngự xuống trên Chúa Giê-su. Nghĩa là, trong Ngài, trời, vốn đóng kín vì tội nguyên tổ, được mở ra, do đó có sự hiệp thông với Thiên Chúa, và bản chất con người trở nên có khả năng đón nhận và trân trọng sự hiện diện của Thiên Chúa. Đó là mầu nhiệm tuyệt đẹp mà chúng ta cử hành trong phép rửa tội, nơi chúng ta trở thành Đền thờ của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần ngự vào trái tim của người được rửa tội, gieo vào họ những đức tính sẽ nở rộ theo thời gian. Đây là một phẩm giá rất lớn lao, vô cùng cao cả: Tôi là con của trai Chúa! Tôi là con gái của Chúa! Nhưng liệu chúng ta có bao giờ nghĩ về điều đó không? Qua phép rửa tội, chúng ta là Đền thờ của Đức Chúa Trời! Chúng ta có nhận ra phẩm giá cao cả của mình đến nhường nào, chúng ta nên yêu thương và tôn trọng bản thân, thân thể mình và thân thể người khác đến mức nào không?
"Và này, có tiếng từ trời phán rằng: 'Đây là Con yêu dấu của Ta; Ta rất hài lòng về Người.'"Chúa Cha mặc khải cho chúng ta biết Chúa Giêsu là ai: Con của Ngài, Đấng được yêu dấu. Vì vậy, Chúa Giêsu không chỉ là một người phàm; Ngài mang trong mình một bí mật vĩ đại. Ngài là Con duy nhất và được yêu dấu, Đấng đến để tỏ bày dung mạo của Thiên Chúa cho chúng ta và chia sẻ sự sống của Ngài. Tất cả điều này, ngoài việc mở lòng chúng ta ra với sự kinh ngạc mới mẻ, còn đưa chúng ta trở lại với phép rửa tội và phẩm giá mới mà nó ban cho chúng ta. Qua phép rửa tội, chúng ta được giải thoát khỏi mọi tội lỗi và được "tháp" vào trong Chúa Kitô, được chia sẻ sự sống thiêng liêng, trong Chúa Thánh Thần. Và trên chúng ta, Chúa Cha cũng phán những lời tuyệt vời ấy: "Con là con trai Ta, con là con gái Ta, Ta hài lòng về con." Phải, qua phép rửa tội, chúng ta được đắm mình trong tình yêu này; sự sống của chúng ta có một nguồn mới: tình yêu của Thiên Chúa, của một Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi khi lặp đi lặp lại điều đó với Ta: Con quý giá trong mắt Ta; Ta đã khắc ghi con trên lòng bàn tay Ta; Dù núi non có rung chuyển, tình yêu của ta cũng sẽ không rời xa con... Đây là những câu nói tuyệt đẹp, trích từ lời dạy của Ngài, cho chúng ta thấy một tình yêu mạnh mẽ và vô điều kiện, từ khi chịu phép rửa tội đã ngự trị trong mỗi chúng ta, một tình yêu cần được khám phá lại và sống trọn vẹn.
Thật tốt khi chúng ta kết thúc bằng những lời tuyệt vời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô: Phép rửa tội… không phải là một hình thức! Đó là một hành động chạm sâu sắc đến sự tồn tại của chúng ta. Một đứa trẻ đã được rửa tội không giống như một đứa trẻ chưa được rửa tội. Một người đã được rửa tội không giống như một người chưa được rửa tội. Qua phép rửa tội, chúng ta được đắm mình trong nguồn sống vô tận là cái chết của Chúa Giêsu, hành động yêu thương vĩ đại nhất trong toàn bộ lịch sử; và nhờ tình yêu này, chúng ta có thể sống một cuộc sống mới, không còn bị lệ thuộc vào sự ác, tội lỗi và cái chết, mà được hiệp thông với Thiên Chúa và anh chị em của chúng ta… Nhờ phép rửa tội, chúng ta có thể tha thứ và yêu thương ngay cả những người xúc phạm và làm hại chúng ta; chúng ta có thể nhận ra nơi những người bé nhỏ nhất và nghèo khổ dung mạo của Chúa, Đấng viếng thăm và đến gần chúng ta. Phép rửa tội giúp chúng ta nhận ra dung mạo của Chúa Giêsu trong khuôn mặt của những người cần giúp đỡ, trong những người đau khổ, thậm chí cả trong những người hàng xóm của chúng ta. Tất cả điều này đều có thể nhờ quyền năng của phép rửa tội!
Nguyện xin Chúa ban cho chúng ta ân sủng để tái khám phá vẻ đẹp ấy, và để sống và trở thành con cái đích thực của Ngài trên thế giới này!
Thứ Hai Tuần I Tn
Hỡi Anna, sao bà khóc? Sao bà không ăn? Sao lòng bà buồn rầu? Sm 1:8
Sách Samuel thứ nhất đánh dấu sự chuyển đổi từ một liên minh bộ lạc, liên tục bị các dân tộc xung quanh đe dọa, sang việc thành lập một vương quốc. Nhân vật then chốt là Sa-mu-el, vị thẩm phán cuối cùng và là một vị tiên tri, đã kết nối hai bối cảnh chính trị xã hội này.
Đoạn Kinh Thánh được trình bày trong phụng vụ hôm nay cho thấy gia đình gốc của ông, nơi diễn ra những cuộc tranh giành đầy tủi nhục. Anna, mẹ ông, bị hiếm muộn: một sự hạn chế nhục nhã đối với một người con gái của Israen, càng tồi tệ hơn bởi những lời công kích cay nghiệt của Peninnah, người vợ khác của Elkanah. Tình yêu ưu ái của chồng không thể xoa dịu nỗi đau cháy bỏng của bà. Nhưng chính trong sự bất lực này, được tin tưởng phó thác cho Chúa, mà sự can thiệp của Chúa sẽ được thể hiện, không chỉ có khả năng làm cho tử cung của bà sinh sôi nảy nở mà còn khôi phục cho Israen một người lãnh đạo sẽ dẫn dắt họ trở lại con đường trung tín. Thời đại các Thủ Lãnh kết thúc bằng một tội ác khủng khiếp, và tầng lớp tư tế, qua hai người con trai của Ê-li là Hô-phni và Phi-nê-ha, hiện lên như một kẻ bại hoại.
Tiếng khóc cay đắng của Anna trở thành tiếng kêu đau đớn của những người bất lực chứng kiến sự lan rộng của một sự trụy lạc bóp nghẹt sự sống, thậm chí ngăn cản sự nảy nở tự nhiên của nó. Nỗi buồn trước một xã hội không còn khả năng tạo ra bất cứ điều gì ngoài sự vô nghĩa và cái chết, đã đánh mất liên hệ với cội nguồn của sự sống, với Thiên Chúa. Một lời cầu nguyện chân thành của những người không coi tình yêu của Thiên Chúa là nơi nương náu cá nhân, nhưng cảm thấy đoàn kết với những người, vì đã lạc lối, có nguy cơ tự hủy hoại bản thân.
Hôm nay tôi muốn suy ngẫm về khía cạnh này trong ơn gọi Kitô giáo của tôi, điều khiến tôi trở thành cầu nối với Thiên Chúa cho anh chị em tôi.
Sự hiệp thông của con với Chúa không bao giờ khiến con xa rời những vấn đề, kể cả những vấn đề đạo đức, đang xé nát xã hội ngày nay. Xin cho tay con được giang rộng đến với Chúa ngay cả đối với những người không thể làm được điều đó.
Hãy cầu nguyện không ngừng cho tất cả mọi người khác: đối với họ cũng có hy vọng về sự hoán cải và hiệp nhất với Thiên Chúa. Thánh Ignatius thành Antiochia
+++
Lạy Chúa Giêsu, tại sao Người đến quá chậm trễ như vậy trong lịch sử loài người? Biết bao tỉ con người đã sống trước khi biết điều mà Người đến dạy dỗ, trước khi biết rằng họ được yêu thương? Đây là giáo huấn thường xuyên của Giáo hội: mỗi người đều được kêu mời hưởng ơn cứu độ và được thánh hóa. Nhưng, vì biết rằng mỗi người có thể đón nhận ơn cứu độ ấy nhờ trung thành với lương tâm ngay thẳng của mình, nên thêm vào lời loan báo của các vị truyền giáo tôi còn bị đòi hỏi phải thêm điều gì riêng tư nữa. Điều độc đáo của họ là biết rằng mỗi người chúng ta đuợc yêu thương, được Chúa Cha yêu thương. Ta ý thức thật sự rằng Đức Giêsu trong tin mừng, khi nói với những người đơn sơ mà Người gặp trên đường: ‘Hãy theo Ta’, Người cũng nói với mỗi người tín hữu, chứ không chỉ riêng những ai được kêu gọi trong thiên chức linh mục hay trong ơn gọi sống đời thánh hiến. Mỗi tín hữu được Đức Giêsu kêu gọi để cùng với Người trở nên kẻ loan báo tin mừng; cung cách của Người như nói lên điều này: ‘Bạn được yêu thương, tất cả các bạn được yêu thương’. Và đó là phận vụ Chúa trao cho mỗi tín hữu, để mỗi người nên tông đồ và được sai đi thông truyền niềm vui tin mừng. Thường thì chính niềm vui này thúc đẩy mỗi người tiếp tục hành trình của mình với niềm hy vọng, ngang qua những đau khổ và nước mắt, những lần bị hiểu lầm và khước từ trong cuộc đời.
+++
Dt1:1-2
Thư Do thái bắt đầu bằng những câu rõ ràng: có người nói và có người nghe. Đấng nói là Đức Chúa, Đấng đã phán qua các tiên tri từ thời xưa. Đức Chúa tỏ mình ra cho các sứ giả của Ngài, là các tiên tri, để chuẩn bị cho sự đến của Emmanuel: Đức Chúa ở cùng chúng ta, Đấng Cứu Thế. Tất cả các tiên tri đã chuẩn bị cho dân chúng đón nhận sự kiện này trong lịch sử cứu độ.
Giờ đây, sự rõ ràng của những câu này nằm ở chỗ nó cho thấy cách Đức Chúa phán. Đức Chúa phán qua Con; Ngài là Ngôi Lời nhập thể, Đấng mà nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành. Vậy chúng ta tự hỏi: Ngài phán với ai? Ngài phán với chúng ta, với tôi, với bạn. Ngài phán với chúng ta qua Lời Ngài, mà chúng ta tìm thấy trong Kinh Thánh, trong phụng vụ hằng ngày, trong sự hiện diện Thánh Thể của Ngài, trong các bí tích, và trong lời cầu nguyện cá nhân và cộng đồng. Ngài phán với chúng ta qua anh chị em chúng ta, từ những người thân cận nhất đến những người xa cách nhất. Ngài cũng nói với chúng ta trong lương tâm: "Trong sâu thẳm lương tâm, con người khám phá ra một quy luật mà họ không tự đặt ra cho mình, nhưng họ phải tuân theo. Tiếng nói này, luôn luôn kêu gọi họ yêu thương, làm điều thiện và tránh điều ác, vang vọng đúng lúc trong sâu thẳm trái tim họ: hãy làm điều này, hãy tránh điều kia" (Gaudium et Spes số 16).
Lạy Chúa Giê-su, xin cho Lời Ngài soi sáng con đường con đi . (Tv 119:105)
Thứ Ba Tuần I Tn
Đức Giêsu giảng dạy…Người giảng dạy như Đấng có uy quyền.
Tất cả chúng ta ngay từ lúc bắt đầu tin vào Người, ngay lúc có thói quen sống trong niềm vui mà đức tin mang lại, trong niềm tin chắc rằng mình không cô độc trên con đường mang lại no thỏa cho người đói khát, tất cả chúng ta phải là ‘lời’ của Người. Những lời của Đức Giêsu được củng cố bằng những phép lạ và trong lịch sử không có nhiều người được đặc ân này đâu. Nhưng khi ta mang lời của Đức Giêsu đến giữa anh em mình, ta phải xuất hiện như những tín hữu đáng tin (dù đã là tín hữu); để đáng tin, cần phải thể hiện niềm tin của mình không nhằm thỏa đáp mọi vấn nạn. Ngay chính chúng ta, cũng có lúc thưa với Chúa: ‘Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con’? Những lúc mà như trên môi miệng của Gióp, thốt ra những câu hỏi, những vấn nạn, đôi lúc có cả cám dỗ nguyền rủa nữa vì sự đau khổ quá sức chịu đựng…Nhưng chúng ta phải là những người làm chứng rằng, người tín hữu cũng chịu những đau khổ, đôi lúc còn nhiều và nặng nề hơn nữa, những đau khổ mà con người phải chịu. Với đôi mắt và con tim rộng mở từ đau khổ mầu nhiệm đó ta cần phải chứng tỏ mình luôn là kẻ tin! Luôn là kẻ tin ngay khi mọi người hình như chối từ Đấng Hằng Hữu là tình yêu. Để là kẻ tin, không phải chỉ cần có lời nói mà thôi mà còn cung cách sống của mình nữa, hành động của mình, cách thức ta phản ứng trước đau khổ quanh ta. Chỉ có lời nói của người có khả năng đón nhận mọi nguy hiểm để giúp đỡ tha nhân đang đau khổ, chỉ có lời nói của người ấy mới đáng tin.
+++
Kinh Thánh trình bày cho ta hai bình diện của Đức Giêsu, nhân tính và thiên tính. Ngay thời đầu của Giáo Hội người ta nhấn mạnh bình diện thần linh; sau vài thế kỷ, cùng với lạc giáo Ariô, người ta bắt đầu đề cao nhân tính bằng cách chối bỏ thiên tính của Đức Kitô. Giáo hội không thể duy trì tình trạng mất quân bình này nên đã nhấn mạnh trên hai bản tính trong một ngôi vị, ngôi Con duy nhất của Thiên Chúa. Thư gửi tín hữu do thái nhấn mạnh đến hai bình diện và đoạn trích đọc hôm nay nói về bình diện nhân tính: ‘Phàm nhân là chi mà Chúa cần nhớ đến? Chúa đã làm cho con người thua kém các thiên thần trong một thời gian ngắn, ban vinh quang, danh dự làm mũ triều thiên, đặt muôn loài, muôn sự dưới chân con người, bắt chúng phải phục quyền con người’.
Đức Giêsu là con người lý tưởng, nơi ngài ơn gọi của con người làm chủ vũ trụ được thực hiện cách toàn vẹn. Trong trình thuật sáng tạo ta đọc thấy Thiên Chúa đã đặt con người làm chủ mọi tạo vật, nhưng trong tình trạng hiện nay của mọi sự, ơn gọi này không thể được thực hiện cách hoàn toàn. Chỉ duy Đức Kitô, bằng cái chết và sự sống lại, đã nhận một nhân tính đổi mới và có thể làm chủ trên mọi tạo thành.
Trong bài tin mừng ta thấy Đức Giêsu ngay lúc khởi đầu sứ vụ rao giảng đã chứng tỏ quyền năng của mình, làm cho dân chúng sửng sốt. thánh Mátcô thuật lại theo cách riêng của mình: ngài nhìn các sự việc như chúng đang xảy ra trước mắt ngài và tất cả xảy ra ngay lập tức: lập tức, ngày sabát Đức Giêsu vào hội đường, lập tức có một người bị thần ô uế nhập la lên, lập tức danh tiếng Người đồn ra mọi nơi…Trong đoạn này thánh Mátcô nêu bật hai nét quan trọng về sứ vụ của Đức Giêsu. Điều thứ nhất là: ‘Ngài dạy dỗ như đấng có uy quyền chứ không như các luật sĩ, các kinh sư là những người nại vào uy thế của Sách Thánh bằng cách nói rằng: Trong Sách Thánh đã viết thế này, hoặc dựa vào một vị thầy hoặc vào truyền thống. Đức Giêsu dạy bằng uy quyền của mình: là Con Thiên Chúa, ngài nói như một vị thầy dạy. Điều này rõ ràng trong bài giảng trên núi: ‘Các ngươi đã nghe người xưa bảo rằng….còn ta, ta bảo…’ và đức Giêsu ban một giới răn khác, hoàn hảo hơn.
Điều thứ hai đánh động dân chúng là đối diện với Đức Giêsu, các thần ô uế cảm thấy bị nguy hiểm nên cố gắng vùng vẫy và lẫn trốn: ‘một người bị thần ô uế nhập, la lên rằng: Ông Giêsu Nagiarét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Đối diện với Đức Giêsu không thể lẫn trốn, Đức Giêsu quát mắng nó: ‘Câm đi, hãy xuất khỏi người này! Ngài không chỉ có quyền trong việc giảng dạy mà còn có quyền trên các thần ô uế, và dân chúng bàn tán: ‘Thế nghĩa là gì?’.
Hãy cầu xin Chúa Giêsu tỏ mình cho chúng ta với hai uy quyền ấy. Ta xin ngài tỏ cho ta hiểu biết giáo lý của ngài hơn, mở lòng ta như hai môn đệ trên đường Emmaus hiểu ý nghĩa những lời Kinh thánh, và lột trần nơi ta những gì là xấu xa. Phép thanh tẩy giải thoát ta khỏi thần dữ, thế nhưng chắc chắn trong ta vẫn còn nhiều điều xấu: thần ganh tị, thần kiêu căng, thần ích kỷ…Ta cần nhờ Đức Giêsu xua đuổi chúng khỏi lòng ta, giải thoát ta khỏi sự dữ.
+++
Sau khi đã đặt mọi sự dưới quyền Ngài, Ngài không để lại điều gì không thuộc quyền Ngài. Dt 2:8
Thư gửi tín hữu Do Thái vẫn tiếp tục đến ngày nay, nhấn mạnh sự phục tùng của toàn thể tạo vật và toàn bộ lịch sử đối với Chúa Kitô. Sự Nhập Thể đã tách Con Thiên Chúa khỏi cõi vĩnh hằng, hạ mình Ngài xuống và đặt Ngài vào trong giới hạn của tạo vật, cho phép Ngài bước vào thế gian, và do đó vào một không gian và thời gian cụ thể. Sự vận động này cho phép cõi vĩnh hằng xâm nhập vào tạo vật và do đó khôi phục lại nguồn gốc ban đầu của nó. Sự phục tùng ở đây được hiểu là sự tái khám phá ý nghĩa và một mối quan hệ đích thực với nguồn gốc của mình. Tạo vật, đang đau khổ và rên rỉ trong khi chờ đợi sự cứu chuộc và được nhận làm con nuôi, nhìn thấy nơi Chúa Kitô sự chấm dứt nỗi đau của mình.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con đừng để cho muôn vật phải chịu đau khổ không đáng có. Sự cứu chuộc của Ngài ở cùng với chúng ta, và khi chúng ta nỗ lực trở thành sự lan tỏa ơn cứu độ trong thời đại này để Tin Mừng có thể đến với mọi người, thì việc quan tâm đến môi trường, yêu thương cây cối và động vật, và một nền văn hóa không lãng phí và không phá hoại cũng có thể là cách để chúng ta cho phép mọi sự quy phục Chúa Kitô, tìm thấy vẻ đẹp và ơn gọi trọn vẹn của chúng.
Lời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô: "Ngợi khen Chúa, lạy Chúa, qua Mẹ Trái Đất, người chị em của chúng ta, người đã nâng đỡ và cai quản chúng ta, người đã sinh ra nhiều hoa trái với muôn màu muôn vẻ." Người chị em này kêu than vì những tổn hại mà chúng ta gây ra cho Người qua việc sử dụng và lạm dụng vô trách nhiệm những của cải mà Chúa đã ban cho Người. Chúng ta lớn lên với suy nghĩ rằng mình là chủ nhân và người cai quản Người, được phép cướp bóc Người. Bạo lực trong trái tim con người, bị tổn thương bởi tội lỗi, cũng được biểu hiện qua các triệu chứng bệnh tật mà chúng ta cảm nhận được trong đất, trong nước, trong không khí và trong các sinh vật sống. Vì lý do này, trong số những người nghèo bị bỏ rơi và ngược đãi nhất là Trái Đất bị áp bức và tàn phá của chúng ta, đang "rên rỉ trong cơn đau đẻ" (Rm 8:22).
+++
1 Sm 1:18: Mặt ông không còn như trước nữa.
Chúng ta nên sống theo Lời này như thế nào? Một đoạn Kinh Thánh cho thấy sự phó thác hoàn toàn tin tưởng vào Đức Chúa. Trong nỗi đau buồn tột cùng, Anna không tìm kiếm sự an ủi từ những người, dù họ lắng nghe một cách tử tế nhưng không thể giúp đỡ bà, cũng không thu mình trong sự tự thương hại vô ích. Kiên quyết, tránh những lời nói dối vô ích, bà dâng nỗi đau khổ và lời cầu xin khiêm nhường của mình lên Đức Chúa. Rồi bà rút lui trong lòng tin tưởng. Liệu Đức Chúa có đáp lời bà không? Lúc này bà chưa chắc chắn, nhưng điều đó không làm bà phiền lòng: bà biết mình đã phó thác nỗi buồn của mình cho Đấng yêu thương bà vô cùng và có thể giúp đỡ bà: điều đó đủ để trấn an bà. Và câu trả lời sẽ đến, vượt quá mọi mong đợi của bà: người con trai đó sẽ là một món quà không chỉ dành cho bà mà còn cho toàn thể dân Israen, những người sẽ tìm thấy nơi Ngài một ánh sáng có khả năng soi sáng con đường của họ. Trong thái độ này, không hề giả tạo và tràn đầy sự phó thác tin tưởng, nằm ở cốt lõi của lời cầu nguyện: một mối quan hệ con cái với một Đức Chúa được nhận biết là Cha. Đây chính là bí mật của sự bình an sâu sắc mà những thăng trầm của cuộc đời không thể lay chuyển và lan tỏa một cách có lợi từ những người thành kính cầu nguyện.
Hôm nay, tôi sẽ cố gắng noi gương Anna trong sự phó thác khiêm nhường và tin tưởng của bà, trao phó cho Chúa tất cả những gì gần gũi nhất với trái tim tôi. Lạy Chúa, Ngài thấy, Ngài biết, Ngài có thể, và trên hết, Ngài yêu thương. Con xin dâng hiến mọi sự cho Ngài với lòng tin tưởng vô bờ bến và sự phó thác hoàn toàn. Từ nay trở đi, con xin tạ ơn Ngài vì tất cả mọi điều, bởi vì câu trả lời của Ngài sẽ là tình yêu thương. Lời của một người sáng lập và một giám mục. Cầu nguyện là ngôi sao dẫn đường cho con thuyền nhỏ bé của chúng ta giữa biển cả giông bão của cuộc đời.
Thứ Tư Tuần I Tn
Đức Giêsu thức dậy từ sáng sớm. Người đến một nơi thanh vắng để cầu nguyện. Các tông đồ tìm kiếm Người, khi gặp rồi Người nói với các ông: ‘Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng mạc chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó’.
Người đến để loan báo tin mừng nhưng lúc này, Người ra đi không phải để đến giữa đám đông dân chúng. Khi trời còn đang tối, Người đi tìm một nơi thanh vắng. Tin mừng viết: ‘Người cầu nguyện ở đó’. Thật đáng buồn có biết bao lần lời cầu nguyện được hiểu như là một lời cầu xin. Đối với đa số, khi nói đến cầu nguyện người ta nghĩ ngay đến cầu xin.
Đây là giây phút quyết định trong cuộc đời chúng ta khi ta hiểu rằng cầu nguyện trước tiên là việc thờ lạy. Nó được ví như những tấm pin mặt trời chỉ sản xuất ra năng lượng khi được đặt ra chỗ ánh sáng. Cầu nguyện trước tiên là thờ lạy, niềm vui này ta diễn tả bằng ngôn ngữ của tình yêu: ‘Chúng con cảm tạ Chúa’. Cảm tạ vì cái gì? Vì ơn huệ nào? Trong kinh Vinh danh: ‘Chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa’. Có chút gì đó giống như đứa bé sà vào lòng mẹ và âu yếm thưa: Má ơi, cám ơn Má, vì Má là Má của con! Cầu nguyện là sự tôn thờ thinh lặng đó; không cần nhiều lời.
Sự thờ lạy đó chắc chắn không tránh khỏi những lo lắng, vì chính vì đó mà chúng ta cần sự trợ giúp của Thiên Chúa. Làm sao ta có thể ở trong sự thờ lạy Chúa theo cách đó, nếu cùng lúc ta không bị thương tích, lo lắng bởi đủ thứ đau khổ vây quanh ta, hãy dâng cho Người những cố gắng thi hành những nhiệm vụ mà mình được mời gọi, những giải thoát mà ta đang cần, ta cũng như bao nhiêu người quanh ta?
Việc thờ lạy được diễn tả bằng lời nhưng đồng thời cũng bằng thinh lặng. Là một thinh lặng tràn đầy, mang theo mọi tiếng rên xuất phát từ lòng ta và từ những người xung quanh. Là lời cầu nguyện trong nghĩa đầy đủ chỉ khi được thực hiện trong thinh lặng, trong một sự hiện diện câm nín. Thỉnh thoảng người ta hay kể những mẩu chuyện về Cha thánh xứ Ars. Ngài ở lâu giờ trong phòng thánh để chuẩn bị kỹ lưỡng các bài giảng của Ngài, vì Ngài không được thông minh cho lắm. Ngài ngạc nhiên khi thấy cứ mỗi buổi chiều có anh nông dân, hết sức đơn sơ, không học thức, sau khi làm việc ngoài đồng về, bỏ guốc bên ngoài cửa, bước vào nhà thờ, đứng nép mình trong một góc thinh lặng lâu giờ. Có lần Cha thánh hỏi anh: ‘Này con, con làm gì ở đây vậy?’ Anh ta đáp: ‘Thưa cha, con nhìn Chúa và Chúa nhìn con’.
Người nông dân hết sức đơn sơ ấy đã đạt đến đỉnh cao hoàn thiện trong cầu nguyện. Hãy học điều ấy trước khi ta phải đối diện với những nhiệm vụ hằng ngày, hãy đặt mình, như Đức Giêsu ra ánh sáng để cho ta đầy tràn năng lượng, trong sự cầu nguyện đơn sơ của tình yêu và của sự thờ lạy: ‘Lạy Chúa, tạ ơn Chúa vì vinh quang cao cả Chúa’.
+++
Bài tin mừng hôm nay nêu bật hai chiều kích của đời sống trần thế của Đức Giêsu và sự kết hợp chặt chẽ của hai chiều kích đó. Chiều kích được thấy rõ ngay từ đầu là lòng thương xót của Người. Đức Giêsu tiếp cận với mọi cảnh huống khổ đau và lòng thương xót chính là: chạm đến mọi đau khổ và mang lại sự chữa lành. Sự chữa lành của lòng cảm thương. ‘Chiều đến, khi mặt rời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người. Cả thành xúm lại trước cửa’. Người cầm lấy tay những bệnh nhân: chính thân xác của Người thông ban sức mạnh chữa lành của Thiên Chúa.
Nhưng ta cũng gặp thấy Đức Giêsu ngay từ sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng, để cầu nguyện: đây là chiều kích khác của cuộc đời nhân thế của Người, tìm gặp Chúa Cha. Người cần phải thi hành những việc của Cha Người, cần phải kết hợp với Thiên Chúa và cầu nguyện lâu giờ. Nhưng lòng khao khát kết hợp với Thiên Chúa không ngăn cản Người đi đến với người khác; trái lại, khi họ tìm đến Người, Đức Giêsu không trả lời cho họ ‘ta cần thời gian để cầu nguyện’, nhưng: ‘Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng mạc chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó’. Cầu nguyện mang lại cho Người nhiệt huyết cao độ sống thương xót và nhân hậu, Người tìm gặp nơi trái tim của Chúa Cha nguồn mạch tình yêu mà Người phải trao ban cho mọi người.
Hai chiều kích trên ta gặp thấy nơi hai tính từ mà thư do thái áp dụng cho Đức Giêsu ‘vị thượng tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa’. Trung tín vì tương quan giữa Người với Thiên Chúa; nhân từ với mọi người và nhất là với tội nhân, vì Người đến để tha thứ, để xóa tội lỗi, để giúp con người chiến thắng những thử thách, ‘bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách’. Suốt cuộc đời trần thế, Đức Giêsu không có mục đích nào khác, theo thư do thái, là đưa đến mức hoàn thiện trong lòng Người mở rộng cho mọi người, lòng thương xót và sự kết hợp với Thiên Chúa là đấng làm cho Người nên trung tín.
Thư do thái trình bày cho ta một quan niệm mới về chức tư tế. Trong Cựu Ước người ta không nhấn mạnh đến lòng thương xót nhưng đến sự tách biệt: vị tư tế được tách biệt khỏi mọi người để thuộc về Thiên Chúa. Nhiều đoạn Cựu Ước tỏ cho ta thấy vị Thượng tế cần phải là người tách biệt cách không khoan nhượng khỏi tội lỗi và các tội nhân. Ngược lại Đức Giêsu không đặt mình bên trên chúng ta, nhưng cùng bình diện với chúng ta, đã mặc lấy tính xác thịt của ta, những đau khổ, những thử thách của ta cho đến cái chết để giúp đỡ ta. Người múc lấy lòng thương xót từ sự kết hợp với Thiên Chúa, nguồn mạch thương xót và trao ban cho ta. Đây là mạc khải lớn của mầu nhiệm nhập thể. Cựu ước đã nói về lòng thương xót của Thiên Chúa, nhưng sự nhập thể của Đức Giêsu chứng tỏ rằng Thiên Chúa đã muốn dùng một bản tính con người để có thể cảm thương nhiều hơn: Đức Giêsu đã động lòng thương, đã khóc, đã giận dữ, đã đau khổ để thực sự cảm thông với chúng ta.
Đây là lý do quan trọng để biết tri ân; ta biết rằng Chúa luôn gần bên chúng ta, bất cứ đau khổ nào, khó khăn nào, không bao giờ là ngăn trở giữa ta với Người nhưng là một cách thức kết hợp. do đó ta cần phải nhìn mọi sự trong cuộc đời mình mà hình như đôi lúc được xem như một vật cản, nhưng như một cách thức để lớn lên trong sự kết hợp với Thiên Chúa và trải lòng với mọi người. Đây là ân ban của ánh sáng để hiểu ra rằng các khó khăn, thường dễ làm ta nản lòng, trái lại gia tăng lòng tín thác của ta, vì chúng luôn đi kèm với ân sủng kết hợp đặc biệt với sự thương khó vinh quang của Đức Kitô và đồng thời biến ta liên đới với mọi người đau khổ. Đàng khác, hai bình diện này không thể tách biệt nhau vì khi kết hợp ta với sự thương khó của Đức Giêsu, ta có thể giúp những ai đau khổ, và trong tình liên đới với người đang đau khổ chúng ta thực sự kết hợp với Đức Kitô, đấng đã muốn đau khổ cùng với mọi kẻ khổ đau và tội lỗi.
+++
1 Sm 3:3-10; 19-20
Trong bài đọc thứ nhất của phụng vụ hôm nay, chúng ta được kể về sự kêu gọi nổi tiếng dành cho Sa-mu-ên, điều này không xảy ra ngay lập tức, như trường hợp của Áp-ra-ham hay bốn vị Tông đồ mà chúng ta đã thấy vào thứ Hai tuần trước, mà là một sự kêu gọi tiến triển dần dần, phát triển qua ba giai đoạn liên tiếp.
Nó bắt đầu bằng một lời kêu gọi bất ngờ ban đầu, vào ban đêm, khi " đèn của Đức Chúa Trời chưa tắt " và chàng trai trẻ đang nằm trong đền thờ Chúa (câu 3). Như trong mọi sự kêu gọi trong Kinh Thánh, sáng kiến luôn thuộc về Đức Chúa Trời; sự đáp lại của Sa-mu-ên rất nhanh chóng (" Con đây! "), nhưng vẫn còn mù quáng (" Anh chạy đến chỗ Ê-li và nói: 'Ông gọi con, con đây!'" ), và cuối cùng, chàng trai trẻ cảm thấy thất vọng (" Ta không gọi ngươi; hãy ngủ tiếp đi! ").
Một lời kêu gọi thứ hai được lặp lại ngay sau đó (trong câu 6-7), nhưng vẫn không có kết quả, bởi vì " Sa-mu-ên chưa biết Chúa, và lời của Chúa cũng chưa được tỏ cho ông ", và ông càng thất vọng và bối rối hơn trước.
Cuối cùng, trong lời kêu gọi thứ ba (câu 8-9), thầy tư tế Ê-li cảm nhận được tầm quan trọng của trải nghiệm mà Sa-mu-ên đang có, và hành vi của ông là hình mẫu của một người thầy dạy dỗ tâm linh đích thực, người giúp đỡ, nhưng không thay thế, trải nghiệm hoàn toàn mang tính cá nhân của chàng trai trẻ (" Nếu Ngài gọi ngươi, ngươi hãy nói: 'Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.'" )
Giờ đây, lời kêu gọi của Chúa đã trở nên dứt khoát và rõ ràng, và sự tuân phục của chàng trai trẻ sẽ trở nên chính xác và trưởng thành, đến nỗi phần kết của đoạn văn long trọng tuyên bố: " Sa-mu-ên lớn lên, và Chúa ở cùng ông, và không để một lời nào của ông rơi xuống đất ."
Hôm nay, tôi sẽ lấy lời cầu nguyện của Sa-mu-ên làm lời cầu nguyện của chính mình và lặp lại nó một cách kiên trì: " Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe ."
Lời của vua Sa-lô-môn: "Lạy Chúa, xin ban cho tôi tớ Chúa (Sa-lô-môn) một tấm lòng biết lắng nghe" (1 V 3:9).
Thứ Năm Tuần I Tn
Đức Giêsu chạnh lòng thương. Đây là một trong những vấn đề nan giải trong đời sống của Đức Giêsu: Người có khả năng chữa lành mọi bệnh tật, hay là chỉ chữa lành một vài bệnh, lúc này lúc khác. Ta hãy xin Chúa giúp làm sáng tỏ câu hỏi này: vì sao Đức Giêsu không chữa lành tất cả? Có lẽ Người không muốn rằng chúng ta chờ đợi Người làm những phép lạ để giải thoát con người khỏi mọi đau khổ: Người không muốn làm điều mà chính ta có bổn phận phải làm. Bệnh phong cùi vẫn còn phát triển tại nhiều nơi, nhưng nó là một bệnh có thể chữa lành: tùy thuộc vào chúng ta biết sử dụng mọi kỹ thuật, sự khôn ngoan, mọi nguồn lực con người để mang đến sự chữa lành. Đôi lúc trước khi ăn, ta nói: ‘Xin Chúa hãy ban lương thực cho những ai không có của ăn’. Chúa không làm tất cả thay cho chúng ta, nhưng Người luôn ở cùng chúng ta để chúng ta có sức mạnh phục vụ những người đau khổ.
+++
Ta hãy suy niệm những lời trong thư do thái: ‘Ngày hôm nay, nếu các ngươi nghe tiếng Chúa, thì chớ cứng lòng’ là lời khuyến dụ luôn cần thiết và quan trọng. Để hiểu rõ, cần biết rằng tiếng Chúa trước hết không phải là một lệnh truyền, nhưng là một lời hứa, và dựa vào đó mà chúng ta được khuyến khích: khi chúng ta nghe tiếng Chúa hứa, đừng khép kín lòng.
Thánh vịnh đáp ca liên tưởng đến thời Xuất hành, chính xác là lúc dân do thái đi xuyên qua sa mạc đến gần Đất Hứa. Môsê ra lệnh cho những người do thám những điều về miền đất này, về sự phong phú, dân cư và các thành thị, và khi những người do thám trở về, ông bảo mọi người rằng: ‘Thiên Chúa ban đất nước này cho anh em, hãy tiến lên mà chiếm lấy’: đó là lời hứa của Thiên Chúa. Một vùng đất, theo lời kể của những người do thám, chảy sữa và mật ong, với những vụ mùa bội thu: thật tuyệt vời. Đối với dân vừa trải qua vùng sa mạc thì đây quả là điều tuyệt vời. Và Thiên Chúa phán: ‘Nó thuộc về anh em, Ta ban cho anh em’. Còn hơn một lời hứa, là một quà tặng.
Lúc ấy người do thái lại nghe một tiếng nói khác. Bên cạnh tiếng của Thiên Chúa trình bày quà tặng của Ngài và mời gọi tiến vào, còn có tiếng nói của sự nghi ngờ, bất tín: ‘Chúng ta không thể lên đánh dân ấy, vì họ mạnh hơn chúng ta’. Và đây là lời của những người do thám, sau khi kể những điều tuyệt vời của xứ sở đó, họ còn thêm: ‘Dân ở đó hung tợn, thành trì của họ rất kiên cố, chúng ta chỉ là châu chấu đối với họ’. Và tin này loan truyền trong dân, thêu dệt đến độ sau cùng họ cho rằng các thành lũy của dân ấy cao ngất trời…Như thế, thay vì nghe tiếng Chúa, đón nhận quà tặng của Ngài, dân chúng nổi loạn: Thiên Chúa đã dẫn chúng ta qua sa mạc để đưa vào nơi chết chóc này. Thà cứ để chúng ta bên Aicập! Như thế họ đã thử thách Thiên Chúa, đã làm Ngài nổi cơn giận, họ không còn tin tưởng vào lời Chúa hứa nữa.
Và tình cảnh này được thư Do thái nhắc lại và tác giả khuyến khích chúng ta: ‘Anh em hãy đề phòng, đừng để người nào trong anh em có lòng dạ xấu xa chối bỏ đức tin mà lìa xa Thiên Chúa hằng sống. Trái lại, ngày ngày anh em hãy khuyên bảo nhau bao lâu còn được gọi là ngày hôm nay, kẻo có ai trong anh em ra cứng lòng vì bị tội lỗi lừa gạt’ (Dt 3, 12-13), nghĩa là do tiếng nói khác luôn len lỏi vào lòng ta làm cho ta không thể tin rằng lời hứa của Thiên Chúa là khả thi, là một lời hứa không thực, khó thực hiện, và Thiên Chúa không sẵn lòng ban cho ta điều ghi chép trong Tin Mừng. ‘Quả thật chúng ta đã được thông phần Đức Kitô’. Không phải với Môsê mà chúng ta thực hiện cuộc xuất hành của mình nhưng là cùng với Đức Kitô chúng ta ngang qua sa mạc cuộc đời để đạt đến đất hứa. Nhưng để không trở thành đối tượng cho cơn giận của Thiên Chúa, cần phải vững vàng trong đức tin, vì nếu ta không tin vào lời hứa của Thiên Chúa, lời hứa của Ngài trở thành một đe dọa, một lời xét đoán đáng sợ: ‘Chúng sẽ không được vào chốn yên nghỉ của ta’. Lời đe dọa của Thiên Chúa là một hành vi yêu thương, nhằm giải thoát ta khỏi nỗi sợ hãi xấu.
+++
“ Chúng ta hãy đi lấy hòm giao ước của Chúa từ Si-lô, để Ngài đến giữa chúng ta và giải cứu chúng ta khỏi tay kẻ thù chúng ta” (1 Sm 4:3) .
Israen bị người Phi-li-tin tấn công và chịu những thất bại nặng nề. Vậy thì đây là một quyết định quyết liệt: chúng ta hãy mang hòm giao ước ra chiến trường! Thoạt nhìn, đó có vẻ là một lời cầu xin đáng khen ngợi với Đức Chúa Trời. Nhưng trên thực tế, nó về cơ bản là sai lầm bởi sự giả vờ tinh vi nhằm uốn nắn Đức Chúa Trời theo lợi ích của riêng mình: “ Nguyện xin Đức Chúa Trời đến giữa chúng ta và giải cứu chúng ta khỏi tay kẻ thù chúng ta ”. Hòm giao ước không còn là dấu hiệu của một giao ước yêu thương vô điều kiện, mà là một bùa hộ mệnh. Niềm tin làm cho lời cầu nguyện trở nên chân thành đã bị thay thế bằng mê tín và ma thuật. Một nguy cơ luôn có thể xâm nhập và làm ô nhiễm mối quan hệ với Đức Chúa Trời, đặc biệt khi chúng ta bị dày vò bởi nỗi đau khổ và cảm giác bất lực. Đây là những khoảnh khắc khó khăn nhất, khi đức tin bị thử thách nghiêm trọng: chúng ta khao khát cảm nhận sự hiện diện của Chúa, cảm nhận hơi ấm bàn tay Ngài, nắm lấy nó. Sự im lặng của Ngài đè nặng lên chúng ta, và tiếng kêu trào dâng từ tận đáy lòng, một tiếng kêu tự nó đã là lời cầu nguyện, bị bóp nghẹt bởi sự tìm kiếm điên cuồng một cách để "dồn ép" Chúa. Niềm tin lung lay, và sự phó thác thanh thản biến mất. Chúng ta dùng đến mọi thứ: kinh cầu nguyện chín ngày, chuỗi hạt cầu nguyện, hành hương... Bản thân những điều này rất tốt, nhưng vô tình lại biến thành bùa hộ mệnh. Đây là những khoảnh khắc mà chúng ta phải nhớ rằng Ngài luôn ở giữa chúng ta, nhưng bằng sự lựa chọn tự do và tự nguyện của chính mình, Ngài luôn sẵn sàng đến giúp đỡ chúng ta, nhưng theo cách thức và thời điểm mà Ngài đã định. Hôm nay, tôi sẽ xem xét sự nhất quán trong lời cầu nguyện của mình để thanh tẩy nó khỏi bất kỳ sự thôi thúc nào, có lẽ là vô thức, nhằm thao túng Chúa để đạt được điều mà đối với tôi dường như là một điều tốt lành không thể thiếu. Giống như các tông đồ, con xin Chúa Giêsu dạy con cầu nguyện, vượt qua cám dỗ muốn nói với Chúa Cha điều Ngài phải làm. Tiếng nói của một vị thánh. Mọi lời cầu nguyện của chúng ta phải có điều kiện, không bao giờ xin Chúa bất cứ điều gì khác ngoài ý muốn yêu thương nhất của Ngài. (Thánh Maria Magdalena De'Pazzi)
Thứ Sáu Tuần I Tn
Lệnh truyền của Đức Giêsu với người bại liệt: ‘Đứng dậy!’ có lẽ cũng nhắc ta nhớ đến trình thuật sách Công Vụ trong đó thánh Phêrô nói với người què ăn xin ở cổng đền thờ: ‘Vàng bạc thì tôi không có; nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây: nhân danh Đức Giêsu Kitô người Nagiarét, anh đứng dậy mà đi’. Cả hai đoạn này không thể tách lìa nhau. Cũng như Đức Kitô, thánh Phêrô nói với người què đứng dậy mà đi, nhưng điều mà ngài nói trước đó còn quan trọng hơn nhiều: Vàng bạc thì tôi không có, nghĩa là không có những gì mà thông thường người đời cho là ‘giàu sang’. Có thể ta có nhiều của cải, quyền hành, chức tước nhưng lại nghèo trong tinh thần nếu luôn ý thức rằng mình mắc nợ điều mình sở hữu. Mỗi tối hãy xét mình: Tôi đã làm gì từ những quyền hành, những phương thế tôi có? Tôi có sẵn sàng dùng những điều đó để phục vụ cho những người thân của tôi hoặc những người đau khổ?
Lạy Chúa Giêsu, xin làm cho chúng con biết, ngay cả khi chúng con sở hữu thật nhiều, ý thức rằng chẳng có gì thuộc về chúng con cả, tất cả là của anh em, của người khác, của mọi người. Như thế ta có thể nói cách chắc chắn với với con người đau khổ, bị thương tích, giống như thánh Phêrô đã nói với người què: ‘Hãy đứng dậy mà đi’.
+++
«Vì chúng ta là những người đã tin thì được vào nơi an nghỉ ấy» Dt 4:3
Nhưng sự nghỉ ngơi của Chúa là gì? Bước vào đó có nghĩa là gì? Tác giả Thư gửi tín hữu Do Thái sử dụng cách diễn đạt này, lặp lại lời của Thánh vịnh 94, nơi sự nghỉ ngơi đồng nghĩa với vùng đất hứa và kết nối nó với sự sáng tạo nói chung, mà khi hoàn thành, Chúa đã nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Sự nghỉ ngơi của Chúa là sự chiêm nghiệm về sự hoàn thành công việc sáng tạo của Ngài. Đó là trạng thái hạnh phúc đến từ việc yêu mến vẻ đẹp của mọi thứ mang hình ảnh Ngài. Chúng ta có thể nói rằng đối với chúng ta, đó cũng là sự tham gia, sự tận hưởng vẻ đẹp của Nước Trời, chia sẻ quyền năng và lợi ích của nó. Sự nghỉ ngơi cũng là sự hài hòa, sự hòa giải, sự cân bằng được khôi phục, nhận thức và sự bình tĩnh về vẻ đẹp của chính mình và người khác. Một trạng thái tĩnh lặng không hàm ý sự lười biếng và bất động, điều này ổn định hành động và hướng dẫn sự tiếp tục của công việc sáng tạo.
Lạy Chúa, xin cho sự bình an của Ngài không chỉ là niềm hy vọng cho tương lai mà còn là đặc điểm nổi bật của hiện tại chúng con. Xin đừng để lo lắng, bất an và mệt mỏi chi phối cuộc sống và hành động của chúng con.
Và con người muốn ngợi khen Chúa, một phần nhỏ bé trong công trình sáng tạo của Chúa, mang trong mình số phận hữu hạn, mang trong mình bằng chứng về tội lỗi của mình và bằng chứng rằng Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo. Tuy nhiên, con người, một phần nhỏ bé trong công trình sáng tạo của Chúa, vẫn muốn ngợi khen Chúa. Chính Chúa là Đấng soi sáng cho con người niềm vui thích khi ngợi khen Chúa, bởi vì Chúa đã tạo dựng chúng con cho chính mình, và trái tim chúng con không yên nghỉ cho đến khi được an nghỉ trong Chúa. Xin cho con tìm kiếm Chúa, khẩn cầu Chúa, và khẩn cầu Chúa trong đức tin, bởi vì sứ điệp của Chúa đã đến với chúng con. Thánh Augustinô
+++
Hãy lập cho chúng tôi một vị vua để xét xử chúng tôi, như tất cả các dân tộc khác. 1 Sm 8:5
Trong giai đoạn lịch sử được mô tả ở đây, Israel bao gồm một tập hợp các chi tộc, được cai trị gián đoạn bởi một vài người được gọi là “Thủ Lãnh”. Sa-mu-ên là người cuối cùng trong số họ. Tuy nhiên, tình hình đang phát triển theo hướng hình thành một quốc gia thực sự. Về mặt chính trị, có một nhu cầu thực sự về một chính phủ tập trung.
Điều này là hoàn toàn tự nhiên, nhưng đoạn Kinh Thánh hôm nay cho thấy Sa-mu-ên do dự khi đối mặt với yêu cầu về một vị vua, nhận thấy đó là sự từ chối trắng trợn quyền tối cao tuyệt đối của Đức Chúa. Trên thực tế, yêu cầu này dường như bị ảnh hưởng bởi cụm từ “như tất cả các dân tộc khác”.
Israel cảm nhận tình trạng của mình như một dấu hiệu của sự thua kém và muốn xóa bỏ nó để giành được uy tín trước những người khác. Chính sự cám dỗ của vẻ bề ngoài có nguy cơ che khuất sự vĩ đại của bản thể, bắt nguồn từ việc thuộc về Đức Chúa. Một cám dỗ không chừa một thế kỷ nào và không một nơi nào trên trái đất, len lỏi một cách ngấm ngầm ở mọi cấp độ: quốc gia, gia đình, cá nhân.
Thật kỳ lạ khi thấy nhu cầu nổi bật, thậm chí trở nên lập dị, lại cùng tồn tại một cách hòa bình với nhu cầu trung thành với quan niệm "ai cũng làm vậy". Và chúng ta có nguy cơ đánh mất phần quý giá nhất của chính mình: điều làm nên sự khác biệt và độc đáo của chúng ta.
Hôm nay, tôi muốn nhìn nhận cách tôi sống đời sống Kitô giáo của mình: liệu tôi có cố gắng che giấu nó bằng cách hòa nhập với những người sống như thể Chúa không tồn tại, hay tôi làm chứng cho nó với sự giản dị khiêm nhường?
Xin Chúa cho con biết rằng, để có men và muối, người ta chắc chắn phải hòa mình vào bột, nhưng không được đánh mất đặc tính của men và muối.
Thứ Bảy Tuần I Tn
Thánh Antôn (khoảng 250-356) nghe tiếng Chúa mời gọi đã theo Người sống cuộc đời trong sa mạc: ‘Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo’ (Mt 19,21); ‘Anh em đừng lo lắng về ngày mai’ (Mt 6,34). Gương sáng của thánh nhân lan rộng khắp nơi và Giáo Hội biết đến nhờ thánh Athanasiô. Thánh nhân được xem như tổ phụ các tu sĩ và các hình thức tu trì. Người rất nhạy bén với những vấn đề thời đại mình, đã cộng tác với các vị trách nhiệm đạo, đời để lo cho ích chung. Dân Copt, Siri và Bizantine kỷ niệm ngày sinh nhật vào Nước Trời của ngài vào ngày 17 tháng Giêng hàng năm.
+++
Là tin mừng của lòng thương xót. Nơi Thiên Chúa, công bình và thương xót không thể tách rời nhau. Ta nhận thấy điều ấy khi Đức Giêsu ngỏ lời với bọn biệt phái (là những người tưởng mình là người cao trọng và hoàn hảo): ‘Những người thu thuế và gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông’. Như thế Chúa đã kêu gọi một người thu thuế (Lêvi) đến họp chung với nhóm tông đồ là những người đã ở với Người. Đức Kitô không dành riêng cho những người trí thức, cho các tiến sĩ luật, cho những người tuân giữ lề luật cách tỉ mỉ. Câu nói của Người sau đây mang lại cho ta niềm vui và hy vọng: ‘Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần; tôi không đến kêu gọi người công chính mà để kêu gọi người tội lỗi’. Tất cả chúng ta đều bị thương tích và bệnh tật. Lạy Chúa, xin làm cho chúng con đừng bao giờ oán giận người khác. Xin làm cho chúng con, ở giữa một nhân loại đau thương, nên những chứng nhân của Thần Khí Người và loan báo tin mừng Người, không chỉ bằng lời nói mà còn bằng hành động nữa.
Đức Giêsu đến để kêu gọi những người tội lỗi
Tin mừng ngày hôm qua cho ta thấy cuộc xung đột đầu tiên xoay quanh đề tài quyền tha tội (Mc 2,1-12). Tin mừng hôm nay chúng ta suy tư về xung đột thứ hai khi Chúa Giêsu đồng bàn cùng với những người 'tội lỗi' (Mc 2, 13-17). Thập niên 70, khi Mátcô viết Tin Mừng, trong các cộng đoàn kitô đã xảy ra cuộc xung đột giữa các kitô hữu gốc ngoại giáo và các kitô hữu gốc do thái. Các kitô hữu gốc Do thái khó chấp nhận việc vào nhà những người ngoại giáo trở lại và đồng bàn với họ (Cv 10,28; 11,3). Khi diễn tả cách xử sự của Chúa Giêsu, Mátcô đã đề ra cách giải quyết vấn nạn cho các cộng đoàn.
Đức Giêsu giảng dạy và dân chúng thích thú lắng nghe Ngài. Theo Tin Mừng thánh Mátcô, khởi đầu hoạt động của Đức Giêsu được ghi nhận bằng việc giảng dạy và bằng việc đón nhận của dân chúng (Mc 1,14.21.38-39; 2,2.13) bất chấp những phản đối của giới lãnh đạo tôn giáo. Đức Giêsu đã dạy gì? Ngài loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa (Mc 1,14). Nói về Thiên Chúa, nhưng Ngài nói một cách hết sức mới mẽ. Khởi đi từ chính kinh nghiệm của riêng Ngài, kinh nghiệm của Ngài với Thiên Chúa và kinh nghiệm cuộc sống. Đức Giêsu sống trong Thiên Chúa. Và quả thật Ngài đã đánh động con tim của dân chúng, họ thích thú nghe Ngài (Mc 1,22.27). Thiên Chúa, thay vì là một quan toà nghiêm khắc, luôn đe doạ bằng hình phạt, hoả ngục, đã được trình bày cách mới mẽ như là một hiện diện thân thiện,Tin Mừng cho mọi người.
Đức Giêsu không đến để kêu gọi những người công chính, mà để kêu gọi những người tội lỗi. Thái độ này gây phẫn nộ nơi giới lãnh đạo tôn giáo. Cấm không được đồng bàn với người thu thuế và người tội lỗi, bởi lẽ ngồi đồng bàn với ai là ngụ ý xem người ấy như anh em. Thay vì nói thẳng với Đức Giêsu, các luật sĩ và biệt phái lại nói với các môn đệ ngài: Sao ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi? Đức Giêsu trả lời: Người khoẻ mạnh không cần đến thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi những người công chính, mà để kêu gọi những người tội lỗi. Cũng như trước đây với các môn đệ (Mc 1,38), giờ đây ý thức sứ vụ của Đức Giêsu giúp ngài tìm ra câu trả lời và chỉ rõ con đường loan báo Tin Mừng.
Đức Giêsu kêu gọi làm môn đệ của ngài một người tội lỗi, một người thu thuế, hạng người bị dân chúng ghét bỏ. Qua thái độ đó, đâu là sứ điệp Đức Giêsu muốn gởi đến chúng ta, đến Hội Thánh công giáo? Đức Giêsu đến để kêu gọi những người tội lỗi. Có những luật lệ, thói quen trong cộng đoàn (Hội Thánh, xứ đạo…) ngăn cản người tội lỗi đến với Đức Giêsu? Chúng ta có thể làm gì để thay đổi?
+++
Dt 4:12-16
Hình ảnh “thanh gươm hai lưỡi” thu hút sự chú ý của chúng ta. Hình ảnh này rõ ràng rất sắc bén trong việc giúp chúng ta hiểu được sức mạnh và chiều sâu của Lời Chúa. Lời Chúa thấm sâu vào tận đáy lòng, vào chính bản thể của chúng ta. Lời Chúa “sống động” và “phân biệt được tư tưởng và ý định trong lòng”. Trong hành trình đời sống kitô của chúng ta, điều thiết yếu là Lời Chúa phải có một vị trí không thể thay thế. Các tác giả Thánh vịnh đã nói điều này, kể cả trong Thánh vịnh 118:14, “Lời Chúa là đèn soi chân con, là ánh sáng dẫn đường con”. Gặp gỡ Lời Chúa nuôi dưỡng đời sống đức tin của tôi, đưa tôi đến gần hơn với việc biết Chúa Kitô, và ban cho tôi ánh sáng để bước đi trong đường lối của Ngài. Lời của Thánh Phaolô củng cố niềm tin chắc chắn của chúng ta rằng Lời Chúa là Sự Sống trong chúng ta và soi sáng một thực tại khác: ánh mắt của Chúa trên chúng ta. Thật vậy, đoạn Kinh Thánh kết thúc bằng lời mời gọi hãy đến gần "ngai ân điển với lòng tin tưởng trọn vẹn, để nhận lãnh lòng thương xót và tìm được ân sủng giúp đỡ trong lúc cần thiết." Vì vậy, chúng ta được mời gọi "giữ vững đức tin của mình," để đến gần Lời Chúa và các bí tích.
Lạy Chúa Giêsu, xin khơi dậy trong con lòng khao khát Lời Chúa và ước muốn thường xuyên lãnh nhận các bí tích.
Lời Đức Giáo Hoàng Phanxicô: "Đức tin của chúng ta không chỉ tập trung vào một cuốn sách, mà còn vào lịch sử cứu độ và trên hết là vào một Ngôi Vị, Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa nhập thể."
+++
Đây là người ta đã nói với các ngươi; người ấy sẽ cai trị dân ta." Sm 9:17
Đức Chúa chấp nhận lời thỉnh cầu của dân Israen về một vị vua và chính Ngài bổ nhiệm người đó từ giữa các chi tộc nhỏ nhất. Thực tế, đây không phải là sự công nhận uy tín cá nhân, hay sự ban tặng vinh dự nhằm mang lại uy tín cho cá nhân đó, mà là một sứ mệnh được giao phó cho nhà vua vì dân của Đức Chúa. Trung tâm không phải là Saulê, mà là Israen.
Thật vậy, trong một câu bị lược bỏ khỏi phụng vụ hôm nay, câu thứ 16, Đức Chúa, khi nói với Sa-mu-ên, phán rằng: " Ta sẽ sai một người từ xứ Bên-gia-min đến với ngươi, và ngươi hãy xức dầu cho người ấy làm người lãnh đạo dân Israen của ta. Người ấy sẽ giải cứu dân ta khỏi tay người Phi-li-tinh, vì ta đã đoái nhìn dân ta, bởi tiếng kêu than của chúng đã thấu đến ta ." Ba lần lời này được nhắc lại rằng Israen là và vẫn là dân của Đức Chúa, những người chăm chú theo Ngài, lắng nghe tiếng kêu than của Ngài và can thiệp kịp thời. Việc chọn vua là để bảo vệ dân chúng khỏi mối đe dọa từ người Phi-li-tinh.
Biến việc thực hiện nhiệm vụ thành sự phô trương quyền lực và thay thế lợi ích chung bằng lợi ích cá nhân, ở bất kỳ cấp độ nào, là một sự sai lệch mà Chúa Giê-su cảnh báo chúng ta, chỉ ra con đường phục vụ.
Trước khi chỉ trích những trung tâm quyền lực rõ ràng nhất, hôm nay tôi sẽ cố gắng kiểm tra xem mình có thực hiện nhiệm vụ với thái độ phục vụ hay không và liệu cám dỗ của lợi ích tham vọng có len lỏi vào hay không.
Chúa Giê-su, Ngài nói rằng Ngài đến không phải để được phục vụ mà để phục vụ; xin giúp con noi theo thái độ của Ngài trong việc thực hiện trách nhiệm của con trong gia đình, nơi làm việc, trong chính trị...
Tiếng nói của một vị tử đạo: Không thể có sự phân biệt giữa quyền của Thiên Chúa và quyền của con người. Khi chúng ta nói về nhân quyền, chúng ta đang nghĩ về con người như hình ảnh của Thiên Chúa, chúng ta đang bảo vệ Thiên Chúa... Và sau đó chúng ta phải quan tâm đến sự tiến bộ của tất cả mọi người. Oscar Romero
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn








In illo uno unum: Thánh Augustine, ĐGH Lêô XIV và khát vọng hiệp nhất - Thomas Harmon
Giáo xứ Khiết Tâm:Thánh lễ tạ ơn và chia tay của cha phó Phêrô.
"Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian."
Tài liệu cho Tuần cầu nguyện cho các Kitô hữu hiệp nhất - Năm 2026
An ninh mạng: Tầm nhìn chiến lược giữa công nghệ, khả năng chống chịu và văn hóa an ninh