HIỂU SÁCH GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
Phần III: ĐỜI SỐNG MỚI TRONG ĐỨC KITÔ
Bài 10. CÔNG BẰNG
Đức công bằng liên quan đến hành xử đúng đắn với tha nhân. Do đó, trong đời sống xã hội, đây là thái độ nền tảng. Công bằng là trả lại cho người lân cận những gì chúng ta mắc nợ họ (GLHTCG 1807). Vì không ai chỉ sống cho mình, nên nhân đức làm nền tảng cho đời sống chung cũng là nhân đức nền tảng. Trong giáo huấn Công giáo về các nhân đức, đức công bằng được khai triển theo 3 hướng.
Trước hết là sự công bằng giữa các cá nhân, gọi là Công bằng giao hoán. Theo đó, người chủ mắc nợ nhân viên tiền lương thích hợp, ngược lại nhân viên nợ ông chủ công việc phải làm tương xứng. Cha mẹ mắc nợ con cái sự chăm sóc và nâng đỡ, con cái nợ cha mẹ sự kính trọng; vợ chồng nợ nhau sự tôn trọng và giúp đỡ. Nói thế, phải chăng là quá tính toán, biến mọi sự thành công việc? Tình yêu, lòng thương xót, sự nhân hậu lại chẳng quan trọng hơn công bằng sao?
Dĩ nhiên khi nói đến những việc trên, cần phải nhìn trong tương quan liên vị và những bổn phận phải có đối với nhau. Đúng là công bằng không phải là tất cả. Không có tình yêu thì cuối cùng cũng chẳng có công bằng. Thế nhưng không có công bằng nền tảng thì cũng không có tình yêu.
Hình thức thứ hai của công bằng liên quan đến hành xử của xã hội đối với các cá nhân, gọi là Công bằng phân phối. Đây là nhiệm vụ riêng của chính quyền, Nhà nước, cũng như của những xã hội nhỏ hơn. Những gì cá nhân không thể làm một mình thì xã hội phải giúp đỡ. Một người đã dành cả đời làm việc cho xã hội có quyền đòi hỏi xã hội phải trợ giúp khi bị bệnh hoặc khi về già. Nếu nguồn lợi của xã hội eo hẹp thì công bằng phân phối đòi hỏi phải làm sao để những thành phần yếu trong xã hội không phải mang gánh nặng quá lớn, không thể chỉ quan tâm người mạnh mà bỏ quên kẻ yếu.
Hình thức thứ ba liên quan đến công bằng của cá nhân đối với xã hội xét như một toàn thể, gọi là Công bằng pháp lý. Mỗi người trong xã hội đều có trách nhiệm với công ích, và công ích phải được quan tâm trước những lợi ích cá nhân hoặc nhóm. Những chương trình xã hội chỉ có thể tiến hành nếu từng cá nhân đóng góp vào công ích.
Còn nhiều điều phải nói về 3 hình thức công bằng nói trên. Điều quan trọng ở đây là phải có cả 3 thứ công bằng đó, chúng ta mới có cái nhìn toàn diện về công bằng. Điều quan trọng nữa là: để có được cả 3 thứ công bằng trên, cần có những con người công chính, ngay thẳng. Xã hội và công ích chỉ phát triển nhờ những con người như thế. Chính vì thế, hình thức sâu xa nhất của đức công bằng là thái độ của chúng ta đối với Thiên Chúa: “Trả lại những gì chúng ta mắc nợ với Thiên Chúa” (x. 1807). Chúng ta mắc nợ Chúa mọi sự, cụ thể là tất cả sở hữu và hiện hữu của mình. Thật vậy, chính từ Chúa mà chúng ta có những gì đang có vì “Vương quốc Chúa vô biên, Vương quyền Người vô tận”.
Bài 11. CAN ĐẢM
Sự dữ và quyền lực sự dữ đang có mặt trong đời. Sự thiện không chiến thắng cách tự động, máy móc. Trong cuốn Thành trì của Chúa, thánh Augustinô nói rằng nhân đức can đảm là bằng chứng hiển nhiên về điều này. Không có công lý nào mà lại không đòi hỏi chấp nhận gian khổ, thù nghịch, hiểm nguy, đôi khi cả sự bách hại. Sẵn sàng đứng lên bênh vực cho những gì tốt lành, dù bị chống đối, chúng ta gọi đó là can đảm.
Quyền lực sự dữ thật đáng sợ. Âu lo và sợ hãi là những phản ứng thường tình của con người khi đối diện những gì đe dọa chúng ta. Người không biết sợ là người thiếu mất “cơ quan” cảnh báo chúng ta trước những nguy hiểm. Ai đó, vì kiêu căng hoặc ngu dốt, không nhìn thấy những nguy hiểm, thì người đó gây nguy hiểm cho chính mình và người khác cách nghiêm trọng. Do đó, liều lĩnh không phải là can đảm, đúng hơn là ngược lại. Cũng vì thế, can đảm hệ tại ở chỗ tìm kiếm liều lượng thích hợp khi đối diện với những nguy hiểm, chứ không ngạo mạn hoặc coi thường.
Mục đích chính của can đảm là “kiên trì và quyết tâm theo đuổi điều thiện giữa những khó khăn trong đời” (GLHTCG số 1808). Nói cách cụ thể là vượt qua nỗi sợ hãi trước những khó khăn cản đường sự thiện. Nỗi sợ hãi này có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Có nỗi sợ hãi có lý do nhưng cũng có sự sợ hãi vô cớ. Nhân đức can đảm liên quan đến việc sắp xếp cho đúng trật tự, tìm xem những gì chúng ta phải sợ và những âu lo cần phải vượt qua.
Cách cụ thể, nhân đức can đảm liên quan đến những “tính toán thế gian”. Rất dễ hiểu khi một người, vì sợ mất công ăn việc làm, mà câm lặng trước sự bất công đồng nghiệp phải chịu. Trong những trường hợp như thế, chăm sóc cho gia đình và cho sự an ninh bản thân dẫn chúng ta đến những xung đột làm tâm hồn mất bình an. Trong những chế độ độc tài, những chuyện trên thường xuyên xảy ra; tuy nhiên ngay cả trong xã hội ngày nay, điều đó cũng vẫn xảy ra, dù ít bi thảm hơn. Vậy phải tìm sự quân bình ở đâu?
Chính Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn, hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10,28). Chúng ta có thể mất mọi sự: sức khỏe, hạnh phúc, danh thơm tiếng tốt, tài sản. Sợ mất những điều này là chuyện thường tình của con người và là điều đúng chứ không sai; thế nhưng điều quan trọng là đừng để nỗi sợ hãi đó quyết định mọi sự. Chỉ có một điều duy nhất tuyệt đối đáng sợ, là do tội lỗi mà chúng ta đánh mất chính mình mãi mãi, bị xa cách Thiên Chúa mãi mãi. Chúng ta vẫn thầm thĩ cầu nguyện trước khi rước lễ: “Xin đừng để chúng con lìa xa Chúa bao giờ”.
Do đó, nhân đức can đảm được khơi nguồn từ niềm “kính sợ Chúa”, để không làm mất đi điều quý giá nhất trên đời là lòng yêu mến Chúa. Cũng vì thế, tử đạo được xem là sự can đảm tuyệt hảo: thà hi sinh của cải thế gian và cả mạng sống, hơn là khước từ tình yêu và sự trung thành với Thiên Chúa.
Cũng ở đây, rực sáng lên điều cốt lõi: tình yêu là thước đo mọi nhân đức.
Bài 12. TIẾT ĐỘ
Đứng hàng thứ tư trong các nhân đức trụ là đức tiết độ, trong tiếng La tinh là temperantia. Những từ temperature (thời tiết) và temperament (tính khí) đều có cùng một gốc temperare, nghĩa là sắp xếp, đưa vào trật tự, nhưng cũng có nghĩa là đặt giới hạn, điều tiết.
Mọi nhân đức đều liên quan đến trật tự và sự cân xứng. Đức khôn ngoan liên quan đến phán đoán đúng đắn về thực tại. Đức công bằng liên hệ đến ứng xử thích hợp với tha nhân. Đức can đảm liên quan đến sự vững vàng khi đối diện nguy hiểm. Đức tiết độ liên quan đến liều lượng thích hợp trong hành động của con người nơi chính bản thân mình.
Vậy thước đo thích hợp nằm ở đâu? Câu trả lời của thánh Tôma Aquinô có thể gây ngỡ ngàng: thước đo là lý trí của chúng ta. Nói như thế rất dễ bị hiểu lầm. Vấn đề ở đây không phải là thứ lý tính lạnh lùng làm mất niềm vui trong những lĩnh vực trực tiếp liên quan đến sự sống và sinh tồn của con người, cụ thể là chuyện ăn uống và tình dục.
Điều gọi là “hợp lý” trong lĩnh vực ăn uống và tình dục mang một ý nghĩa khác, và nếu xem xét kỹ, sẽ thấy ý nghĩa và giá trị lớn. “Hợp lý” ở đây là thứ thước đo để canh giữ năng lực sinh tồn nơi chúng ta, không để nó dẫn đến những hậu quả tiêu cực và hủy diệt. Nói cách tích cực hơn, đây là thứ thước đo và liều lượng giúp năng lực hoạt động của chúng ta thực hiện tốt mục đích xây dựng và phát triển con người.
Chính ở đây chúng ta thấy được điều cốt lõi của sự khiết tịnh và tiết độ. Không sống khiết tịnh và thiếu kềm chế khoái lạc không phải là xấu vì những niềm vui và hoan lạc mà giác quan đem lại là điều xấu, nhưng nó xấu là vì có thể gây nguy hiểm, kể cả hủy hoại chính mình và người khác. Có một dấu hiệu chính xác để nhận ra chúng ta có quá buông thả và vô kỷ luật trong chuyện ăn uống và tình dục hay không, đó là niềm vui chân chính. Niềm vui đích thực chỉ xuất hiện khi người ta không quá ích kỷ đến nỗi tham lam tìm kiếm mọi thứ hoan lạc, điều đó chỉ dẫn đến chỗ đánh mất chính mình.
Cũng phải nhìn nhận một thực tế là ngay từ đầu, Kitô giáo đã phải đối diện với mối nguy hiểm của thuyết Manikhê (Manicheism), chủ trương nhìn bất cứ điều gì liên quan đến xác thịt, kể cả chuyện ăn uống và tình dục, đều là cái xấu tự thân. Đang khi đó, thánh Phaolô đã nói từ lâu: “Tất cả những gì Thiên Chúa tạo dựng đều tốt, và không có gì phải loại bỏ, nếu biết dùng trong tâm tình tri ân cảm tạ” (1Tm 4,4).
Do đó, nhân đức tiết độ tìm thấy thước đo thích hợp và mục đích của mình ở chỗ này: mọi sự được Thiên Chúa tạo dựng phải được sử dụng theo như Chúa muốn. Trong viễn tượng đó, “khiết tịnh” mang ý nghĩa tích cực mà ngày nay người ta không muốn nghe. Tiết độ là nhân đức ngăn cản chúng ta đi tìm bản thân mình trong mọi sự đến độ lạm dụng và sử dụng sai mọi sự. Nhân đức tiết độ làm cho chúng ta nên “trong sáng”, nhờ đó biết trân trọng nhau cũng như tạo thành cách đúng mức.
Dĩ nhiên, nhân đức này đòi phải thực hành sự tự chế, tự chủ, điều tiết, chừng mực, sáng suốt. Cũng ở đây chúng ta hiểu được ý nghĩa của chay tịnh trong Kitô giáo, là để con tim chúng ta được tự do và thanh khiết, hoàn toàn mở ra với Thiên Chúa và tha nhân.
( Còn tiếp )
ĐHY Christoph Schönborn
Nguồn: hdgmvietnam.com