Suy Niệm Tuần XXIV TN/A - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thứ sáu - 11/09/2026 11:13  17

Chúa Nhật Tuần XXIV TN/A

Bài Phúc Âm Chúa Nhật này trình bày cho chúng ta điều cốt yếu trong các mối quan hệ giữa người với người: sự tha thứ.

Tất cả chúng ta đều trải nghiệm sự khó khăn khi tha thứ và hành trình chữa lành dài đằng đẵng. Tha thứ không có nghĩa là chỉ nói lời tha thứ và mong đợi hiệu quả tức thì. Tha thứ là một quá trình chậm rãi, tiến triển, liên quan đến toàn bộ con người. Hành động tha thứ, trên thực tế, chỉ là hành động cuối cùng trong một quá trình thanh tẩy và chữa lành lâu dài. Khi chúng ta bị xúc phạm, sự oán giận, tức giận và mong muốn trả thù hoặc trừng phạt người đã xúc phạm mình ngay lập tức nảy sinh trong chúng ta. Phải mất một thời gian để chúng ta lấy lại được sự kiểm soát mà mình có thể đã đánh mất. Và ở đây chúng ta phải tự hỏi: "Chúng ta có ước muốn tha thứ không?" Bởi vì nếu ai đó nói một cách tiên nghiệm: "Tôi không muốn tha thứ!" , thì chẳng còn gì để nói! Sẽ khác khi chúng ta nói từ tận đáy lòng: "Con muốn tha thứ nhưng con không thể! Xin Chúa giúp con! " Bất cứ ai nói điều này đều mở lòng đón nhận sự tác động của Chúa Thánh Thần và huy động ý chí, trí tuệ, trái tim của mình bởi vì người đó muốn, với ân sủng của Chúa, tha thứ từ tận đáy lòng. Bởi vì ông hiểu rằng tha thứ không phải là biểu hiện của sự yếu đuối mà là của sức mạnh. Bởi vì ông hiểu rằng thù hận là sống trong địa ngục. Có thể tha thứ là giải phóng một tù nhân và nhận ra rằng tù nhân đó chính là mình! Có thể tha thứ hàm ý giải thoát khỏi một kẻ thù nội tâm: sự thù hận. Và sự thù hận là một cảm xúc mạnh mẽ đến nỗi người đã xúc phạm bạn luôn hiện diện trong suy nghĩ, trong ký ức, trong kế hoạch của bạn. Vậy bạn có muốn được tự do trong cuộc sống của mình không? Hãy tha thứ cho những người xin bạn tha thứ và cố gắng đừng ghi nhớ những tổn hại đã gây ra cho bạn. Chắc chắn đó là một hành trình dài, đòi hỏi thiện chí và sự cống hiến toàn bộ con người chúng ta, nhưng "trái tim dâng hiến cho Chúa Thánh Thần sẽ biến vết thương thành lòng thương xót và thanh tẩy ký ức, biến sự xúc phạm thành lời cầu bầu" (CCC 2843).

Nhưng lời kêu gọi tha thứ này đến từ đâu? Ai ban cho chúng ta sức mạnh để tha thứ? Trong đoạn Tin Mừng này, Chúa Giê-su nói: "Nếu các con không tha tội cho người ta, thì Cha các con cũng sẽ không tha tội cho các con" (Mt 6:15). Những lời này có thể khiến chúng ta nghĩ rằng lòng thương xót của Chúa đối với chúng ta chỉ là hệ quả của lòng thương xót của chúng ta đối với người khác. Nếu vậy, điều đó giống như việc đặt điều kiện cho sự tha thứ của Chúa dựa trên sự tha thứ của chúng ta; nghĩa là, Chúa chỉ có thể tha thứ cho chúng ta sau khi chúng ta đã tha thứ cho những người đã làm hại chúng ta: thật đáng thương cho chúng ta, ai biết được Chúa sẽ thường xuyên không hành động như thế nào! Dụ ngôn về hai người đầy tớ là chìa khóa để hiểu đúng mối quan hệ này. Sự quảng đại của chủ nhân (Chúa), người đã tha thứ một món nợ khổng lồ (mười ngàn ta-lê!) cho người đầy tớ (người tội lỗi), lẽ ra phải khiến người đầy tớ thương xót người chỉ nợ mình một khoản tiền nhỏ là một trăm đê-na-ri. Vì vậy, chính Chúa là Đấng tha thứ trước, và bằng cách tha thứ cho chúng ta, Ngài ban cho chúng ta tình yêu của Ngài, ân sủng của Ngài giúp chúng ta tha thứ cho người khác. Chúng ta hãy luôn nhớ rằng trước khi ra lệnh cho chúng ta làm điều gì đó, Chúa đã ban cho chúng ta phương tiện và sức mạnh để làm điều đó: "Như Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng phải tha thứ cho anh em" (Cl 3:13). Vì vậy, chúng ta tha thứ cho người khác bởi vì Ngài đã dạy chúng ta sự tha thứ; Ngài đã tha thứ cho chúng ta trước. "Vì vậy, chúng ta phải có lòng thương xót bởi vì chúng ta đã nhận được lòng thương xót, không phải để nhận được lòng thương xót; nhưng chúng ta phải có lòng thương xót, nếu không lòng thương xót của Chúa sẽ không có tác dụng với chúng ta và sẽ bị rút lại khỏi chúng ta, như người chủ trong dụ ngôn đã rút lại lòng thương xót khỏi người đầy tớ không biết tha thứ" (P. R. Cantalamessa).

Cuối cùng, một câu chuyện nhỏ để suy ngẫm. Một vị tu sĩ đang ngồi thiền bên bờ suối. Khi mở mắt ra, ông thấy một con bọ cạp rơi xuống nước và đang vùng vẫy tuyệt vọng để nổi trên mặt nước và sống sót. Tràn đầy lòng thương xót, vị tu sĩ nhúng tay xuống nước, bắt lấy con bọ cạp và đặt nó an toàn lên bờ. Để đền đáp, con côn trùng đột nhiên quay lại và chích ông, gây ra cho ông đau đớn dữ dội. Vị sư trở lại thiền định, nhưng khi mở mắt ra, ông thấy con bọ cạp lại rơi xuống nước và đang vùng vẫy hết sức mình. Ông cứu nó lần thứ hai, và lần này, con bọ cạp cũng chích người cứu mình cho đến khi ông hét lên vì đau đớn. Điều tương tự xảy ra lần thứ ba. Và vị sư nước mắt lưng tròng vì sự giày vò do những vết chích tàn nhẫn trên tay gây ra. Một người nông dân chứng kiến ​​cảnh tượng đó thốt lên: "Tại sao ông cứ mãi giúp đỡ sinh vật đáng thương đó, trong khi nó không những không cảm ơn ông mà còn chỉ làm hại ông?"

"Bởi vì cả hai chúng tôi đều tuân theo bản chất của mình," vị sư đáp. "Bọ cạp sinh ra để chích, còn tôi sinh ra để thương xót." Còn ngươi, ngươi sinh ra để làm gì?

CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc chúng con, xin khơi dậy trong chúng con lòng khao khát và niềm tin vào sự tha thứ của Chúa, củng cố ý chí hoán cải và trung thành của chúng con, và cho chúng con nếm trải sự chắc chắn và ngọt ngào của lòng thương xót Chúa. Lạy Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc và Thầy chúng con, xin ban cho chúng con sức mạnh để tha thứ cho người khác, để chúng con cũng được Chúa tha thứ cách trọn vẹn. (Thánh Phaolô VI)

 

Chúa Nhật XXIV TN/B

Ngay cả ngày nay chúng ta vẫn còn nghe thấy những lời nói và xét đoán mâu thuẫn nhất về Chúa Giêsu: có những người coi Ngài là một con người khôn ngoan, một nhà luân lý quảng đại, một nhân vật chính của lịch sử, và cũng có những người vu khống Ngài, những người ghét Ngài. Nhưng căn tính duy nhất, đích thực của Chúa Giêsu là căn tính được Thánh Phêrô công bố: "Thầy là Đức Kitô". Nếu chúng ta giản lược đức tin Kitô giáo vào giới hạn của một chân trời nhân bản, dù cao quý đến đâu, thì chúng ta đã nhầm: Chúa Kitô đến để mang lại ơn cứu độ vĩnh cửu, niềm hy vọng siêu nhiên, chứ không phải là một học thuyết để làm cho sự chung sống của con người trở nên dễ chịu hơn, ngay cả khi Ngài quan tâm đến việc cứu chuộc tất cả các thực tại trần thế, luôn luôn hoạt động trong hạnh phúc vĩnh cửu. Nhìn nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa thôi thì chưa đủ: chúng ta phải bắt chước Ngài trong những gì đặc biệt nhất đối với Ngài, nghĩa là trong tình yêu đối với thập giá, vốn không phải là mục đích nhưng là phương tiện cần thiết để hoàn thành ơn cứu chuộc. Nếu chúng ta muốn trở thành những người ‘đồng cứu chuộc’, chúng ta không thể xa lánh thập giá, bởi vì chỉ qua thập giá, như sự đánh mất sự sống của mình, chúng ta mới tìm thấy nó trong cõi vĩnh hằng, tham dự vào sự phục sinh của Chúa Kitô.

Ơn cứu rỗi của chúng ta nơi thập giá Chúa Kitô

Lời Chúa ngày Chúa nhật XXIV thường niên giới thiệu cho chúng ta mầu nhiệm Thập giá Chúa Kitô. Gần kề với lễ Suy Tôn Thánh Giá, được cử hành hàng năm vào ngày 14 tháng 9 và lễ nhớ Đức Mẹ Sầu Bi, vào ngày 15 tháng 9, giúp chúng ta hiểu rõ hơn lời Chúa của ngày này và để bối cảnh hóa nó trong thời điểm hiện tại.

Chúng ta hãy bắt đầu từ Tin Mừng Thánh Marcô kể về việc Chúa Giêsu đến Cêsarêa Philipphê. Trong cuộc di chuyển này, trên đường đi, đây là cơ hội để Chúa Giêsu thực hiện một cuộc điều tra để tìm hiểu xem người ta nghĩ gì về Ngài qua lời của các tông đồ. Chúa hỏi họ một câu hỏi rõ ràng, có vẻ tầm thường và ít quan trọng, nhưng trong thực tế, điều rất quan trọng là phải hiểu chính xác ý tưởng của dân chúng về Chúa Giêsu: người ta bảo Thầy là ai. Đây là một cuộc thăm dò ý kiến ​​thực sự. Từ yêu cầu này của Thầy, các tông đồ trả lời dựa trên sự hiểu biết của họ và theo những gì họ đã nghe về Chúa Giêsu. Họ thông báo cho ngài bằng cách nói rằng một số người cho ngài là Gioan Tẩy Giả, những người khác khẳng định rằng ngài là Êlia hoặc một trong số các nhà tiên tri cổ xưa của Israel.

Tóm lại, chưa ai thực sự hiểu Chúa Giêsu là đấng nào. Sau khi lưu ý đến sự thiếu hiểu biết này của dân chúng, vào thời điểm ấy, Chúa Giêsu đã trực tiếp nói với các tông đồ, với những người thân cận Ngài và do đó, lẽ ra phải biết rất rõ Chúa Giêsu Kitô là ai. Ngài trực tiếp hỏi: Còn các con, các con bảo Thầy là ai?

Trong trường hợp này, cũng như trong các trường hợp khác, chính Phêrô là người trả lời câu hỏi của Chúa Giêsu, tuyên xưng đức tin của mình vào Ngài: Thầy là Đấng Kitô. Câu trả lời này được xem như lời tuyên xưng đức tin nổi tiếng của Phêrô tại Cêsarêa Philipphê. Chúa Giêsu lưu ý đến sự hiểu biết đầy đủ này về phía người đứng đầu các tông đồ về căn tính thực sự của Đức Kitô, Ngài khuyên đừng nói cho ai biết những gì họ nghĩ và những gì họ đã bày tỏ bằng trái tim, lời nói và thái độ tôn kính của mình. Câu nói đó trở thành điểm khởi đầu để Chúa Giêsu dạy các tông đồ: Con Người sẽ phải chịu đau khổ rất nhiều và trong trường hợp này đề cập đến cuộc khổ nạn và cái chết sắp xảy ra trên thập giá. Ngài cũng cho biết thêm tại sao điều này sẽ xảy ra. Ngài sẽ phải đau khổ nhiều vì sẽ bị các trưởng lão, các thượng tế và các thầy thông giáo từ chối. Và họ sẽ là những người đưa Ngài đến chỗ chết. Nhưng Chúa Giêsu không chỉ giới hạn mình ở việc loan báo cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài trên thập giá, mà còn cả sự phục sinh của Ngài nữa, như đã thực sự xảy ra: ngày thứ ba Ngài đã sống lại.

Thánh ký Marcô, rất chú ý đến mọi sắc thái, kể cho chúng ta trong đoạn Tin Mừng rằng trong khi Chúa Giêsu đang nói điều này thì Phêrô đã kéo Người ra một bên, vì ông hiểu rằng Chúa Giêsu sẽ bị giết, và khiển trách gay gắt vì lẽ ra Ngài không nên nghĩ đến điều đó, và những điều nói đó thật khó chấp nhận. Đau khổ, thập giá và cái chết khiến mọi người sợ hãi. Đến đây, Chúa Giêsu làm gì? Thay vì bỏ đi, chạy trốn và quay lại phía sau và nói với các tông đồ, Chúa Giêsu lại khiển trách Phêrô một cách gay gắt bằng những lời này: Satan hãy lui ra sau, vì ông suy nghĩ theo cách con người chứ không phải của Thiên Chúa. Chúa Giêsu dùng cách diễn đạt này để làm cho chúng ta hiểu rằng ai coi đau khổ là hình phạt của Thiên Chúa thì là một tên Satan đích thực trong tư tưởng và trong cuộc sống. Cái chết, hiến thân vì người khác không phải là một thất bại, không phải là thất vọng, không phải là một trận thua ngay từ đầu, nhưng là một chiến thắng thực sự cho những ai đi theo Chúa chứ không theo con người. Mầu nhiệm thập giá của Chúa Kitô, cũng như cái chết của Ngài, có một giá trị vô biên bởi vì nhờ đó, Ngài cứu chuộc chúng ta khỏi tình trạng tội lỗi để ban cho chúng ta ân sủng của Ngài. Thập giá có giá trị cứu chuộc. Không dùng những lời lẽ và những bài phát biểu khó hiểu, Chúa Giêsu nói với các môn đệ và tất cả chúng ta bằng những lời này: "Nếu ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ chính mình”. Để theo Chúa Kitô, người ta phải từ bỏ chính mình, nghĩa là vượt qua những rào cản của kiêu ngạo, tự phụ và ngạo mạn cản trở cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô Thập Giá, cũng như để được vinh quang, cần phải vác thập giá của mình hoặc vác thập giá trên vai mà không đổ lỗi cho người khác, dù đó là gánh nặng về tội lỗi của chúng ta cũng như mọi sự yếu đuối của chúng ta.

Một khi bạn đã sẵn sàng bên trong tâm hồn mình, hãy đặt mình vào con đường của Chúa Kitô Chịu Đóng Đinh. Không chỉ của Chúa Kitô vinh quang, mà trên hết là của Chúa Kitô, Đấng đã chết cho chúng ta trên Thập Giá, vì lợi ích thực sự trong cuộc sống của một người nằm ở việc sẵn sàng phục vụ Tin Mừng về lòng thương xót, bác ái và quảng đại. Chúng ta không cứu mạng mình bằng tiền bạc và những thú vui để tận hưởng vô hạn, mà chỉ khi cuộc sống của chúng ta trở thành một món quà và sự hy sinh cho người khác.

Trong bài đọc thứ nhất trích từ sách tiên tri Isaia, người phát ngôn của Thiên Chúa nói về Đấng Messia chịu đau khổ và bị đóng đinh trong tương lai, Đấng sẽ bị hành hạ bởi những kẻ buộc tội Người. Người im lặng trước những người buộc tội mình, không phản ứng và chấp nhận thử thách tiến về phía trước trên con đường cứu độ nhân loại. Thực ra, Chúa Giêsu không chống cự, không lùi bước trước nỗi đau, thậm chí Ngài còn cho phép họ đánh đập và xúc phạm Ngài bằng mọi cách; nhưng Ngài, Con Đức Chúa Trời, biết rằng Thiên Chúa là Đức Chúa giúp đỡ mình, vì lý do này mà Ngài được tôn lên cao và chắc chắn không bị xấu hổ trên thập tự giá.

Đoạn văn này của tiên tri Isaia là một trong những đoạn văn quan trọng nhất đề cập đến mầu nhiệm thập giá của Chúa. Nói tóm lại, nó đề cập đến cuộc thử thách mà Chúa Giêsu sẽ phải đối mặt trong cuộc khổ nạn và sau đó là cái chết trên thập giá. Một bài thánh ca tiêu biểu trong Tuần Thánh.

Đoạn trích từ bức thư của Thánh Giacôbê Tông đồ cho chúng ta thấy một khía cạnh rất quan trọng ở cấp độ tôn giáo: mối quan hệ chặt chẽ giữa đức tin và việc làm. Nếu ai đó nói mình có đức tin nhưng không có việc làm, thì chỉ đức tin đó thôi không thể cứu được người ấy. Và người ấy đưa ra ví dụ về cách kết hợp lý thuyết tôn giáo với việc thực hành tôn giáo trong đời sống hằng ngày. không có quần áo, không có thức ăn hàng ngày và một trong các bạn bảo họ hãy đi bình yên, sưởi ấm và hài lòng ở nơi khác nhưng không ở đây với tôi và do đó không cung cấp cho họ những thứ cần thiết cho thân xác. Nói rằng bạn là một tín đồ có ích gì, bạn cầu nguyện, bạn đi nhà thờ, bạn thực hành nhiều tôn giáo, nếu đức tin không tương xứng với lòng bác ái thì điều tốt phải luôn luôn được thực hiện. Nếu đức tin không đi kèm với việc làm thì đức tin tự nó đã chết. Trong đoạn văn này, chúng ta có thể hiểu rõ tông đồ Giacôbê đặt đức tin và đức ái trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đến mức nếu thiếu đức ái thì đức tin chỉ là một ý hướng đạo đức, không hơn không kém. Hay nói rằng đó chỉ là một niềm tin lý thuyết và trừu tượng. Nếu đức tin không có sự tương ứng trong cuộc sống hàng ngày bằng cách làm điều tốt, thì đây thực sự là một thực tế chết chóc, không mang lại sự sống cho bản thân và người khác. Chúng ta phải hành động và sẵn sàng giúp đỡ những người đang đau khổ, hoạn nạn và bệnh tật. Vì vậy, hãy luôn làm điều thiện bất cứ lúc nào và trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Thực ra, nếu ai đó xin chúng ta một bộ quần áo vì họ không có hoặc không có gì để ăn, thì bổn phận đạo đức của người Kitô hữu là giúp đỡ mọi người mà không phân biệt đối xử. Chúng ta không được giả vờ không hiểu hoặc tệ hơn là quay mặt đi nơi khác để không giúp đỡ. Nếu chúng ta làm như vậy, có nghĩa là chúng ta chưa hiểu gì về đức tin đích thực, đức tin được thể hiện qua các công việc bác ái.

Thánh Giacôbê nhắc lại quan niệm mang tính giáo điều và thần học này, đó là đức tin không có việc làm là đức tin chết. Còn ai chết trong lòng vì không có khả năng yêu thương và làm điều thiện thì đức tin thực sự không còn tồn tại trong người đó nữa.

Vậy chúng ta có muốn trở thành người có đức tin không? Để được như vậy, đức tin của chúng ta cần được thể hiện qua những việc làm tốt, đặc biệt đối với những người đang gặp khó khăn và những người đang cần chúng ta giúp đỡ.

Chúng ta kết thúc suy tư của chúng ta vào Chúa nhật này với lời cầu nguyện tuyệt vời của lời nguyện nhập lễ, dẫn chúng ta vào việc cử hành thánh lễ: “Lạy Cha, Đấng an ủi những người nghèo khó và đau khổ và là Đấng lắng nghe những người công chính kêu cầu Cha, xin trợ giúp Hội thánh của Cha, nơi công bố Tin Mừng về thập giá, để có thể tin bằng trái tim và tuyên xưng bằng việc làm của mình rằng Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai. Amen”.

Thứ Hai tuần XXIV Tn

Lễ Suy Tôn Thánh Giá

Ánh nhìn của bạn hướng về Ngài, tình yêu của Ngài dành cho bạn!

Đã bao nhiêu lần trong đời chúng ta cảm thấy mình giống như dân Israel trong sa mạc? Tôi không nói về những con rắn thật, mà là về chất độc xâm nhập vào trái tim khi mọi việc không diễn ra như ý muốn. Đó là chất độc của sự cằn nhằn, của việc than phiền: "Tôi mệt mỏi với công việc này... Tôi không thể chịu đựng được nữa... tại sao mọi chuyện lại xảy ra với tôi?" Đó là một vết cắn không giết chết thân xác ngay lập tức, nhưng làm tê liệt tâm hồn, dập tắt hy vọng và khiến chúng ta bước đi với đầu cúi xuống, chỉ tập trung vào những khó khăn.

Israel cũng kiệt sức; họ than phiền với Chúa và với Môi-se. Rồi Chúa ban cho một phương thuốc kỳ diệu: một con rắn đồng được dựng trên một cây cột. Ai nhìn vào nó đều được chữa lành. Về bản chất, tác giả của bài đọc thứ nhất viết rằng " khi một con rắn cắn ai đó, nếu họ nhìn vào con rắn đồng, họ sẽ sống ." Đó không phải là phép màu, đó là một lời mời gọi đến đức tin: hãy ngừng nhìn chằm chằm vào vết thương và tìm đến phương thuốc mà Chúa ban cho.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giê-su cũng nói với chúng ta điều tương tự: " Như Mô-sê đã giương cao con rắn đồng trong hoang mạc, thì Con Người cũng phải được giương cao lên, để ai tin Người thì được sự sống đời đời ." Như thể Người đang nói với chúng ta: "Các con có bị cắn không? Các con có bị đầu độc bởi sự thất vọng, buồn bã, cô đơn không? Đừng nhìn chằm chằm vào vết thương của mình nữa. Hãy nhìn Ta, Ta đang bị treo trên thập giá."

Thập giá: đối với thế gian là dấu hiệu của sự thất bại, đối với chúng ta là dấu hiệu của tình yêu vĩ đại nhất. Chính nghịch lý ấy cứu rỗi chúng ta. Thánh Augustinô diễn tả điều đó như thế này: " Điều tưởng chừng như cái chết lại trở thành nguồn sống ." Hãy nghĩ về một cuộc tranh cãi với người thân yêu: chất độc của sự oán giận gặm nhấm bạn. Logic của thế gian nói: "Bạn đúng, đừng tha thứ." Tuy nhiên, logic của thập giá mời gọi bạn hướng mắt lên Chúa Kitô, Đấng nói: "Lạy Cha, xin tha thứ cho họ," và ở đó bạn tìm thấy sức mạnh để bước bước đầu tiên. Hoặc bạn bị nghiền nát bởi thất bại, bởi một kế hoạch đổ bể: sự xấu hổ cắn xé bạn. Hãy ngước nhìn thập giá: ở đó bạn thấy một vị Vua dường như đã bị đánh bại, người đã cứu thế giới khỏi chính khu rừng đó. Giá trị của bạn không phụ thuộc vào những thành công của bạn, mà phụ thuộc vào việc bạn được Ngài yêu thương, đúng như con người bạn.

Thánh Phaolô, trong thư gửi tín hữu Philipphê, đã tiết lộ bí mật của sức mạnh này. Chúa Giêsu đã " tự hạ mình ", làm cho mình nhỏ bé, " vâng phục cho đến chết, thậm chí là chết trên thập giá ". Vì lý do này, Thiên Chúa đã " tôn vinh " Ngài. Sự tôn vinh thập giá không phải là chiến thắng của sức mạnh, mà là của tình yêu hiến dâng trọn vẹn. Thánh Gioan Chrysostom nói: " Thập giá đã trở thành chìa khóa vào thiên đường, nó đã xóa bỏ sự thù nghịch giữa Thiên Chúa và loài người ". Khi bạn cảm thấy " trống rỗng "“Trong cuộc sống, khi bạn đã cho đi tất cả và dường như không còn gì nữa, chính vào khoảnh khắc đó, nếu bạn ngước nhìn lên thập giá, sự trống rỗng của bạn sẽ hòa quyện với sự trống rỗng của Ngài và trở thành nguồn sống.

Hôm nay, lễ Suy tôn Thánh Giá, chúng ta không cử hành một công cụ tra tấn, mà là vòng tay yêu thương của Thiên Chúa, Đấng đến với con người ở điểm thấp nhất để đưa họ lên điểm cao nhất. Chúng ta cử hành niềm tin chắc chắn rằng không có chất độc nào mà tình yêu của Ngài không thể chữa lành, không có bóng tối nào mà ánh sáng của Ngài không thể soi rọi.

Và ai hơn bất kỳ tạo vật nào khác biết cách đứng vững dưới thập giá ấy? Đức Mẹ Maria, Mẹ Sầu Khổ. Mẹ không chạy trốn, Mẹ vẫn đứng vững, với trái tim bị đâm thấu và đôi mắt tràn đầy đức tin. Chúng ta hãy cầu xin Mẹ nắm lấy tay chúng ta, dạy chúng ta ngước nhìn lên, không sợ hãi những thập giá hằng ngày, mà hãy xem chúng như nơi ánh mắt chúng ta gặp gỡ ánh mắt của Con Mẹ và tình yêu của Ngài được tuôn đổ trên chúng ta.

Tuần này, chúng ta hãy cố gắng thực hiện một cử chỉ yêu thương nhỏ bé nhưng quý giá: tha thứ, gọi những người cô đơn, dành thời gian của mình cho ai đó. Chúng ta hãy phó thác mọi sự cho Đức Mẹ Maria .” để Mẹ giúp chúng ta nhìn nhận thập giá không phải là gánh nặng vô ích, mà là dấu hiệu của Tình Yêu cứu rỗi. Amen!

+++

Lễ suy tôn Thánh Giá 

Hôm nay Giáo Hội long trọng mừng lễ Suy Tôn Thánh Giá. Dấu chỉ, biểu tượng kitô này luôn hiện diện mỗi ngày trong cuộc sống người kitô hữu, cần được hiểu rõ.

Một ngày sống của người kitô hữu bắt đầu với kinh nguyện và dấu thánh giá trên người. Cần ý thức rằng ta đang vẽ trên mình không phải một dấu chỉ của đau khổ, của buồn sầu, của cực hình, nhưng là dấu chỉ của tình yêu.

Cả con người chúng ta, cả cuộc sống chúng ta được bao bọc bởi tình yêu của Thiên Chúa. Đúng, thập giá là khí cụ khổ hình, tuy nhiên, Chúa Giêsu qua cung cách Ngài sống cuộc khổ nạn, dạy cho ta biết rằng thập giá có thể làm biến đổi: tất cả những gì là ghen ghét biến thành yêu thương, tất cả những gì là thù hận biến thành tha thứ. ‘Lạy Cha, xin hãy tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm’. Điểm thiết yếu của thập giá không phải là cường độ của đau khổ mà Chúa Giêsu phải chịu, nhưng chính là cường độ của tình yêu Thiên Chúa, Đấng không ngại trao ban Con Một mình cho nhân loại để họ được sự sống vĩnh cửu.

Giáo Hội hôm nay mời gọi ta nhìn lên thập giá, một cái nhìn vượt lên trên những dấu chỉ bên ngoài: sự ghê tởm của công cụ khổ nhục phải giúp ta, không phải để bị đè bẹp bởi sự tàn bạo, nhưng để khám phá và chiêm ngưỡng điều không thể dò thấu được: đó là sự vĩ đại của tình yêu Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, đấng đã chịu khổ vì mỗi người chúng ta. Vì việc nhập thể, vì việc hiến trao mạng sống, Đức Giêsu chứng minh cho ta thấy một Thiên Chúa gần kề chúng ta, một Thiên Chúa chỉ có một ước muốn duy nhất là sống trọn vẹn kiếp sống con người của chúng ta (ngoại trừ tội). Nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa tự cởi bỏ thiên tính của mình và đến giữa chúng ta như người tôi tớ.

Ý tưởng đó được nhấn mạnh và giải thích trong bài đọc thứ hai: ‘mặc lấy thân nô lệ’. Thiên Chúa chúng ta là một Thiên Chúa từ trời cao xuống tận kiếp sống của ta, để gặp gỡ chúng ta. Ngài trút bỏ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa để nói với chúng ta: chẳng kể những khác biệt, chẳng muốn đặc ân, chẳng ham bạc vàng, chẳng muốn ở trên người khác…Đau khổ của con là của ta, cái chết của con cũng là cái chết của ta. Cần nhắc lại rằng điều cứu rỗi chúng ta không phải là số lượng những đau khổ hàm chứa nơi thập giá, nhưng chính là tình yêu, một tình yêu với cường độ và trương độ có thể xóa đi khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người.

‘Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống’. Lưu ý động từ ‘xuống’. Thông thường người ta muốn đi lên để gặp những nhân vật ở địa vị cao sang, được mọi người kính trọng. Thiên Chúa thì không như thế! Là một vị Thiên Chúa đi xuống. Để dạy ta rằng điều đáng kể không phải là sống trên những người khác và coi thường họ. Đối với Đức Giêsu, sống là chung chia thân phận, từ đó đặt cuộc sống mình ngang cùng cấp độ với kẻ khác; hơn thế: Đức Giêsu thích nhìn chúng ta từ dưới thấp lên cao. Một cái nhìn nhận biết phẩm giá những người nghèo, nhận ra bà góa nghèo với đồng xu duy nhất là cả cuộc sống của bà, nhận thấy ông Giakêu đang thiếu thốn tình bạn, nhận thấy những kẻ đau bệnh để chữa lành.

Lạy Chúa, chúng con tiếp tục hành trình của chúng con bằng việc chiêm ngắm thập giá của Chúa, mang lại cho chúng con niềm hy vọng, để tiếp tục loan báo tin mừng Nước Thiên Chúa như Ngài. Như Ngài, lạy Chúa Giêsu, chúng con muốn ra đi, xoa dịu các thương tích, bằng cách làm dấu chỉ hòa giải và yêu thương, vì chính dấu chỉ đó chứng thực chúng con là những môn đệ của Chúa. Thế giới sẽ trở lại, nhờ các kitô hữu mang thánh giá vào tận trong cuộc sống, chứ không phải đeo nơi cổ.

+++

‘Ông ấy đáng được Ngài làm ơn cho’, những kỳ mục nài xin Đức Giêsu. Còn chính viên đại đội trưởng thì thưa: ‘Tôi không đáng rước Ngài vào nhà tôi’. Có một sự khác biệt lớn lao giữa công trạng, nghĩa là quyền mà chúng ta nghĩ mình có trên Thiên Chúa, và sự nghèo hèn được viên đại đội trưởng diễn tả. Tại sao lại xảy ra cho tôi điều này? Tôi hỏi và tôi không có đuợc câu trả lời. Danh sách những cố gắng ta nhắm mặc cả với Thiên Chúa có lẽ còn dài lắm. Con người, trước sự bất lực và khổ sở của mình, hướng về Thiên Chúa, nơi đấng mà họ thấy thực hiện toàn bộ những nhu cầu của họ, và trong một thái độ rất đẹp cho dẫu gần với lối suy nghĩ của người ngoại đạo, đó là con người được an ủi khi nghĩ rằng Thiên Chúa không thể không đáp trả bằng cách ban phát tất cả những gì họ cần. Tuy nhiên con người vẫn luôn bị cám dỗ mặc cả với Thiên Chúa. Tự nhiên con người nghĩ rằng lời cầu nguyện sinh ra một loại ‘bổn phận’ mà Thiên Chúa phải thực hiện.

Thiên Chúa là Cha. Ngài biết rõ những nhu cầu của ta và, vì Ngài có trái tim phụ tử, Ngài sẽ rất vui lòng khi chúng ta diễn tả những nhu cầu ấy cho Ngài. Ngài chờ đợi thái độ hiếu thảo của ta, dệt bằng lòng phó thác tuyệt đối. Đứa con chờ đợi tất cả từ cha mình. Một thiếu niên yêu cầu quyền lợi của mình, một người trưởng thành nhìn nhận sự nghèo hèn bẩm sinh của mình trước đấng mình lệ thuộc. Đó là tình cảnh của ta đối với Thiên Chúa: ‘Tôi không đáng rước Ngài vào nhà tôi’, để rồi ta được nghe câu trả lời: ‘Cả trong dân Israel, tôi cũng chưa thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế’. Vì lẽ đức tin không phải là yêu sách của con người đối với Thiên Chúa. Đức tin là lòng phó thác vào sự toàn năng của Thiên Chúa, đấng có thể thực hiện điều lớn lao hơn nhiều những ao ước của ta. ‘Về đến nhà, những người được sai đi thấy người nô lệ đã khỏi hẳn’.

Thứ Ba tuần XXIV Tn 

Lễ Mẹ Sầu Bi

Mẹ Maria, Mẹ của Chúa Giêsu, đã đứng bên cạnh thập giá của Con mình. Sự nhấn mạnh này là cần thiết: bên cạnh thập giá của Chúa Giêsu. Điều này cần thiết bởi vì đôi khi chúng ta mang gánh nặng của một thập giá lớn, nhưng không phải là thập giá của Chúa Giêsu! Thường thì chúng ta tự nhủ: "Chúa Giêsu đã gửi cho tôi thập giá này!" Bên cạnh việc Chúa Giêsu không gửi thập giá, chúng ta cũng nên tự hỏi liệu thập giá đó có phải là một thập giá (một gánh nặng) nằm ngoài ý muốn của Chúa hay không. Đôi khi thập giá nặng nề vì nó xuất phát từ tội lỗi của chúng ta; đôi khi nó nặng nề vì chúng ta khao khát những điều không phải là ý muốn của Chúa dành cho chúng ta; đôi khi nó nặng nề vì chúng ta không chấp nhận thực tại như nó vốn có. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu nói với chúng ta: "Hãy đến với Ta, tất cả những ai đang mệt mỏi và gánh nặng, Ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi. Hãy mang ách của Ta và học hỏi nơi Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng, và các ngươi sẽ tìm được sự yên nghỉ cho linh hồn mình. Vì ách của Ta dễ chịu, và gánh nặng của Ta nhẹ nhàng" (Mt 11:28-30). Lời này cho chúng ta biết rằng có một sự mệt mỏi, một sự áp bức, một sự bồn chồn đến từ việc không mang ách của Chúa Giê-su. Thay vào đó, đó là một sự mệt mỏi thánh thiện, sự mệt mỏi đến từ nhận thức rằng chúng ta đã cố gắng hết sức để làm theo ý muốn của Chúa. Đó là lý do tại sao Chúa Giê-su nói với chúng ta rằng bằng cách mang lấy ách của Ngài, chúng ta sẽ tìm thấy sự bình an cho tâm hồn mình. Vì vậy, hôm nay, chúng ta muốn tự hỏi: gánh nặng mà chúng ta đang mang, những khó khăn mà chúng ta đang đối mặt, có phải là một phần trong ý muốn của Chúa không? Và một lần nữa, vì có chép rằng: "Tôi có thể làm được mọi sự nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi" (Phi-líp 4:13), tôi có đang cầu xin Chúa ban ân điển và sức mạnh để đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống hay tôi nghĩ rằng mình có thể tự mình làm được?

"Chúa Giê-su nói với mẹ Ngài: ‘Thưa Bà, này là Con Bà!' Rồi Ngài nói với môn đệ: 'Này, là mẹ con!'" (19:25-27). (Với những lời này của Chúa Giê-su), trong khoảnh khắc đó, Ma-ri lại trở thành một người mẹ. Tình mẫu tử của Mẹ được mở rộng trong hình ảnh người con trai mới sinh, lan tỏa đến toàn thể Giáo hội và toàn nhân loại. Và ngày nay, chúng ta không thể nghĩ về Đức Mẹ mà không nghĩ đến Mẹ như một người mẹ. Và trong thời điểm chúng ta cảm nhận được sự "mồ côi", từ này có ý nghĩa rất lớn. Chúa Giêsu nói với chúng ta: "Ta sẽ không bỏ các con mồ côi, Ta sẽ ban cho các con một người mẹ." Một di sản cũng là niềm tự hào của chúng ta: chúng ta có một người mẹ, luôn ở bên cạnh chúng ta, bảo vệ chúng ta, đồng hành cùng chúng ta, giúp đỡ chúng ta, ngay cả trong những lúc khó khăn, những lúc tồi tệ" (Đức Giáo Hoàng Phanxicô, ngày 15 tháng 9 năm 2015).

+++

Những giọi lệ của người mẹ

‘Lạy Chúa, xin lấy vò mà đựng nước mắt con’. Tại Naim người ta đang đi đưa đám tang: cái chết đã nhằm đến một thanh niên, đứa con trai duy nhất của bà mẹ góa. Những giọt nước mắt của bà, cùng với đoàn người than khóc đang đi theo chiếc quan tài. Đức Giêsu đang cùng ở trên con đường ấy với đám đông; ngài nghe tiếng khóc và ngài cũng hòa mình vào đoàn đưa đám, ngài cũng đang đi trên con đường của sự chết, tất cả đều là những người hay chết và đang trải qua thung lũng đầy nước mắt này. Tuy nhiên Ngài muốn chứng tỏ sứ vụ cứu độ của mình. Sau khi sống lại Ngài sẽ tuyên bố: ‘Ta đã chiến thắng sự chết’. Ngài nói điều đó để tuyên bố rằng ngài đã sống lại nhưng cũng để nói rằng chúng ta cũng được tiền định để hưởng sự sống. Ngài nói với chàng thanh niên đang nằm bất động trong quan tài: ‘Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy chỗi dậy’. Đức Giêsu trao anh ta cho bà mẹ.

Hiệu quả của phép lạ không chỉ là niềm vui cho người mẹ, thấy đứa con mình đang sống, nhưng nhất là lời công bố của đám đông đi theo Đức Giêsu: ‘Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người’. Tuyên bố Đức Giêsu là ngôn sứ đồng nghĩa với việc khẳng định Ngài nói nhân danh Thiên Chúa những chân lý vĩnh cửu. Tuyên bố Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người là tuyên bố trong niềm tin rằng Đấng toàn năng đã can thiệp cách cụ thể trong dòng lịch sử, trong các biến cố của thế giới. 

Lạy Chúa, xin hãy đến viếng thăm chúng con hôm nay, biết bao giọt lệ đang cần được lau khô, biết bao kẻ sống người chết đang được mang đi chôn…!

Thứ tư Tuần XXIV Tn 

Thánh Cornêliô và Cyprianô 

Cornêliô (251-253), giáo hoàng và mục tử nhân hậu, hoạt động cho việc hòa giải của các kitô hữu vì yếu lòng tin đã nhượng bộ trong các cuộc bách hại. Bảo vệ tính hiệp nhất của Giáo Hội chống lại các ly khai mới, được Ciprianô giúp đỡ. Bị hoàng đế Gallo lưu đày, chết tại Civitavecchia (Roma), an táng trong nghĩa trang Callistô. 

Cyprianô, sinh 210 tại Carthage, Tunisie. Chết ngày 14.09 năm 258. Là dân ngoại trở lại kitô giáo năm 245. Được tấn phong Giám Mục năm 249. Đóng góp nhiều cho giáo lý về tính hiệp nhất của Giáo Hội quy tụ quanh Thánh Thể, dưới sự hướng dẫn của Giám Mục. Chết tử đạo trong cuộc bách hại của Valêrianô. 

+++

Trong bài tin mừng hôm nay, Đức Giêsu diễn tả hết sức sinh động thái độ trẻ con của những đứa trẻ không bằng lòng, đấu đá nhau bằng những lời quở trách. Chúng chẳng bao giờ đồng thuận với nhau, khước từ mọi đề nghị cuộc chơi. Chúng không muốn chơi trò đám cưới; chúng không diễn tả niềm vui. Như vậy có thể chuyển qua chơi trò đưa đám tang? Cũng không. Chúng cũng không thích hợp.

Đức Giêsu sử dụng cách đó để lột mặt thái độ tinh thần của nhiều người trưởng thành thời của ngài, nhất là của các biệt phái và tiến sĩ luật, được nêu danh ít lâu trước đó (Lc 7,30). Đức Giêsu quan sát thấy rằng chính họ cũng không đồng thuận với nhau. Họ luôn muốn nhắc lại, nhất là khi đề cập đến một sứ giả của Thiên Chúa đến với lời mời gọi sám hối. Thay vì nghiêm túc đón nhận sứ điệp của Thiên Chúa, họ dò xét người sứ giả và tìm đủ mọi cách để có cớ khinh thường vị này và từ đó cũng không đón nhận sứ điệp của Thiên Chúa.

Gioan Tẩy Giả đã đến sống nhiệm nhặt trong hoang địa, không ăn bánh, không uống rượu nho, nhưng bằng lòng với lương thực tìm thấy được trong hoang địa. Sự nhiệm nhặt như thế lẽ ra phải khiến cho những lời ngôn sứ của ông thêm uy tín. Thì lại trở thành đề tài chỉ trích cho các biệt phái và tiến sĩ luật, tự xem mình là chuyên gia về tôn giáo, cho rằng thái độ sống của Gioan là không hợp lý, không phải do Thiên Chúa linh hứng; nên có lẽ đến từ ma quỷ. Họ chẳng thèm quan tâm đến vị ngôn sứ dị kỳ này nữa. 

Suy nghĩ đoạn tin mừng này, ta đừng quên áp dụng cho chính mình. Có lẽ chúng ta cũng chẳng khác nào lũ trẻ con không đồng thuận với nhau? Và cũng giống như các biệt phái và tiến sĩ luật chỉ trích Đức Giêsu về mọi đề nghị thay đổi đời sống?

Trong bản dịch tin mừng, có một từ hết sức ý nghĩa nhưng lại khó dịch chính xác. Khi nói về bọn trẻ con Đức Giêsu nói rõ chúng ‘ngồi’. Chúng ta có thể hiểu rằng lũ trẻ này từ khước mọi đề nghị bởi vì chúng không muốn đứng dậy và di chuyển. Cũng thế những lời chỉ trích của các tiến sĩ luật thực sự là một cách thế để bảo vệ ‘chủ nghĩa bất động’ thiêng liêng của họ. Họ không muốn thay đổi, không muốn từ khước cái vị thế cố định của họ để mặc lấy một lộ trình mới ngoan ngùy theo hướng dẫn của Thần Khí. Nên ta có thể hiểu rằng những chỉ trích chống lại các sứ giả của Thiên Chúa thường là loại này. Chúng chỉ trích để khỏi hành động, để khỏi vâng phục Chúa.

+++

Khi nhắc lại một câu châm ngôn cổ Do thái, Đức Giêsu cho ta thấy một nhóm các đứa trẻ (bị hội chứng điếc), không nghe bất cứ lời khiêu khích nào để bắt đầu một trò chơi. Sự lười biếng của các trẻ này giống như bệnh điếc lác của dân Israel khi họ từ chối những lời dạy của Gioan Tẩy Giả và của Đức Giêsu. Ngài lột mặt nạ của họ, một lần cho tất cả, để lộ ra bộ mặt giả hình. Phía sau thái độ thụ động kia ẩn giấu một con tim chai cứng, chai cứng trước bất cứ lời kêu mời nào. Hội chứng điếc của Israel thật ra cũng chính là bệnh của mỗi người chúng ta, khi chúng ta không nhận biết ơn cứu độ đích thực mà Đức Giêsu mang đến. 

+++

“Tình yêu không bao giờ thất bại” 1 Cr 13:8

Có vẻ như vậy, nhưng đây không chỉ là một lời nói suông. Nó mạnh mẽ như một con đập chống lại sự ập đến của dòng nước lớn. Hãy thử suy nghĩ về điều đó.

Tôi có thể sở hữu một lượng lớn những thứ đẹp đẽ và quý giá: một biệt thự với khu vườn rộng lớn tuyệt đẹp được tô điểm bằng nhiều loại hoa; nhưng những bức tường sẽ bị thời gian tàn phá. Chưa kể đến những bông hoa, những cái cây, nếu không được chăm sóc, sẽ mất đi màu sắc, hương thơm, và thậm chí cả sự sống.

Hãy nghĩ đến những núi tiền giấy, tiền mặt. Những âm mưu quan liêu và những thay đổi đột ngột trong lợi ích kinh tế do những người nắm giữ của cải lớn nhất thế giới thao túng có thể, chỉ sau một đêm, khiến những khoản tiền khổng lồ sụp đổ. Tuổi trẻ trôi qua nhanh chóng. Sự thoải mái và những khả năng được mong muốn nhất cũng qua đi theo thời gian.

Chỉ có một điều không bao giờ mất đi: đó là lòng bác ái, tức là tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta và tình yêu mà vì Ngài, chúng ta cố gắng dành cho tha nhân cũng như cho chính mình.

Dưới bầu trời ảm đạm với dấu hiệu của những cơn mưa mùa thu, trong lòng tôi có ánh sáng của sự chắc chắn này: mọi thứ đều trôi qua ngoại trừ điều quan trọng nhất: cảm nhận được tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa, tin tưởng điều đó bằng tất cả sức lực của mình, và học cách tin rằng, với sự giúp đỡ của Ngài, tôi sẽ luôn có thể yêu thương đúng cách, tức là phù hợp với giới răn của Ngài.

Lạy Chúa, xin cho hơi thở dịu dàng của Thánh Linh Ngài giữ cho đức tin vào Tình Yêu vĩnh cửu của Ngài và khả năng yêu thương trong Ngài và vì Ngài không bao giờ mệt mỏi luôn sống động trong con!

Thứ Năm tuần XXIV Tn 

Lòng thương xót, niềm vui của Thiên Chúa Đấng yêu đến độ tha thứ tất cả, niềm vui của Thiên Chúa Đấng nhìn thấy người phụ nữ đang làm một hành vi đức tin vào tình thương của Ngài. Tin vào tình thương. Tin vào lòng thương xót để trở nên nhân chứng của tình thương, của lòng thương xót, bởi lẽ thế giới đang cần đến lời chứng này. Là một thế giới cứng cỏi. không tin vào tình thương nhưng không, vào tình thương tự hiến chính mình, vào lòng thương xót.Ta đừng tự than trách về sự cứng cỏi của thời đại bởi vì lòng thương xót của Thiên Chúa hành động cách hiệu quả. Tôi là chứng nhân sống động về điều này, bởi vì Đức Kitô đang họa lại nơi tôi lịch sử của người phụ nữ tội lỗi.

Ý thức mình là hoa quả của lòng thương xót Thiên Chúa. Đức Kitô cho ta một dấu chỉ của lòng thương xót dịu dàng của Ngài nơi bí tích hòa giải. Đối với ta, đây có phải thường xuyên là suối nguồn sự sống không? Ta có để cho Đức Kitô vui mừng vì tha thứ cho ta không? Quả thật đây là bí tích thống hối: một hành vi đức tin vào tình thương. Thường thì ta lánh xa bí tích này. Vì ta thường nghĩ rằng đó chỉ là việc xưng thú tội lỗi của mình: việc xưng thú quả thật là điều quan trọng. Là một hành động của một con người tự do nhìn nhận mình là kẻ đáng thương và là tội nhân trước mặt Thiên Chúa. Lẽ ra ta nên nghĩ đến niềm vui của Thiên Chúa, Đấng, mà mỗi một lần con người, bằng một hành vi tự do và tự quyết, quay trở về với Ngài để được tha thứ, được nhìn nhận là Tình Yêu Thương Xót.

Nhờ bí tích sám hối, người tín hữu được thanh tẩy, nhìn nhận mình là đối tượng của việc tha thứ và do đó có thể trở nên chủ thể lòng thương xót. Họ sẽ có thể chứng nhận rằng Thiên Chúa là tình yêu, nếu chính mình để bản thân được tái sinh trong tình yêu. Bí tích sám hối là việc thực hiện lời sấm ngôn: ‘Ta sẽ ban cho các người một quả tim mới’. Lòng sám hối là việc thay đổi con tim. Con người dâng cho Thiên Chúa quả tim chai đá do tội lỗi của riêng minh và Thiên Chúa sẽ làm nó tái sinh, ôm ấp nó bằng sự tha thứ. Người tín hữu được thanh tẩy như thế đến lượt mình sẽ có khả năng yêu thương và tha thứ.

+++

Lòng mến tri ân 

Phaolô viết cho Timôtêô: ‘Đừng thờ ơ với đặc sủng đang có nơi anh, đặc sủng Thiên Chúa đã ban cho anh khi hàng kỳ mục đặt tay trên anh’. Chúng ta hôm nay cầu nguyện đặc biệt cho các linh mục và các kitô hữu, để tất cả ý thức hơn về đặc sủng của thánh chức linh mục và coi trọng hơn. 

Bài tin mừng thật súc tích, chỉ xin để ý một điểm nhấn để hiểu rõ lời Chúa hơn: tình yêu Thiên Chúa luôn đi trước mọi điều con người thực hiện. Người biệt phái, tự phụ, không nhận biết những ân huệ của Chúa, anh ta tin rằng chính mình làm điều này điều kia cho Chúa: anh không yêu Thiên Chúa. Người phụ nữ tội lỗi, ngược lại, biết đón nhận thật nhiều vì món nợ của bà lớn lắm: được Chúa tha vì đã yêu mến nhiều. Ai yêu mến nhiều? Người được Chúa tha nhiều. Điều đó không có ý muốn nói, như thông thường ta giải thích, rằng bà ta nhận được sự tha thứ cho muôn vàn tội của bà vì bà đã yêu nhiều, nhưng ngược lại: tình yêu của bà là dấu chỉ bà đã nhận được ân huệ lớn lao của Thiên Chúa: ơn tha thứ. Vấn nạn của người biệt phái là: ‘nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng đến mình là thứ người nào: một người tội lỗi!’ Bây giờ Đức Giêsu không chỉ nhận biết chị như người tội lỗi: Ngài nhận biết chị như người tội lỗi được tha thứ, vì nhìn thấy lòng mến của chị. Sự tha thứ của Thiên Chúa luôn đi trước, làm cho ta hiểu được tình yêu vô tận của Ngài và gợi lên nơi ta sự đáp trả. 

‘Còn ai được tha ít thì yêu mến ít’. Lời xác quyết thứ hai này củng cố cho lời xác quyết thứ nhất. Không phải chúng ta yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Ngài yêu chúng ta trước. Bổn phận chúng ta là nhận ra tình yêu qua các ân huệ Ngài ban tặng cho ta, qua những lần tha thứ. Đó là điều kiện cần cho lòng mến của chúng ta. Nếu không, chúng ta sẽ giống như người biệt phái, tin rằng chính mình làm cho Thiên Chúa, không nhận ra tình yêu của Ngài và cuối cùng, không yêu Ngài. 

Cầu xin Chúa ban cho ta ơn biết nhận ra rằng tình yêu của Chúa luôn đi trước. Trong lời nguyện tiến lễ, Giáo Hội luôn nhận biết điều đó: ‘Chúc tụng Chúa là chúa tể càn khôn, vì Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này…rượu này’, nhờ đó chúng con mới có thể tiến dâng lên Chúa. Chúng ta sẽ là những người khoác lác nếu nghĩ cách kiêu căng rằng chúng ta làm cho Chúa điều này điều nọ mà không nhận biết mình đã nhận trước tiên từ nơi Ngài. Lòng mến đích thực đối với Chúa luôn luôn là một lòng mến tri ân.

+++

"Vì tôi đã truyền lại cho anh em điều quan trọng nhất mà tôi đã nhận được: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta theo như Kinh Thánh, và Ngài đã được chôn cất, và Ngài đã sống lại trong ngày thứ ba theo như Kinh Thánh, và Ngài đã hiện ra với Kê-pha, rồi với mười hai sứ đồ. Sau đó, Ngài hiện ra với hơn năm trăm anh em cùng một lúc, hầu hết trong số họ vẫn còn sống, mặc dù một số đã qua đời. Rồi Ngài hiện ra với Giacôbê, rồi với tất cả các sứ đồ. Cuối cùng, Ngài cũng hiện ra với tôi, như một người sinh non. Vì tôi là người nhỏ nhất trong các sứ đồ, không xứng đáng được gọi là sứ đồ, bởi vì tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Chúa." 1 Cr 15:3-9

Đoạn Kinh Thánh này rất quan trọng. Thật vậy, nó tóm tắt nội dung của Đức Tin chúng ta. Đó là Mầu nhiệm Phục Sinh: hạt nhân của lịch sử Cứu độ mà qua đó lòng chúng ta có thể tìm thấy sự bình an trong một sự chắc chắn mang lại bình an đích thực.

Chính vì sự thiếu hiểu biết như vậy mà chúng ta, những người Kitô hữu, bị buộc tội về sự cả tin. Thực tế là trái tim chúng ta, được nâng đỡ bởi những lý lẽ lịch sử và đức tin, có thể vượt lên trên lý trí, nhưng không bao giờ đi ngược lại lý trí đúng đắn.

Thử thách nằm ở việc Chúa Giê-su chết trên thập tự giá vì một tình yêu lớn lao hơn cả tình yêu – dù sâu sắc và quảng đại – đã từng đánh dấu những câu chuyện về sự “hiến thân” của con người. Tuy nhiên, thử thách của đức tin trên hết là thử thách của “ngày thứ ba”. Thánh Phaolô nói: “Nếu Đức Kitô không sống lại, thì đức tin của chúng ta sẽ vô ích.” (1 Cr 15:14)

Chính tại đây, bóng tối bị xé tan. Nếu chúng ta tin vào văn bản thiêng liêng đã tập hợp những lời chứng của các nhân chứng, thì chúng ta đang sống động, trên con đường ánh sáng.

Lạy Cha, cơn khát chân lý của con đã được dập tắt. Trên ngưỡng cửa của Mầu nhiệm, Ngôi Lời ban cho con sự chắc chắn quan trọng: Chúa Giê-su đã sống lại, chiến thắng cái chết. Và con xin phó thác mình cho chân lý này, để làm chứng hôm nay.

Tiếng nói của một vị Giáo hoàng thánh thiện: “Làm tốt những gì con làm, trước ánh mắt của Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương con và vẫn yêu thương con.” Hãy thực hành điều này ngay từ những hành động đầu tiên của buổi sáng."

Thứ Sáu tuần XXIV Tn 

Các phụ nữ giúp đỡ Chúa 

Trong đời sống công khai Đức Giêsu đã khơi dậy lòng quảng đại giúp đỡ của nhiều phụ nữ đi theo Ngài. Chắc chắn các bà đã không ‘coi việc giữ đạo là một nguồn lợi’ như Phaolô viết cho Timôtêô. Họ là những người được chữa lành, giải thoát, đã nhận từ nơi Chúa ý nghĩa đích thực cho cuộc sống, do đó họ sẵn sàng dâng cúng. Tất cả các thánh sử đều nhắc đến họ, nhưng các thánh sử khác chỉ nhắc đến trong tường thuật khổ nạn, vì họ trung thành đến cùng, trong khi các tông đồ trốn chạy. Và chúng ta còn gặp lại họ vào buổi sáng phục sinh, vì họ là những người đầu tiên đến mộ Chúa. 

Đức Giêsu thấu hiểu tấm lòng của các bà, biết lòng quảng đại của họ. Ngài muốn họ cùng đồng hành với Ngài vì họ giúp ích cho sứ vụ của Ngài. Ngài đã kêu gọi Nhóm Mười Hai để họ ở với Ngài, và Ngài cũng gọi các bà để họ cũng ở với Ngài. 

Luca là thánh sử viết về các bà nhiều hơn hết, vì tin mừng của ông trình bày những mối liên hệ cá biệt, thân tình với Chúa. Thánh Matthêô có một cái nhìn rộng hơn: viết cho cả Giáo Hội; Mátcô, đặc biệt chú trọng đến mầu nhiệm con người của Đức Giêsu; Luca quan tâm nhiều những mối liên hệ giữa con người với nhau, nhạy cảm hơn về vai trò của các bà trong cuộc đời của Đức Giêsu và các môn đệ Ngài. Máthêô, chẳng hạn, viết về thời thơ ấu của Đức Giêsu từ quan điểm của Thánh Giuse, trong khi Luca trong viễn cảnh của Maria, và trong tin mừng của Luca ghi lại nhiều giai đoạn có sự xuất hiện của các phụ nữ, mà các tin mừng khác không nói đến: ví dụ như việc làm cho con trai của bà góa thành Naim sống lại. Cũng chính Luca, trong tường thuật khổ nạn, nói đến việc các phụ nữ thành Giêrusalem khóc thương Chúa. 

Các bài đọc hôm nay gợi lên cho chúng ta nhiều ý hướng cầu nguyện. Cầu cho các kitô hữu thời đại chúng ta biết tránh xa những hiềm khích, đố kỵ. cầu cho chúng ta biết tránh cám dỗ tiền bạc. Cầu cho những ai muốn làm giàu bằng mọi giá, để họ biết rằng sự ham muốn tiền bạc vô độ là cội rễ mọi sự dữ. Cầu cho các kitô hữu luôn hướng tìm điều thiện đích thực: là lòng tin, lòng mến, sự nhẫn nại, hiền hòa.

+++

1 Cr 15:20:  Chúa Kitô đã sống lại từ cõi chết, là hoa quả đầu mùa của những người đã ngủ.

Đó là trọng tâm của sứ điệp Kitô giáo. Nếu chúng ta bỏ qua điều này, mọi thứ sẽ sụp đổ, và, như Thánh Phaolô nói, chúng ta là những người Kitô hữu sẽ "đáng thương hơn bất kỳ người nào khác". Đây là một chân lý mà chúng ta thường xem nhẹ, và vì vậy chúng ta vô tình làm mất đi ý nghĩa của nó, giảm thiểu nó xuống thành... "một câu chuyện thiếu nhi hay" hoặc một "liều thuốc an thần" được dùng đến trong những trường hợp tuyệt vọng. "Chúa Giê-su đã sống lại", do đó xác nhận công việc và Lời của Ngài. Cử chỉ yêu thương cao cả, mà sự chết của Ngài vì chúng ta thể hiện, do đó được tách rời khỏi dòng chảy không ngừng của thời gian. Tất cả chúng ta đều có thể rút ra từ nguồn sự sống này và tham gia vào chiến thắng của Ngài trước sự chết và sự ác. Thật vậy, Ngài là "hoa quả đầu mùa của những người đã ngủ". Sự phục sinh của Ngài là một lời hứa của tôi; đó là sự chắc chắn rằng tôi cũng sẽ sống lại; quả thật, tôi đã sống lại. Tin tưởng là sống trong sự chắc chắn này; đó là tuyên bố cho mọi người rằng lời cuối cùng thuộc về Sự Sống. Chúng ta phải mang niềm hy vọng này đến thế giới, đặc biệt là ngày nay, khi các thế lực tà ác đang liên kết, trong khi cảm giác tuyệt vọng và bất lực đang lan rộng trong phần lớn mọi người. Chúng ta đừng quên rằng sự phục sinh không thể tách rời khỏi Thứ Sáu Tuần Thánh, khi "bóng tối bao trùm khắp mặt đất", khi Chúa Kitô kêu lên từ thập tự giá: "Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con?" Đức tin không phải là một chính sách bảo hiểm chống lại mọi rủi ro trên đường đời; nó không miễn trừ chúng ta khỏi việc đắm mình trong lịch sử, chia sẻ những lo lắng, đau khổ và đấu tranh của anh chị em chúng ta. Điều chúng ta được kêu gọi mang đến thêm là ánh sáng của hy vọng, hy vọng Kitô giáo, vốn đã chắc chắn vì nó được xây dựng trên thực tại của sự phục sinh của Chúa Kitô.

Hôm nay, khi trở về với trái tim mình, tôi sẽ tự hỏi: việc Chúa Kitô sống lại có tác động như thế nào đến cuộc sống của tôi? "Niềm tin" của tôi có nuôi dưỡng hy vọng trong tôi và do đó, sự tận tâm ngay cả khi mọi thứ dường như đang sụp đổ không? 

Thứ Bảy tuần XXIV Tn 

Mảnh đất tốt! Dụ ngôn gieo giống thật đánh động vì tính đòi buộc. Nhưng ta đừng rơi vào những vấn nạn giả tạo. Quả vậy, ta nên tự hỏi mình đang là loại mảnh đất nào. Nhưng đây không phải là việc chúng ta tìm ra năng động cần thiết để trở thành mảnh đất tốt nơi đó lời phát sinh gấp trăm lần. Ta nên nhìn, chiêm ngắm thánh ý của Thiên Chúa, Đấng muốn gieo vào lòng ta. Hạt giống thì rất phong phú: “Người gieo giống ra đi gieo hạt”. Con Thiên Chúa đã ra đi, đã đến giữa con người để gieo sự sống của Thiên Chúa, để gieo cách phong phú. Là đối tượng lòng thương của Thiên Chúa Đấng xem cuộc đời của ta như là cánh đồng nhằm phát triển. Thiên Chúa chúng ta là một vị Thiên Chúa đòi hỏi vì Ngài là một Thiên Chúa quảng đại.

Lòng quảng đại của Thiên Chúa còn vượt nhiều hơn nữa. Thiên Chúa là Đấng duy nhất có khả năng chuẩn bị cánh đồng là tâm hồn chúng ta để sẵn sàng đón nhận lời của Ngài. Quả vậy, Ta phải thức tỉnh để tránh cạm bẫy của tên cám dỗ, để loại bỏ những đá sỏi và gai góc, nhưng ta cần tín thác quay về với Thiên Chúa Đấng ban tặng mọi điều thiện hảo.

Thiên Chúa muốn làm cho cuộc đời ta phát sinh hoa quả. Ngài cũng có thể làm như thế cho tâm hồn ta. Ta là kẻ đáng thương trước mặt Ngài và chỉ khi ta biết hướng về Ngài tự sâu thẳm của thống khổ lòng mình, ta mới có thể trở nên ‘mảnh đất màu mỡ’. 

+++

Lời mang sự sống 

Sự lạm dụng lời nói ngày nay làm chúng ta nghi ngờ về hiệu quả của nó. Quảng cáo, tuyên truyền…đầy vào trong tâm trí chúng ta khiến không còn cho cái gì vào được nữa. Tuy nhiên lời nói của con người là điều kỳ diệu, đưa đến sự sống. Nếu một đứa trẻ chẳng bao giờ nghe được một lời nói từ mẹ nó, nó không thể nhận được sự sống con người cách đích thực được, có thể sẽ giống như con vật. Chính người mẹ gợi lên trí khôn cho con, và làm phát sinh dần dần nhưng ý tưởng, những tình cảm. Thật tuyệt diệu đến thế mà chúng ta hiếm khi nghĩ đến, vì quá quen nghe những lời chẳng có ý nghĩa gì và chẳng mang lại ích lợi gì. 

Còn lời của Chúa thì vô cùng phong phú, vì đưa ta đến sự sống thần linh. Chúng ta cần có sự kính trọng đối với lời Chúa như thánh Giacôbê nói: ‘Hãy khiêm tốn đón nhận lời đã gieo vào lòng anh em; lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em’ (Gc 1,21). Đức Giêsu cũng nói như thế. Lời Ngài thanh tẩy các tông đồ, làm cho các ông trở nên bạn hữu của Ngài: ‘Thầy không còn gọi các con là tôi tớ nữa, nhưng là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha, thì Thầy đã cho các con biết’. Đức Giêsu đã nghe lời của Chúa Cha, đã truyền đạt lại và lời đó mang lại sự sống mới, sự sống thân tình với Thiên Chúa. 

Nhưng, như thánh Luca viết, chỉ đón nhận thôi thì chưa đủ; cần phải nhẫn nại, kiên trì để lời Chúa sinh hoa kết quả nữa. Không chỉ nghe lời mà còn phải gìn giữ lời cả những lúc gặp trở ngại, cả khi kẻ thù bóp nghẹt, làm cho lời Chúa rời xa tâm trí ta để khỏi làm biến đổi cuộc sống của ta. 

Gương mẫu của Mẹ Maria, đón nhận và tuân giữ lời Chúa: ‘Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin hãy thành sự cho tôi những lời đã phán’. Và ‘Ngôi Lời đã thành nhục thể’. Việc Mẹ Maria đón nhận, một cách nào đó, đã cho phép lời biến thành nhục thể để mang lại ơn cứu độ cho mọi người.

+++

"Ngươi gieo cái gì, cái ấy phải chết rồi mới được sống." 1 Cr 15:36

Khi đứng trước một biển bắp vàng óng dưới ánh nắng hè sớm, tôi vui mừng chiêm ngưỡng cảnh tượng ấy, một cảnh tượng không chỉ mang lại niềm vui thẩm mỹ. Tuy nhiên, tôi cần phải xem xét rằng kỳ quan của những bắp ngô vàng óng này đến từ một nắm hạt giống đen kịt rải rác trên cánh đồng. Và mỗi hạt giống đều trải qua một quá trình chết đi để phục vụ cho sự sống.

Để bén rễ, nảy mầm và rồi đơm hoa kết trái, cần một thực tế mà thoạt đầu có vẻ rất khó chịu. Hạt giống, để nảy mầm thành cây mới sẽ trở thành bắp ngô, nhất định phải chết đi.

Tôi nhớ lại cảnh tượng những cánh đồng nơi những bắp ngô được gió nhẹ lay động. Đây là sự tương phản: chiến thắng của những bắp ngô chín mọng và một số lượng nhỏ những hạt giống dường như không đáng kể.

Ngay cả trong đời sống tâm linh của tôi, cũng có những dịp dường như rất ít giá trị; Nhưng nếu tôi chấp nhận nỗi đau vốn có trong chính hoàn cảnh đó, nếu tôi đón nhận sự hy sinh mà tôi phải thực hiện để hoàn toàn biến hoàn cảnh đó thành điều tốt đẹp, thì một quá trình chết đi diễn ra trong tôi, nhưng đó là vì sự sống.

Tôi nghĩ đến những lúc tôi phải từ bỏ một cuộc trò chuyện thú vị để làm việc nhà; hoặc khi tôi phải kìm nén lời an ủi dành cho người đã nói những điều khó chịu. Không cần phải đơn giản hóa thêm nữa...

Lạy Chúa, trong những ngày của con, biết bao nhiêu cái chết nhỏ bé đối với cái tôi của con, đối với ham muốn vui chơi của con, đối với những tình huống thuận lợi và chính đáng khác...

Xin soi sáng cho con, đúng lúc, và an ủi con. Xin giúp con hiểu rằng trong đời sống tâm linh của con, không có sự từ bỏ vì mục đích từ bỏ, cái chết vì mục đích chết; ngay cả trong những tình huống bình thường. Thay vào đó, có những cái chết nhỏ bé vì một cuộc sống vĩ đại. Giống như cái chết của hạt giống vì những bông lúa sẽ cho ra bánh mì ngon.

Xin ban cho con thật nhiều tình yêu thương, lạy Chúa! Khi con có thể tận hưởng điều gì đó và cả khi con được kêu gọi từ bỏ nó. Xin hãy biến đổi trái tim con về với Ngài.

Có một tiếng nói vang vọng đến tận hơi thở cuối cùng của con người: hãy biến đổi ngay hôm nay.

Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Anrê Kim Têgon và Các Bạn tử đạo

Tác động của Thánh Thần, đấng muốn thổi đâu thì thổi, cùng với việc tông đồ của các người giáo dân làm nên cội nguồn cho Giáo Hội Chúa trên đất Đại Hàn. Hạt mầm đầu tiên của niềm tin công giáo do một người giáo dân Đại hàn mang về năm 1784 từ Bắc Kinh, đã trổ sinh hoa trái vào giữa thế kỷ XIX qua việc tử đạo của 103 thành viên của cộng đoàn non trẻ. Phải kể đến Anrê Kim Teagon, vị linh mục tiên khởi đại hàn và người tông đồ giáo dân Phaolô Chong Hasan. Những cuộc bách hại tiếp nối nhau từ 1839 đến 1867, hầu như bóp nghẹt niềm tin của các tân tòng, lại mang mùa xuân Thánh Thần cho Giáo Hội non trẻ. Ngày 06/05/1984 trong chuyến tông du mục vụ đến đất nước xa xôi này Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã ghi vào sổ các thánh các vị tử đạo Đại Hàn. 

Thánh Matthêô

Trong bài tin mừng hôm nay Matthêô tự thuật lại ơn gọi của chính mình. Thánh Giêrônimô lưu ý rằng chỉ có ngài, trong sách tin mừng của ngài, đã dùng chính tên riêng của mình Matthêô; trong khi các vị thánh sử khác, thuật lại việc này, gọi ngài với tên Lêvi, tên thứ hai của ngài, có lẽ ít được biết đến, hầu như để muốn giấu đi cái tên của người thu thuế. Mathêô ngược lại nhấn mạnh: ngài được Đức Giêsu biết đến như một người thu thuế, một trong những người thu thuế, cộng tác với quân Rôma đô hộ. Việc Đức Giêsu kêu gọi những người thu thuế gây cớ vấp phạm.

Matthêô tự trình bày mình như một người thu thuế được tha thứ và được kêu gọi, và như thế cho ta hiểu rằng ơn gọi làm Tông đồ nằm ở chỗ nào. Trước tiên phát xuất từ lòng thương xót của Chúa.

Trong tác phẩm của các Giáo Phụ thường nói đến các Tông Đồ như những vị hoàng tử; Matthêô không tự giới thiệu mình như hoàng tử, nhưng như một người tội lỗi được tha thứ. Và đây chính là nền tảng của việc tông đồ: đã lãnh nhận lòng thương xót của Chúa, đã hiểu sự nghèo hèn của mình và để cho mình được đổ tràn lòng thương vô bờ của Thiên Chúa: ‘Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đền để kêu gọi người công chính, mà kêu gọi người tội lỗi’. 

Một người thấu hiểu được lòng thương xót của Thiên Chúa, không phải một cách trừu tượng, nhưng chính nơi bản thân mình, thì được chuẩn bị cho công việc tông đồ. Người không có tâm tình đó, dù được kêu gọi, cũng khó có thể chạm đến chiều sâu của các tâm hồn, vì không thông hiệp tình yêu thương của Thiên Chúa. Người tông đồ đích thực, như thánh Phaolô nói, thì đầy lòng khiêm nhượng, hiền hòa, kiên nhẫn: sự khiêm tốn của Thiên Chúa cúi mình trên các tội nhân, mời gọi họ và nâng họ lên.

Ta hãy cầu xin Chúa cho ta có được tâm tình thấu hiểu sự nghèo hèn của mình và lòng thương xót vô biên của Chúa; chúng ta là những tội nhân được tha thứ. Dù ta không phạm những tội nặng, ta cũng có thể nói như thánh Augustinô rằng Chúa tha cho ta trước các tội lỗi, để nhờ đó mà ta không lỗi phạm. Hãy cảm tạ Chúa vì tình yêu thương vô cùng của Ngài, nhìn nhận mình là kẻ nghèo hèn, là tội nhân được tha thứ, và vui mừng vì lòng nhân từ của Thiên Chúa.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

ducchasi
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập56
  • Máy chủ tìm kiếm17
  • Khách viếng thăm39
  • Hôm nay54,401
  • Tháng hiện tại539,798
  • Tổng lượt truy cập70,155,222

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây