Đời sống mới trong Đức Kitô - Bài 7. Lương tâm, bài 8. Nhân đức và bài 9. Khôn ngoan

Chủ nhật - 26/11/2017 22:02  2126
HIỂU SÁCH GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
Phần III: ĐỜI SỐNG MỚI TRONG ĐỨC KITÔ
Bài 7. LƯƠNG TÂM
“Ông đã hành động theo tiếng lương tâm của mình”. Đây là tựa đề cuốn sách tự thuật của Franz Jagerstatter, một người Áo đã viện dẫn lý do tôn giáo để khước từ việc gia nhập quân ngũ, và vì thế đã bị Đức quốc xã giết chết. “Bạn nên làm theo tiếng lương tâm”, chúng ta vẫn nói thế, và điều đó đúng. Thế nhưng phải chăng lương tâm lúc nào cũng đúng? Nó cũng có thể bị sai lầm chứ. Nếu thế, chẳng lẽ chúng ta vẫn phải làm theo? Ra trước tòa án, viện dẫn lương tâm mà thôi thì không đủ. Phải chăng lương tâm là tòa án cao nhất, thẩm phán tối cao?
Lương tâm là gì? Hãy thử tiếp cận bằng cách xem xét điều ngược lại. Chúng ta nói rằng “Người này vô lương tâm” khi thấy người đó khai thác, bóc lột những người dưới quyền mình. Và chúng ta tự hỏi: Lương tâm của ‘thằng cha’ này có áy náy chút nào không? Nếu người đó không bị cắn rứt gì, chúng ta cảm thấy một sự mất mát nghiêm trọng về nhân tính nơi con người đó.
Rõ ràng lương tâm là một thứ tòa án, một cơ quan bên trong, từ đó chúng ta cảm nhận sự ưng thuận hay khước từ, phán đoán tích cực hay tiêu cực về thái độ và hành động của con người (GLHTCG số 1778). Sự vắng mặt của cơ quan này là một thiếu sót nghiêm trọng. Đồng thời, chúng ta cảm thấy không thể chấp nhận một người có những hành động phi nhân, mà lại cho rằng mình làm theo tiếng lương tâm. Nếu có ai đó tra tấn người khác mà lại bảo là họ làm theo tiếng lương tâm, thì hoặc là người đó bị bệnh tâm thần, hoặc là quái vật.
Ví dụ trên đây cho thấy một yếu tố quyết định: lương tâm không thể chỉ là cái gì đó thuần túy chủ quan, ‘tôi theo lương tâm của tôi, anh theo lương tâm của anh’. Hiển nhiên là chúng ta mong muốn rằng nơi mọi lương tâm, Cái Thiện phải chiến thắng và Cái Ác bị loại trừ. Đây chính là điều mà chúng ta nhắm tới khi kêu gọi người khác hành động theo lương tâm. Nghĩa là mong muốn rằng trong tâm hồn họ vang lên tiếng nói của Cái Thiện và họ hành động theo tiếng nói đó.
Như thế chúng ta sẽ hiểu rõ hơn điều mà Vatican II nói về lương tâm: “Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà chính con người không tự đặt ra cho mình, nhưng con người phải tuân theo lề luật đó. Tiếng nói của lề luật đó luôn luôn kêu gọi con người yêu mến và làm điều tốt cũng như tránh điều xấu, vào lúc cần thiết, tiếng nói đó vang lên trong trái tim con người…” (GLHTCG 1776).
Để nghe được tiếng nói này, lương tâm cần được huấn luyện (số 1783). Khi nói về một người có “lương tâm tinh tế”, đó là lời khen về mặt luân lý. Qua đó, chúng ta muốn nói rằng người đó nhạy bén với những gợi ý nhẹ nhàng nhất của lương tâm.
Một khía cạnh khác của việc huấn luyện lương tâm là sự phân biệt giữa tiếng gọi đích thực của lương tâm với những mặc cảm tội lỗi (số 1784). Đâu thực sự là tiếng lương tâm chân chính và đâu là phản ánh của dư luận và thói quen của thời đại? “Trong việc huấn luyện lương tâm, Lời Chúa là ánh sáng soi đường cho chúng ta. Chúng ta phải để cho Lời Chúa thấm vào đức tin và kinh nguyện, và phải đem ra thực hành. Chúng ta cũng phải kiểm điểm lương tâm bằng cách nhìn lên thập giá của Chúa. Các hồng ân của Chúa Thánh Thần trợ giúp chúng ta, chúng ta còn được trợ giúp bởi lời chứng và lời khuyên nhủ của những người khác, và được hướng dẫn bởi đạo lý của Hội Thánh được trình bày một cách có thẩm quyền” (số 1785).

Bài 8. NHÂN ĐỨC
Từ bài đầu cho đến nay, chúng ta đã tự hỏi xem cái gì làm cho một việc, một hành động nhân linh thành tốt, và chúng ta đã bàn đến những nền tảng liên quan đến luân lý tính nơi con người: tự do, lương tâm, quyết định đúng đắn, trật tự những đam mê. Tuy nhiên vẫn còn một nền tảng nữa phải quan tâm. Cái gì làm cho chúng ta có thể gọi là tốt, không những một hành vi riêng lẻ nào đó nhưng là chính con người? Điều gì làm nên một người tốt?
Liệu có người tốt thật không? Chúa Giêsu đã chẳng nói rằng: “Nếu các ngươi, vốn là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái những của tốt lành…”sao? (Lc 11,13). Và “Tại sao anh gọi tôi là tốt lành? Không ai tốt lành cả, ngoại trừ Thiên Chúa” (Lc 18,19). Thêm nữa, “Nếu chúng ta nói rằng mình không có tội, thì chúng ta lừa dối chính mình” (1Ga 1,8).
Dĩ nhiên điều đó không có nghĩa là nơi con người, không có chút gì là tốt, mà toàn cái xấu. Chính Chúa Giêsu gọi Nathanael là người “không có gì gian dối” (Ga 1,47). Thánh Kinh mô tả nhiều người là “công chính”, chẳng hạn, thánh Giuse (Mt 1,19), ông Zacaria và bà Êlisabét (Lc 1,6), và cụ Simêon (Lc 2,28). Nói như thế không có nghĩa là các ngài hoàn toàn không có chút lỗi lầm nào, nhưng muốn nói các ngài không gian dối, không có những thói làm cho con người thành xấu xa.
Đây chính là một phần trong cách hiểu của Kitô giáo về con người, về đạo đức: Chỉ một mình Thiên Chúa được gọi là “tốt lành” theo nghĩa tuyệt đối, nhưng cũng không vì thế mà làm người là xấu! Hiện hữu, ở tự nó, đã là điều tốt lành. Đó là xác tín nền tảng của đức tin Kitô giáo vào Thiên Chúa Tạo Hóa, vào sự tốt lành của công trình tạo dựng (GLHTCG số 299).
Trong trường hợp con người, dĩ nhiên sự “tốt lành” không chỉ được đảm bảo đơn thuần bằng việc chúng ta dự phần vào sự tốt lành nơi Thiên Chúa, nhưng chúng ta còn phải đem ra thực hành trong đời sống. Cái gì làm cho một người thành người tốt? Không chỉ ở sự kiện là con người đó hiện hữu, mặc dù mọi thụ tạo, xét như được Thiên Chúa tạo dựng, đều có sự tốt lành nội tại (số 339).
Sự tốt lành nơi con người còn liên hệ đến việc người đó vun trồng cái tốt thành điều vững chắc và bền lâu. Đây chính là điều mà truyền thống Kitô giáo gọi là “nhân đức”.
Ngày nay, nói như thi sĩ Paul Valéry, “Từ ‘nhân đức’ chỉ còn gặp được trong sách Giáo Lý và các vở kịch”. Lại càng thêm lý do cho chúng ta khám phá lại ý nghĩa cao cả và sâu xa của từ ngữ này.
Thánh Tôma định nghĩa rất đơn giản: nhân đức là “cái làm cho một người thành tốt”. Nhân đức khiến cho một người không những làm điều này điều kia tốt, nhưng còn là nên người tốt. Nhân đức là những thái độ vững chắc, những xu hướng kiên trì, trở nên như bản tính thứ hai nơi người tốt (số 1804). Có được những thái độ và xu hướng này là nhờ tập luyện hoặc đón nhận như ân sủng. Những nhân đức nhân bản và Kitô giáo, gồm 4 nhân đức trụ và 3 nhân đức đối thần, là những đề tài sẽ được bàn đến trong các bài kế tiếp.

Bài 9. KHÔN NGOAN
Khôn ngoan được nhắc đến đầu tiên trong các nhân đức. Nhưng lại một lần nữa, thật khó cho chúng ta ngày nay khi bàn đến từ ngữ cũng như nội dung các nhân đức. “Khôn ngoan” thường bị hiểu theo nghĩa tiêu cực, là cẩn trọng quá đáng, có khi còn bị đồng hóa với nhút nhát, sợ sệt, kể cả tráo trở, lừa đảo. Như thế, phải chăng tốt hơn là đừng bàn đến nữa? Ngược lại, chính vì thế mà cần tìm hiểu để nắm được ý nghĩa đích thực của nhân đức này.
Các nhân đức là những “năng lực thực hiện”. Một nghệ nhân làm chủ được cây cọ trên tay hoặc một nghệ sĩ chơi piano tuyệt hảo là những người có “năng lực thực hiện”, nghĩa là thể hiện kỹ năng của họ cách khéo léo, nhẹ nhàng, dù họ phải tập luyện nhiều mới đạt được. Các nhân đức là những năng lực giúp chúng ta mau mắn làm điều đúng, đến độ trở thành tự nhiên và mang lại niềm vui (GLHTCG 1804).
Khôn ngoan là năng lực nắm bắt thực tại cách đúng đắn rồi đưa ra quyết định và thực hiện cách thích hợp. Cả hai khía cạnh này đều là thành phần của nhân đức khôn ngoan. Để có thể hành động cách đúng đắn về mặt luân lý, chúng ta phải nắm bắt thực tại cách đúng đắn.
Ngày nay người ta thường trình bày luân lý khởi đi từ những bó buộc luân lý, từ những điều răn, từ bổn phận. Cách trình bày như thế có thể tách biệt những bó buộc luân lý với chính thực tại, nghĩa là tôi phải làm chu toàn bổn phận vì đó là bổn phận, chứ không phải vì đó là cách hành xử thích hợp với chính thực tại. Luân lý kinh điển của Kitô giáo cống hiến một cách nhìn khác: Để làm điều tốt, chúng ta phải nhận biết thực tại.
Người khôn ngoan trước hết là người nắm bắt thực tại cách chính xác. Do đó, một thành phần của khôn ngoan là việc tìm lời khuyên, nghĩa là lắng nghe những người có hiểu biết và kinh nghiệm. Mở ra với thái độ sẵn sàng lắng nghe – nhất là trân trọng Thiên Chúa và Lời của Ngài – chính là thành tố của khôn ngoan.
Khía cạnh thứ hai của khôn ngoan là đáp ứng thực tại cách đúng đắn và thích hợp. Điều này đòi hỏi trước hết sự xem xét cẩn trọng, suy nghĩ kỹ lưỡng và bàn hỏi với những người có kinh nghiệm. Cũng cần có khả năng phân biệt ý kiến tốt với ý kiến xấu. Do đó, khôn ngoan song hành với lương tâm (số 1806).
Bước cuối cùng và rất quan trọng của khôn ngoan: sau khi đã xem xét kỹ lưỡng thực tại và những đòi hỏi của nó, người khôn ngoan đưa ra quyết định, đồng thời kiên quyết thực hiện quyết định đó bằng phương thế chính đáng. Bởi lẽ, sự khôn ngoan được thể hiện nơi hành động đúng đắn. “Xem, xét, làm”: mọi nhân đức đều đòi hỏi những bước như thế, cách riêng là nhân đức khôn ngoan. Do đó, khôn ngoan dẫn đường cho những nhân đức khác.

 ( Còn tiếp )
 
ĐHY Christoph Schönborn
Nguồn: hdgmvietnam.com

 Tags: chúng ta

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

ducchasi
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập106
  • Máy chủ tìm kiếm16
  • Khách viếng thăm90
  • Hôm nay26,580
  • Tháng hiện tại353,051
  • Tổng lượt truy cập65,645,181

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây