Đời sống mới trong Đức Kitô - Bài 19. Tội nặng - tội nhẹ, bài 20. Cộng đồng và bài 21. Quyền bính

Thứ hai - 26/02/2018 03:45  1962

TÌM HIỂU SÁCH GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

Phần III: ĐỜI SỐNG MỚI TRONG ĐỨC KITÔ

Bài 19. TỘI NẶNG – TỘI NHẸ

Hầu như ai cũng thấy các tội lỗi không có cùng mức độ nghiêm trọng như nhau. Giết người thì khác, ăn cắp món tiền nhỏ của người ta thì khác. Tuy nhiên, khi thử xác định chính xác hơn điều gì làm thành tội trọng thì xem ra lại khó khăn. Chưa kể có nhiều điều vốn được coi là “tội trọng” thì ngày nay ít người coi đó là tội, kể cả tội nhẹ.

Theo giáo huấn truyền thống, phải hội đủ ba điều kiện thì một hành vi mới bị coi là tội trọng: “Tội trọng là tội mà đối tượng của nó là một chất liệu nghiêm trọng, và ngoài ra, phạm tội đó với sự hiểu biết đầy đủ và với sự ưng thuận chủ ý” (GLHTCG số 1857).

Theo định nghĩa này, có lẽ người ta tự hỏi liệu có thể phạm tội trọng không. Chắc chắn là có những tội nghiêm trọng xét về đối tượng: sát nhân, vô đạo, ngoại tình… Nhưng còn hai điều kiện khác thì sao? Có ai phạm tội trọng “với đầy đủ sự hiểu biết” không? Thánh Tôma nói, “Mù quáng là tiền đề của tội”. Khi đối diện với tội nghiêm trọng nhất mà con người phạm phải, tức là giết chết Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã chẳng thưa với Chúa Cha sao: “Lạy Cha, xin tha thứ cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34)? Nếu họ không biết việc họ làm thì chưa hội đủ điều kiện thứ hai, “với sự hiểu biết đầy đủ”. Tuy nhiên ở một nơi khác Chúa Giêsu nói rõ ràng: “Nếu các ông đui mù thì các ông không có tội, nhưng giờ đây các ông bảo rằng mình sáng mắt, nên tội các ông vẫn còn” (Ga 9,41). Phải chăng có một thứ “nhìn mà không thấy” (x. Mc 4,12)?

Có lẽ đây là “mầu nhiệm của sự gian ác” đáng sợ nhất (2Thes 2,7), tức là mắt chúng ta mở to nhưng lại mù quáng trước sự dữ. Nhà phú hộ bị đe dọa chịu trừng phạt đời đời vì ông ta không để ý chút gì đến người nghèo Ladarô ngay trước cửa nhà. Ông ta không còn nhìn thấy Ladarô nữa vì đời sống xa hoa đã làm mờ mắt ông. Theo cách mô tả về Ngày Phán Xét Chung (Mt 25,31-46), không phải những tội cố tình phạm sẽ khiến người ta bị án phạt đời đời, nhưng đúng hơn là những tội bỏ sót, quên lãng: “Ta đói, các ngươi không cho ăn” (Mt 25,42). “Làm bộ không biết và sự cứng lòng không giảm thiểu, nhưng gia tăng tính cách cố ý của tội” (số 1859).

Vậy, điều gì làm cho một tội trọng thành “tội đưa đến sự chết” (x. 1Ga 5,16-17), khiến cho phần rỗi đời đời của linh hồn bị đe dọa? Câu trả lời của các bậc thầy về linh đạo rất hữu ích ở đây: đó là sự “yêu mình đến nỗi khinh chê Thiên Chúa” (Thánh Augustinô). Cũng các bậc thầy đó cho thấy sự khác biệt giữa tội nặng và tội nhẹ là ở hậu quả của nó: tội trọng hủy diệt tình yêu Thiên Chúa, tội nhẹ làm cho tình yêu đó bị tổn thương.

Đó là lý do tại sao chỉ có sự hoán cải sâu xa và ân sủng của Thiên Chúa mới có thể thức tỉnh linh hồn khỏi tội trọng, trong khi tội nhẹ có thể được chữa lành nhờ gia tăng tình yêu. Tuy nhiên nhiều tội nhẹ có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng. Tội nhẹ có chủ ý và nhất định không thống hối khiến chúng ta dần dần đi đến chỗ phạm tội trọng: “Các tội mà chúng ta gọi là nhẹ, bạn chớ coi thường… Nhiều vật nhỏ làm thành một khối lớn, nhiều giọt nước làm thành một dòng sông, nhiều hạt lúa làm thành một đồng lúa” (Thánh Augustinô). Phương dược tuyệt diệu mà Chúa ban cho chúng ta là cơ may đi xưng tội, trở về với tình yêu (số 1458).
 

Bài 20. CỘNG ĐỒNG

Khi tìm hiểu luân lý Kitô giáo từ đầu đến nay, chúng ta chủ yếu bàn về cái tốt hay xấu, đúng hay sai, trong những thái độ và hành động của mỗi cá nhân. Sách Giáo Lý theo sát lược đồ của Hiến chế mục vụ Vui Mừng và Hi Vọng, cho nên trong phần tiếp theo sẽ bàn đến cộng đồng nhân loại, vốn là điều cần thiết cho sự phát triển cá nhân (GLHTCG số 1877).

Trong cách nhìn của Kinh Thánh và Kitô giáo, mối tương quan giữa cá nhân và cộng đồng (theo nghĩa mở rộng là xã hội) có hai cực, và phải quan tâm đến cả hai thì mới có cái nhìn toàn diện. Con người có đặc tính cộng đồng. Ngay từ lúc tượng thai, con người đã sống trong mối tương quan với người khác và cần đến cộng đồng: với mẹ, với cha, với anh chị em. Vì thế, gia đình là cộng đồng đầu tiên theo tự nhiên đối với mọi người.

Sau đó những hình thức khác của cộng đồng được thêm vào: ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, xứ sở, dân tộc, quốc gia… Do đó, sống tương quan với người khác, thuộc về một cộng đồng, những điều đó không phải là cái gì thêm vào và không cần thiết. Ngày nay cần phải nhắc lại điều này cách rõ ràng, vì quan điểm đang chiếm ưu thế là chủ nghĩa cá nhân và sống đơn thân đang trở thành mô thức quen thuộc trong xã hội.

Từ những nhận xét trên, cộng đồng nhân loại không chỉ đơn thuần là sự tổng hợp những cá nhân riêng lẻ, nhưng là “một tổng thể những cá vị được liên kết với nhau cách hữu cơ theo một nguyên lý hợp nhất nào đó, vượt trên mỗi cá vị” (GLHTCG số 1880). Các cộng đồng và xã hội được nối kết với nhau bởi điều gì đó lớn lao hơn, vượt lên trên mỗi cá nhân. Chẳng hạn, ngôn ngữ là một di sản chung nối kết chúng ta, và đến lượt chúng ta lại cộng tác với nhau để chuyển giao di sản đó cho thế hệ sau. Những truyền thống lề luật, ứng xử, văn hóa, tôn giáo là những dữ kiện căn bản của cộng đồng mà nếu không có, chúng ta không thể sống. Đồng thời hàm ngậm trong đó là bổn phận củng cố, chuyển giao và phát triển. Bởi lẽ tất cả chúng ta đều được các cộng đồng nâng đỡ, nên chúng ta cũng mắc nợ cộng đồng trong việc chia sẻ những di sản đó.

Ngoài ra, phải lưu tâm đến cực thứ hai. Chúng ta là những hữu thể mang tính cộng đồng, điều này hoàn toàn đúng, thế nhưng mỗi một nhân vị không bị hòa tan trong cộng đồng. Với phẩm giá cao quý và vận mệnh vĩnh cửu, mỗi nhân vị vượt lên trên những ràng buộc của cộng đồng: “Nguyên lý, chủ thể và mục đích của tất cả các định chế xã hội là, và phải là, nhân vị” (số 1881). Chúng ta không bao giờ hoàn toàn thuộc về gia đình, dân tộc, quốc gia. Con người chỉ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Không thể chế nào có quyền toàn diện và tuyệt đối trên nhân vị.

Chủ nghĩa cá nhân quên mất mối liên hệ của cá nhân với cộng đồng; ngược lại, chủ nghĩa tập thể (khuynh hướng của những thể chế độc tài) lại khước từ phẩm giá siêu việt của nhân vị. Giáo huấn xã hội của Công giáo phải thường xuyên cố gắng để làm mới lại nhận thức về cả hai khía cạnh này.

Đây không phải là chuyện ngây thơ và không tưởng. Hãy nhìn vào thực tế để thấy việc ý thức và trân trọng phẩm giá của mỗi con người quan trọng thế nào, nếu không, người ta dễ dàng loại trừ trẻ sơ sinh, người già cả, đau yếu. Đàng khác, phải có ý thức về cộng đồng, nếu không, xã hội ngày càng trở nên lạnh lùng và phi nhân.
 

Bài 21. QUYỀN BÍNH

Quyền bính đến từ Thiên Chúa. Đây là điều Giáo Hội dạy, dựa trên Kinh Thánh và lý tính nhân loại. Khẳng định này thật xa lạ với nhiều người ngày nay. Quyền bính thường bị hiểu theo nghĩa tiêu cực; tốt lắm thì được hiểu là do sự ủy thác của người dân.

Thánh Phaolô tóm tắt điều Kinh Thánh nói ở nhiều nơi: “Không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập” (Rm 13,1). Phải hiểu thế nào? Phải chăng đây là cách nhìn trước thời dân chủ, khi nhà lãnh đạo cai quản là do Thiên Chúa đặt lên chứ không do dân bầu?

Hãy bắt đầu bằng sự kiện hiển nhiên với hầu hết mọi người: “Mọi cộng đồng nhân loại đều cần có quyền bính cai quản, điều hành” (GLHTCG số 1898). Dàn nhạc không hoạt động tốt nếu không có người chỉ huy, công ty không tiến triển nếu không có giám đốc, chính quyền không hoạt động được nếu không có người lãnh đạo, dù người đó được chỉ định hay do dân bầu. Không có quyền bính lãnh đạo thì sự hỗn mang và vô trật tự sẽ diễn ra, và như thế cộng đồng không thể phát triển, công trình chung không thể thành công. Một ông “xếp” chứng tỏ quyền bính thực sự của mình khi dưới sự điều hành của ông, công ích được thăng tiến. Trong tiếng La tinh, từ “quyền bính” là auctoritas, gốc là động từ augere, nghĩa là lớn lên. “Quyền bính” là phẩm chất của những người thúc đẩy sự phát triển và đẩy lui những trì trệ, luôn hướng đến thiện ích của các cá nhân cũng như cộng đồng.

Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi những điều kiện: Bất cứ ai nắm giữ quyền bính – dù trong gia đình hay nơi làm việc hoặc chính trị – đều không được dùng quyền cách độc đoán (số 1902). Để có thể điều hành, không phải chỉ có quyền lực điều hành là đủ, mà còn phải thực thi quyền bính đó cách hợp pháp và đúng đắn. Những lề luật bất công và những mệnh lệnh trái luân lý sẽ hủy diệt quyền bính và không thể bó buộc lương tâm. Chính ở đây mà chúng ta hiểu tại sao các Tông Đồ trả lời trước tòa án: “Chúng tôi phải vâng lời Thiên Chúa hơn là người ta” (Cv 5,29). Như Thánh Gioan XXIII nói: “Trong trường hợp này, quyền bính không còn hiệu lực, và trở thành sự lạm dụng đáng xấu hổ” (số 1903).

Chính vì thế, điều rất quan trọng là luật pháp và các thể chế phải được hướng dẫn bởi trật tự luân lý khách quan, bởi thiên luật. Cũng như những lề luật bất công và những cấu trúc tội lỗi có thể dẫn đến nhiều thiệt hại, thì sự lạm dụng quyền bính cũng thế.

Dĩ nhiên, ngay cả quyền bính tốt đẹp nhất cũng chẳng có ích gì nếu không được tôn trọng. Ngày nay chúng ta dễ quên rằng phải nhìn nhận và biết ơn những người mang gánh nặng trách nhiệm và quyền bính, và hơn nữa, phải cầu nguyện cho họ để họ có được sự trợ giúp của Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn mọi quyền bính tốt lành.

 

ĐHY Christoph Schönborn
Nguồn: hdgmvietnam.org

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

ducchasi
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập101
  • Máy chủ tìm kiếm17
  • Khách viếng thăm84
  • Hôm nay22,165
  • Tháng hiện tại347,409
  • Tổng lượt truy cập65,639,539

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây