Sân vận động Franso Hariri, được xây dựng vào năm 1956 trên khu đất bỏ hoang của một sân bay cũ, có thể chứa 40.000 người. Ngày nay, sau khi được tái thiết năm 1992, sân chỉ còn có thể chứa được 28.000 người và vẫn là sân vận động lớn thứ hai trong nước. Nằm ở phía nam Erbil, Bắc Iraq, trong miền tự trị Kurdistan, sân vận động đa năng này chủ yếu được sử dụng cho các trận bóng đá và thi đấu điền kinh. Đến năm 2001, tên gọi đơn giản là sân vận động Erbil, nhưng sau vụ ám sát Thống đốc Franso Hariri, người đã góp phần vào việc tái thiết, sân được đổi tên thành Sân vận động “Franso Hariri” để vinh danh ông.
Trước Thánh Lễ Đức Thánh Cha đã dùng xe mui trần Papamobile để chào thăm các tín hữu. Đây là lần duy nhất trong chuyến viếng thăm Iraq, Đức Thánh Cha dùng xe mui trần để chào các tín hữu. Vì lý do an ninh, chính phủ Iraq đề nghị ngài dùng xe bọc thép để di chuyển. Nhưng dù trong xe bọc thép, tại một số tuyến đường có tín hữu đón chào, đặc biệt tại Qaraqosh, Đức Thánh Cha mở cửa kính xe để vẫy tay chào.
Thánh Lễ được cử hành theo nghi lễ Latinh bằng tiếng Ý, các bài đọc và lời nguyện tín hữu bằng tiếng Canđê địa phương, tiếng Arập, tiếng Kurd, tiếng Anh.
Trong bài giảng Thánh Lễ, Đức Thánh Cha trích lời của thánh Phaolô trong bài đọc thứ II: “Đức Kitô là quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa”, Chúa Giê-su đã bày tỏ quyền năng và sự khôn ngoan đó trên hết bằng lòng thương xót và tha thứ. Thật dễ rơi vào cái bẫy của thứ tư duy rằng chúng ta phải chứng tỏ cho người khác thấy là chúng ta có quyền năng, rằng ta khôn ngoan, hay cái bẫy của việc tạo ra những hình ảnh giả tạo về vị Thiên Chúa có thể mang lại cho chúng ta sự an toàn (x. Xh 20, 4-5). Tuy nhiên, thật sự là tất cả chúng ta cần quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa được mặc khải qua Đức Giê-su trên thập giá.
Đức Thánh Cha nói đến hoàn cảnh cụ thể của Iraq: “Ở Iraq này, biết bao anh chị em, bạn bè và đồng bào của các con đang mang vết thương của chiến tranh và bạo lực, những vết thương hữu hình lẫn vô hình! Chúng ta bị cám dỗ dùng sự khôn ngoan và quyền năng thế gian để phản ứng lại những điều gây thương tích này và cả những kinh nghiệm đau khổ khác nữa. Ngược lại, Chúa Giê-su chỉ cho chúng ta con đường của Thiên Chúa, con đường mà Ngài đã đi, con đường Ngài kêu gọi chúng ta đi theo Ngài.”
Kế đến, diễn giải đoạn Tin Mừng, ĐTC nói: Trong bài Tin Mừng vừa nghe (Ga 2,13-25), chúng ta thấy cách Chúa Giêsu đuổi những người đổi tiền và tất cả những kẻ buôn bán ra khỏi Đền thờ Giêrusalem. Tại sao Chúa Giê-su lại làm một điều có vẻ bạo lực và khiêu khích như vậy? Ngài làm điều đó vì Chúa Cha đã sai Ngài đến để thanh tẩy đền thờ: không chỉ là Đền thờ bằng đá, nhưng trên hết là đền thờ tâm hồn chúng ta. Chúa Giêsu không thể chấp nhận việc nhà của Cha Người trở thành cái chợ (x. Ga 2,16); Ngài cũng không muốn tâm hồn chúng ta trở thành nơi bị xáo trộn, rối bời và hỗn loạn. Tâm hồn chúng ta cần phải được dọn sạch, ngăn nắp và thanh tẩy. Nhưng thanh tẩy khỏi điều gì? Khỏi những giả dối làm vấy bẩn nó, khỏi những sự giả tạo giả hình. Tất cả chúng ta đều có những thứ này. Chúng là những căn bệnh gây hại cho tâm hồn, ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta và khiến chúng ta trở nên thiếu chân thành. Chúng ta cần phải tẩy sạch những thứ an toàn giả tạo vốn có thể đánh đổi đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa bằng những thứ chóng qua, bằng những lợi ích tạm thời. Chúng ta cần quét sạch những cám dỗ tầm thường về quyền lực và tiền bạc khỏi tâm hồn chúng ta và khỏi Giáo hội. Để làm sạch lòng mình, chúng ta cần để cho bàn tay mình lấm bẩn, phải thấy mình có trách nhiệm chứ không chỉ đơn thuần đứng nhìn khi anh chị em của chúng ta đang đau khổ. Làm thế nào để chúng ta thanh lọc tâm hồn của mình? Chúng ta không thể tự thanh tẩy chỉ bằng nỗ lực bản thân; chúng ta cần Chúa Giêsu. Ngài có quyền năng để chiến thắng những điều xấu xa của chúng ta, để chữa lành bệnh tật của chúng ta, để xây dựng lại đền thờ tâm hồn chúng ta.
Chúa Giê-su không chỉ tẩy sạch tội lỗi cho chúng ta, mà còn ban cho chúng ta quyền năng và sự khôn ngoan của chính Ngài. Ngài giải phóng chúng ta khỏi những quan niệm hẹp hòi và mang tính chia rẽ về gia đình, về đức tin và cộng đồng, những quan niệm vốn gây chia rẽ, chống đối và loại trừ nhau, hầu chúng ta có thể xây dựng một Giáo hội và một xã hội cởi mở với mọi người và quan tâm đến những anh chị em đang cần chúng ta nhất. Đồng thời, Ngài tăng sức cho ta để chống lại sự cám dỗ trả thù, thứ chỉ đẩy chúng ta vào vòng xoáy của những cuộc trả đũa vô tận. Trong quyền năng của Chúa Thánh Thần, Ngài sai chúng ta ra đi, không phải để cải đạo người khác, mà để sống tư cách người môn đệ của sứ mạng, tức những người nam, người nữ được kêu mời làm chứng tá rằng Tin Mừng có sức mạnh thay đổi cuộc sống. Chúa Phục sinh biến chúng ta thành khí cụ của lòng thương xót và hòa bình của Chúa, thành những nghệ nhân kiên nhẫn và can đảm của một trật tự xã hội mới.
Như người Samari nhân hậu của nhân loại, Chúa muốn xức dầu cho mọi tổn thương, để chữa lành mọi ký ức đau buồn và truyền cảm hứng cho một tương lai hòa bình và đầy tình huynh đệ trên mảnh đất này.
Để kết, Đức Thánh Cha khích lệ:
Giáo hội Iraq, nhờ hồng ân Thiên Chúa, đã và đang làm nhiều điều để loan truyền sự khôn ngoan tuyệt vời này của thập giá, bằng cách truyền bá lòng thương xót và sự tha thứ của Đức Ki-tô, đặc biệt cho những người cần nhất. Ngay cả trong hoàn cảnh nghèo đói và khó khăn, nhiều anh chị em đã hào phóng giúp đỡ cách cụ thể và liên đới với những người nghèo đói và đau khổ. Đó là một trong những lý do khiến tôi đến đây như một người hành hương ở giữa anh chị em, để cảm ơn và xác nhận niềm tin và chứng tá của anh chị em. Hôm nay, tôi có thể nhìn thấy và chạm đến thực tế rằng Giáo hội ở Iraq đang sống, rằng Đức Ki-tô đang sống và đang hoạt động giữa lòng đoàn dân thánh thiện và trung tín của Ngài ở đây.
Cuối lễ và chào biệt
Cuối Thánh Lễ, Đức Cha Bashar Matti Warda, Tổng giám mục Erbil, cảm ơn Đức Thánh Cha về chuyến viếng thăm để nâng đỡ đức tin của cộng đoàn tín hữu tại Iraq.
Đáp lời, Đức Thánh Cha cảm ơn tất cả về việc tổ chức cho chuyến viếng thăm của ngài. Đồng thời, ngài ghi nhận: Những ngày vừa qua ở giữa anh chị em, tôi đã nghe những tiếng nói đau đớn và thống khổ, nhưng tôi cũng nghe những tiếng nói hy vọng và an ủi. Điều này là nhờ, một phần lớn, công sức không mệt mỏi của các tổ chức tôn giáo thuộc nhiều hệ phái Kitô khác nhau, nhờ các Giáo hội địa phương và các tổ chức bác ái khác nhau, đã hỗ trợ người dân đất nước này trong việc tái thiết và tái sinh xã hội.
Cuối cùng, bằng những lời cảm động, ĐTC chào biệt: “Bây giờ, sắp đến giờ tôi trở về Roma. Nhưng Iraq sẽ luôn cùng với tôi, trong trái tim tôi. Tôi xin tất cả, anh chị em thân mến, hãy làm việc cùng nhau trong sự hiệp nhất vì một tương lai hòa bình và thịnh vượng, không bỏ ai lại phía sau và và không ai bị phân biệt đối xử. Tôi đảm bảo lời cầu nguyện của tôi cho đất nước thân yêu này. Cách đặc biệt, tôi cầu nguyện cho các thành viên của các cộng đồng tôn giáo khác nhau, cùng với tất cả nam nữ thiện chí, hợp tác để thắt chặt tình huynh đệ và tình liên đới trong việc phục vụ công ích và hòa bình. Salam, salam, salam! Shukrán! [Cảm ơn] Xin Chúa chúc lành cho tất cả! Xin Chúa chúc lành cho Iraq! Allah ma'akum! [Chúa ở cùng anh chị em]
Sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha chào các tín hữu và ra phi trường Erbil cách sân vận động 8km để trở về thủ đô Baghdad, và nghỉ đêm tại Toà Sứ Thần ở Baghdad. Kết thúc ngày thứ 3 của chuyến tông du.
Văn Yên, SJ
Bài giảng của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô
tại sân vận động Franso Hariri ở Erbil
Chủ Nhật, 07/03/2021
Thánh Phao-lô đã nói với chúng ta rằng “Đức Kitô là quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1,22-25). Chúa Giê-su đã bày tỏ quyền năng và sự khôn ngoan đó trên hết bằng lòng thương xót và tha thứ. Ngài không bày tỏ theo cách phô trương sức mạnh hay bằng cách nói chuyện kiểu trịch thượng với chúng ta, qua những bài diễn văn dài dòng và uyên bác. Ngược lại, Ngài chọn cách hiến mạng sống mình trên thập giá. Ngài đã bày tỏ sự khôn ngoan và quyền năng của mình bằng cách cho chúng ta thấy sự trung thành đến cùng của tình yêu Thiên Chúa Cha; đó là lòng thành tín của vị Thiên Chúa giao ước, Đấng đã đưa dân Người ra khỏi ách nô lệ và dẫn dắt họ trong hành trình đến tự do (x. Xh 20, 1-2).
Thật dễ rơi vào cái bẫy của thứ tư duy rằng chúng ta phải chứng tỏ cho người khác thấy là chúng ta có quyền năng, rằng ta khôn ngoan, hay cái bẫy của việc tạo ra những hình ảnh giả tạo về vị Thiên Chúa có thể mang lại cho chúng ta sự an toàn (x. Xh 20, 4-5). Tuy nhiên, thật sự là tất cả chúng ta cần quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa được mặc khải qua Đức Giê-su trên thập giá. Trên đồi Canvê, Người đã dâng lên Chúa Cha những vết thương mà chỉ nhờ đó chúng ta được chữa lành (xem 1Pr 2:24). Ở Iraq này, biết bao anh chị em, bạn bè và đồng bào của các con đang mang vết thương của chiến tranh và bạo lực, những vết thương hữu hình lẫn vô hình! Chúng ta bị cám dỗ dùng sự khôn ngoan và quyền năng thế gian để phản ứng lại những điều gây thương tích này và cả những kinh nghiệm đau khổ khác nữa. Ngược lại, Chúa Giê-su chỉ cho chúng ta con đường của Thiên Chúa, con đường mà Ngài đã đi, con đường Ngài kêu gọi chúng ta đi theo Ngài.
Trong bài Tin Mừng vừa nghe (Ga 2,13-25), chúng ta thấy cách Chúa Giêsu đuổi những người đổi tiền và tất cả những kẻ buôn bán ra khỏi Đền thờ Giêrusalem. Tại sao Chúa Giê-su lại làm một điều có vẻ bạo lực và khiêu khích như vậy? Ngài làm điều đó vì Chúa Cha đã sai Ngài đến để thanh tẩy đền thờ: không chỉ là Đền thờ bằng đá, nhưng trên hết là đền thờ tâm hồn chúng ta. Chúa Giêsu không thể chấp nhận việc nhà của Cha Người trở thành cái chợ (x. Ga 2,16); Ngài cũng không muốn tâm hồn chúng ta trở thành nơi bị xáo trộn, rối bời và hỗn loạn. Tâm hồn chúng ta cần phải được dọn sạch, ngăn nắp và thanh tẩy. Nhưng thanh tẩy khỏi điều gì? Khỏi những giả dối làm vấy bẩn nó, khỏi những sự giả tạo giả hình. Tất cả chúng ta đều có những thứ này. Chúng là những căn bệnh gây hại cho tâm hồn, ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta và khiến chúng ta trở nên thiếu chân thành. Chúng ta cần phải tẩy sạch những thứ an toàn giả tạo vốn có thể đánh đổi đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa bằng những thứ chóng qua, bằng những lợi ích tạm thời. Chúng ta cần quét sạch những cám dỗ tầm thường về quyền lực và tiền bạc khỏi tâm hồn chúng ta và khỏi Giáo hội. Để làm sạch lòng mình, chúng ta cần để cho bàn tay mình lấm bẩn, phải thấy mình có trách nhiệm chứ không chỉ đơn thuần đứng nhìn khi anh chị em của chúng ta đang đau khổ. Làm thế nào để chúng ta thanh lọc tâm hồn của mình? Chúng ta không thể tự thanh tẩy chỉ bằng nỗ lực bản thân; chúng ta cần Chúa Giêsu. Ngài có quyền năng để chiến thắng những điều xấu xa của chúng ta, để chữa lành bệnh tật của chúng ta, để xây dựng lại đền thờ tâm hồn chúng ta.
Để xác nhận điều này, và như một dấu hiệu về quyền năng của mình, Chúa Giê-su nói: “Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại.” (câu 19). Chỉ mình Đức Giê-su Ki-tô có thể tẩy sạch chúng ta khỏi những sự dữ; Ngài là Đấng đã chết và đã sống lại; Ngài là Thiên Chúa! Anh chị em thân mến, Chúa không để chúng ta chết trong tội lỗi của mình. Ngay cả khi chúng ta quay lưng với Ngài, Ngài cũng không bao giờ bỏ mặc chúng ta. Ngài tìm kiếm chúng ta, chạy theo chúng ta, để kêu gọi chúng ta ăn năn và để tẩy rửa tội lỗi của chúng ta. Chúa phán: “Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống” (Êzêkiel 33:11). Chúa muốn chúng ta được cứu và trở thành những đền thờ sống động của tình yêu của Ngài, trong tình huynh đệ, trong sự phục vụ, trong lòng thương xót.
Chúa Giê-su không chỉ tẩy sạch tội lỗi cho chúng ta, mà còn ban cho chúng ta quyền năng và sự khôn ngoan của chính Ngài. Ngài giải phóng chúng ta khỏi những quan niệm hẹp hòi và mang tính chia rẽ về gia đình, về đức tin và cộng đồng, những quan niệm vốn gây chia rẽ, chống đối và loại trừ nhau, hầu chúng ta có thể xây dựng một Giáo hội và một xã hội cởi mở với mọi người và quan tâm đến những anh chị em đang cần chúng ta nhất. Đồng thời, Ngài tăng sức cho ta để chống lại sự cám dỗ trả thù, thứ chỉ đẩy chúng ta vào vòng xoáy của những cuộc trả đũa vô tận. Trong quyền năng của Chúa Thánh Thần, Ngài sai chúng ta ra đi, không phải để cải đạo người khác, mà để sống tư cách người môn đệ của sứ mạng, tức những người nam, người nữ được kêu mời làm chứng tá rằng Tin Mừng có sức mạnh thay đổi cuộc sống. Chúa Phục sinh biến chúng ta thành khí cụ của lòng thương xót và hòa bình của Chúa, thành những nghệ nhân kiên nhẫn và can đảm của một trật tự xã hội mới. Theo cách này, nhờ quyền năng của Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần, những lời tiên tri của Thánh Phao-lô Tông Đồ nói với các tín hữu Cô-rin-tô được ứng nghiệm: “Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1Cr 1: 25). Các cộng đoàn Ki-tô hữu gồm những người đơn sơ và thấp hèn chính là dấu hiệu cho thấy vương quốc của Ngài sắp đến, vương quốc của tình yêu, công lý và hòa bình.
“Các ông hãy phá hủy đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại” (Ga 2,19). Chúa Giê-su đang nói về đền thờ là thân thể Ngài, tức cũng là về Giáo hội. Chúa hứa với chúng ta rằng, nhờ quyền năng của sự phục sinh, Ngài có thể xây dựng lại bản thân chúng ta cũng như các cộng đoàn của chúng ta từ những đống đổ nát do bất công, chia rẽ và hận thù để lại. Đó là lời hứa mà chúng ta cử hành trong Bí tích Thánh Thể này. Với con mắt đức tin, chúng ta nhận ra sự hiện diện của vị Thiên Chúa chịu đóng đinh và phục sinh ở giữa chúng ta. Và chúng ta học cách ôm lấy đức khôn ngoan mang tính giải thoát của Ngài, học cách nép mình trong vết thương của Ngài, và tìm thấy sự chữa lành và sức mạnh để phục vụ cho sự xuất hiện của vương quốc Ngài trong thế giới chúng ta. Nhờ những thương tích của Ngài, chúng ta được chữa lành (xem 1 Phi 2:24). Nơi những vết thương đó, hỡi anh chị em thân mến, chúng ta tìm thấy sự xoa dịu của tình yêu thương xót của Ngài. Bởi vì, như người Samari nhân hậu của nhân loại, Ngài muốn xức dầu cho mọi tổn thương, để chữa lành mọi ký ức đau buồn và truyền cảm hứng cho một tương lai hòa bình và đầy tình huynh đệ trên mảnh đất này.
Giáo hội Iraq, nhờ hồng ân Thiên Chúa, đã và đang làm nhiều điều để loan truyền sự khôn ngoan tuyệt vời này của thập giá, bằng cách truyền bá lòng thương xót và sự tha thứ của Đức Ki-tô, đặc biệt cho những người cần nhất. Ngay cả trong hoàn cảnh nghèo đói và khó khăn, nhiều anh chị em đã hào phóng giúp đỡ cách cụ thể và liên đới với những người nghèo đói và đau khổ. Đó là một trong những lý do khiến tôi đến đây như một người hành hương ở giữa anh chị em, để cảm ơn và xác nhận niềm tin và chứng tá của anh chị em. Hôm nay, tôi có thể nhìn thấy và chạm đến thực tế rằng Giáo hội ở Iraq đang sống, rằng Đức Ki-tô đang sống và đang hoạt động giữa lòng đoàn dân thánh thiện và trung tín của Ngài ở đây.
Anh chị em thân mến, tôi phó thác anh chị em, gia đình và cộng đoàn của anh chị em trong sự bảo vệ từ mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã liên kết với cuộc khổ nạn và cái chết của Con Mẹ và được chia sẻ niềm vui phục sinh của Người. Xin Mẹ cầu bầu cho chúng ta và dẫn chúng ta đến với Ngài, Đấng là quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.
Diễn văn của Đức Thánh Cha
Thăm Cộng đoàn Qaraqosh – Kinh Truyền tin
Chúa Nhật, 07/03/2021
Anh chị em thân mến, chào anh chị em,
Tôi tạ ơn Chúa về cơ hội được ở giữa anh chị em sáng hôm nay. Tôi đã mong đợi thời gian này. Tôi cảm ơn Đức Thượng Phụ Ignace Youssif Younan đã có lời chào đón, cũng như cảm ơn bà Doha Sabah Abdallah và cha Ammar Yako về chứng từ của họ. Khi nhìn anh chị em, tôi thấy sự đa dạng văn hóa và tôn giáo của người dân Qaraqosh và điều này cho thấy điều gì đó tốt đẹp mà vùng đất của anh chị em cống hiến cho tương lai. Sự hiện diện của anh chị em ở đây nhắc rằng vẻ đẹp không đơn sắc, nhưng tỏa sáng trong sự đa dạng và khác biệt.
Đồng thời, với sự đau buồn lớn lao, chúng ta nhìn xung quanh và nhìn thấy những dấu hiệu, những dấu hiệu của sức mạnh hủy diệt của bạo lực, thù hận và chiến tranh. Bao nhiêu thứ đã bị phá đổ! Bao nhiêu điều cần phải xây dựng lại! Sự tập hợp của chúng ta ở đây hôm nay cho thấy rằng khủng bố và chết chóc không bao giờ có tiếng nói quyết định. Quyết định thuộc về Thiên Chúa và Con của Người, Đấng chiến thắng tội lỗi và sự chết. Ngay cả giữa sự tàn phá của khủng bố và chiến tranh, chúng ta có thể nhìn thấy, với con mắt của đức tin, chiến thắng của sự sống trên sự chết. Anh chị em có tấm gương của những người cha và người mẹ của anh chị em trong đức tin, những người đã thờ phượng và ngợi khen Thiên Chúa tại nơi này. Họ kiên trì với niềm hy vọng vững chắc trong suốt cuộc hành trình trần thế, tin cậy nơi Thiên Chúa, Đấng không bao giờ làm ai thất vọng và luôn nâng đỡ chúng ta bằng ân sủng của Người. Di sản tinh thần to lớn mà họ để lại vẫn tiếp tục sống trong anh chị em. Hãy giữ chặt lấy di sản này! Đó là sức mạnh của anh chị em! Bây giờ là lúc để xây dựng lại và bắt đầu lại từ đầu, dựa vào ân sủng của Thiên Chúa, Đấng hướng dẫn số phận của tất cả các cá nhân và dân tộc. Anh chị em không đơn độc! Toàn thể Giáo hội gần gũi với anh chị em bằng những lời cầu nguyện và lòng bác ái cụ thể. Và trong khu vực này, có rất nhiều người đã mở cửa cho anh chị em vào lúc cần thiết.
Các bạn thân mến, đây là thời điểm để khôi phục không chỉ các tòa nhà nhưng cả các mối liên kết của cộng đồng, những thứ gắn kết cộng đồng và gia đình, người trẻ và người già với nhau. Ngôn sứ Giô-en nói, “Con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ,người già được báo mộng, thanh niên thấy thị kiến.” (xem Ge 3,1). Điều gì sẽ xảy ra khi người già và người trẻ xích lại gần nhau? Người già ước mơ, họ mơ về một tương lai cho lớp trẻ. Và những người trẻ có thể thực hiện những giấc mơ và lời ngôn sứ, biến chúng thành hiện thực. Khi già và trẻ đến với nhau, chúng ta gìn giữ và truyền lại những món quà mà Thiên Chúa ban tặng. Chúng ta nhìn con cái của mình, biết rằng chúng sẽ không chỉ được thừa hưởng một vùng đất, một nền văn hóa và truyền thống, mà còn là những thành quả sống động của đức tin, những ân sủng của Thiên Chúa trên mảnh đất này. Vì vậy tôi khuyến khích anh chị em: Đừng quên anh chị em là ai và đến từ đâu! Đừng quên những liên kết đã nối kết anh chị em lại với nhau! Đừng quên bảo tồn nguồn gốc của anh chị em!
Chắc chắn, sẽ có những thời điểm mà đức tin có thể bị lung lay, khi dường như Chúa không nhìn thấy hoặc không hành động. Điều này đúng với anh chị em trong những ngày đen tối nhất của cuộc chiến, và nó cũng đúng trong những ngày này trong cuộc khủng hoảng sức khỏe toàn cầu và vô cùng bất an. Những lúc như thế này, hãy nhớ rằng Chúa Giê-su đang ở bên cạnh anh chị em. Đừng từ bỏ ước mơ! Đừng bỏ cuộc! Đừng mất hy vọng! Từ trời cao các vị thánh đang nhìn xem chúng ta. Chúng ta hãy cầu nguyện với các ngài và đừng bao giờ mệt mỏi khi cầu xin sự chuyển cầu của họ. Ngoài ra còn có các vị thánh ở nhà bên cạnh, “những người đang sống ở giữa chúng ta và phản chiếu sự hiện diện của Thiên Chúa” (Gaudete etExsultate, 7). Vùng đất này có nhiều người trong số họ, bởi vì nó là vùng đất của nhiều người nam nữ thánh thiện. Hãy để họ đồng hành cùng anh chị em đến một tương lai tốt đẹp hơn, một tương lai đầy hy vọng.
Một điều mà bà Doha nói đã khiến tôi vô cùng xúc động. Bà nói rằng sự tha thứ là cần thiết đối với những người sống sót sau vụ khủng bố. Tha thứ; đó là từ khóa. Tha thứ là điều cần thiết để duy trì tình yêu, để tiếp tục là Ki-tô hữu. Con đường để hồi phục hoàn toàn có thể còn dài, nhưng tôi xin anh chị em đừng nản lòng. Điều cần thiết là khả năng tha thứ, nhưng cũng là dũng khí để không bỏ cuộc. Tôi biết rằng điều này là rất khó khăn. Nhưng chúng ta tin rằng Chúa có thể mang lại hòa bình cho vùng đất này. Chúng ta tín thác vào Chúa và, cùng với tất cả những người thiện chí, chúng ta nói “không” với khủng bố và thao túng tôn giáo.
Cha Ammar thân mến, khi nhắc lại tất cả những gì đã xảy ra trong các cuộc tấn công khủng bố và chiến tranh, cha cảm ơn Chúa đã luôn ban cho cha tràn đầy niềm vui, trong lúc thịnh vượng cũng như gian nan, lúc ốm đau cũng như khi khỏe mạnh. Lòng biết ơn được sinh ra và lớn lên khi chúng ta nhớ đến những món quà và lời hứa của Chúa. Hồi ức về quá khứ hình thành hiện tại và dẫn chúng ta tới tương lai.
Trong mọi lúc, chúng ta hãy dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì những món quà ân sủng của Người và xin Người ban sự bình an, tha thứ và tình huynh đệ cho vùng đất này và dân tộc của nó. Chúng ta hãy cầu nguyện không ngừng cho sự hoán cải của trái tim và cho sự chiến thắng khải hoàn của một nền văn hóa sự sống, hòa giải và tình yêu thương huynh đệ giữa mọi người nam và nữ, tôn trọng sự khác biệt và các truyền thống tôn giáo đa dạng, trong nỗ lực xây dựng một tương lai hiệp nhất và hợp tác giữa tất cả mọi người thiện chí Một tình yêu huynh đệ công nhận “những giá trị nền tảng của nhân loại chung của chúng ta, những giá trị mà nhờ đó chúng ta có thể và phải hợp tác, xây dựng và đối thoại, tha thứ và trưởng thành” (FratelliTutti, 283).
Khi đến đây bằng trực thăng, tôi đã thấy tượng Đức Mẹ Maria trên Nhà thờ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội. Tôi đã phó thác sự tái sinh của thành phố này cho Mẹ. Đức Mẹ không chỉ bảo vệ chúng ta từ trên cao, nhưng đến với chúng ta bằng tình yêu của một người Mẹ. Hình ảnh của Mẹ ở đây đã bị ngược đãi và thiếu tôn trọng, nhưng khuôn mặt của Mẹ Thiên Chúa vẫn tiếp tục nhìn chúng ta với tình yêu thương. Đó là điều các bà mẹ làm: họ khuyên giải, họ an ủi và trao tặng cuộc sống. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả những người mẹ và người phụ nữ của đất nước này, những người phụ nữ dũng cảm, những người vẫn tiếp tục cống hiến sự sống, bất chấp những sai trái và đau đớn. Chớ gì những người phụ nữ được tôn trọng và bảo vệ! Chớ gì họ được tôn trọng và trao cho cơ hội!
Và bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện với Mẹ của chúng ta, khẩn cầu sự chuyển cầu của Mẹ cho những nhu cầu và kế hoạch tương lai của anh chị em. Tôi đặt tất cả anh chị em dưới sự chuyển cầu của Mẹ. Và tôi xin anh chị em đừng quên cầu nguyện cho tôi.
Lời cầu nguyện của Đức Thánh Cha
cho các nạn nhân của chiến tranh
Mosul, Chúa Nhật 7/3/2021
Những lời dẫn nhập của Đức Thánh Cha
Trước khi cầu nguyện cho tất cả các nạn nhân của cuộc chiến ở thành phố Mosul này, ở Iraq và khắp Trung Đông, tôi muốn chia sẻ với các anh chị em những suy nghĩ này:
Nếu Thiên Chúa là Chúa của sự sống - và Người là như thế-, chúng ta không được phép giết anh em nhân danh Người.
Nếu Thiên Chúa là Chúa của bình an- và Người là như thế - thì chúng ta không được phép gây chiến tranh nhân danh Người.
Nếu Thiên Chúa là Chúa của tình yêu - và Người là như thế -, chúng ta không được phép ghét anh em.
Giờ đây chúng ta hãy cùng cầu nguyện cho tất cả các nạn nhân của chiến tranh, để Thiên Chúa Toàn Năng sẽ ban cho họ sự sống đời đời và muôn đời bình an, và đón nhận họ trong vòng tay yêu thương của Người. Và chúng ta cũng cầu nguyện cho tất cả chúng ta. Để dù thuộc bất cứ truyền thống tôn giáo nào, chúng ta có thể sống hài hòa và bình an, ý thức rằng trước mắt Thiên Chúa, chúng ta đều là anh chị em.
Lời cầu nguyện
Lạy Thiên Chúa Tối Cao, Chúa của thời gian và lịch sử, vì yêu thương Chúa đã tạo dựng thế giới và không ngừng tuôn đổ phúc lành cho các thụ tạo của Chúa. Chúa, Đấng vượt trên đại dương của đau khổ và chết chóc, vượt trên những cám dỗ của bạo lực, bất công, đã đồng hành với con cái Chúa bằng tình thương dịu dàng của Người Cha.
Ấy thế mà chúng con lại từ chối hồng ân Chúa và để cho những bận tâm, những tham vọng trần thế lôi cuốn. Chúng con thường quên những kế hoạch hòa bình và hòa hợp của Chúa. Chúng con chỉ quan tâm đến bản thân và lợi ích nhỏ nhen của chúng con. Dửng dưng với Chúa và người khác, chúng con đã chặn các cánh cửa dẫn đến hòa bình. Vì vậy, điều mà ngôn sứ Giôna đã nghe nói về Ninivê đã được lặp lại: sự gian ác của loài người đã lên thấu tới Trời (Gn 1,2). Chúng con đã không nâng những bàn tay thanh sạch lên Trời (1 Tm 2,8), nhưng từ mặt đất lại một lần nữa tiếng máu người vô tội vang lên (St 4,10). Trong tường thuật của Giôna, dân thành Ninivê đã nghe theo lời ngôn sứ Chúa và tìm được ơn cứu độ trong sự hoán cải. Lạy Chúa, giờ đây, chúng con xin phó thác nơi Chúa rất nhiều nạn nhân của lòng căm thù con người chống lại con người. Chúng con cũng xin Chúa tha thứ và ân sủng hoán cải:
Lạy Chúa Kitô xin thương xót chúng con!
Lạy Chúa Kitô xin thương xót chúng con!
Lạy Chúa Kitô xin thương xót chúng con!
[Thinh lặng trong giây lát]
Lạy Thiên Chúa chúng con, tại thành phố này có hai biểu tượng minh chứng cho ước muốn ngàn năm của nhân loại được đến gần với Chúa hơn: Đền thờ Hồi giáo Al-Nouri với tháp Al Hadba và Nhà thờ Đức Mẹ Đồng hồ. Đó là một chiếc đồng hồ mà hơn một trăm năm qua đã nhắc nhở người qua đường rằng cuộc sống thì ngắn ngủi và thời gian là quý giá. Xin dạy chúng con nhận ra rằng Chúa đã giao phó cho chúng con kế hoạch yêu thương, hòa bình và hòa giải, để chúng con có thể thực hiện kế hoạch đó trong thời đại chúng con đang sống, trong khoảng thời gian ngắn ngủi cuộc sống trần thế của chúng con. Xin hãy làm cho chúng con nhận ra rằng chỉ bằng cách áp dụng điều này vào thực tế ngay lập tức thì thành phố và đất nước này mới có thể được tái xây dựng, và những tâm hồn bị tổn thương bởi nỗi đau có thể được chữa lành. Xin giúp chúng con không dành thời gian để phục vụ lợi ích ích kỷ, cá nhân hoặc nhóm của chúng con, nhưng để phục vụ cho kế hoạch yêu thương của Chúa. Và khi chúng con lạc lối, xin hãy làm cho chúng con biết rằng chúng con có thể lắng nghe tiếng nói của những con người đích thực của Chúa và ăn năn kịp thời, để chúng con không bị hư mất một lần nữa bằng sự hủy diệt và chết chóc.
Chúng con phó thác nơi Chúa những người có cuộc sống trần gian đã bị rút ngắn bởi bàn tay bạo lực của anh chị em họ; chúng con cũng cầu xin cho những người đã gây tổn hại như vậy cho anh chị em của họ. Xin cho họ biết ăn năn, được cảm hóa bởi quyền năng thương xót của Chúa.
Lạy Chúa, xin cho họ được nghỉ yên muôn đời và xin ánh sáng ngàn năm chiếu soi trên họ. Amen

Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn








Thơ về Chúa chiên lành
Suy niệm Tin mừng Chúa nhật IV Phục sinh - Lm Inha-xi-ô Trần Ngà
Chuyên đề: Tông thư “Sự trung tín tạo nên tương lai” của Đức Thánh Cha Lêô XIV và tiến trình đào luyện của người Chủng sinh
Hành trình hiệp thông Ad Limina 2026 của Hội đồng Giám mục Việt Nam - Ngày I
"Giáo hội yêu thương con cái của mình" - ĐGM Giuse Huỳnh Văn Sỹ