“TA LÀ CỬA CHUỒNG CHIÊN”
Chúa nhật IV Phục sinh – Ngày 26 tháng 4 năm 2026
Cv 2,14a.36–41; Tv 23,1–3a.3b-4.5.6; 1Pr 2,20b–25; Ga 10,1–10
Vào Chúa nhật IV Phục sinh, chúng ta đều nghe Tin mừng Gioan chương 10, trong đó Chúa Giêsu ví mình như là người chăn chiên. Chính vì thế, Chúa nhật này thường được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành, và tất nhiên, chính Chúa Giêsu là Mục Tử Nhân Lành. Đây cũng là Chúa nhật cổ võ đặc biệt cho ơn gọi linh mục; “mục tử” trong tiếng Latinh là pastor, và ở một mức độ nào đó, tất cả các linh mục đều là những mục tử, ngay cả không phải tất cả đều là cha sở.
Hình ảnh người mục tử có lẽ luôn gợi lên trong chúng ta một vẻ đẹp đầy cuốn hút, cũng giống như loài chiên vốn dĩ là những con vật vô cùng đáng yêu vậy. Một vườn thú thân thiện thiếu đi một chú chiên con thì thật là thiếu sót! Tuy nhiên, vào thời Chúa Giêsu, chăn chiên không phải là một nghề hấp dẫn, và những người chăn chiên cũng không hẳn là những người có sức lôi cuốn. Tôi chắc rằng bạn còn nhớ câu chuyện quen thuộc trong Tin mừng theo thánh Luca, những người chăn chiên là những người đầu tiên được các thiên thần báo cho biết biến cố giáng sinh lạ lùng của Chúa Giêsu! Tuy nhiên, như tất cả những người chăn chiên ở Palestine thời bấy giờ, họ thuộc tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội; phần lớn họ sống ngoài trời, trong những lán trại thô sơ, nghèo khó và thất học. Không chỉ vậy, một số sử gia Do Thái thời Chúa Giêsu còn cho rằng, về cơ bản, chăn chiên là một nghề “không thanh sạch”, có nghĩa là một người Do Thái ngoan đạo có thể sẽ giữ khoảng cách với một người chăn chiên, như cách họ đối xử với một người phong cùi. Vì thế, việc những người chăn chiên là những người đầu tiên được diện kiến Chúa Hài Đồng cùng với Đức Maria và thánh Giuse chính là một sự báo trước về sự quan tâm rộng mở của Chúa Giêsu đối với những phận người nghèo khổ và bị bỏ rơi như những người chăn chiên. Và việc Chúa tự nhận mình là người chăn chiên có nghĩa Người sẵn lòng bị coi là một kẻ bên lề xã hội như những người chăn chiên vậy.
Tuy nhiên, dẫu có vị thế thấp kém trong xã hội, người chăn chiên lại có những trách nhiệm nặng nề. Một đàn chiên là cả một tài sản có giá trị, dù đó có thể là tài sản của người khác mà họ có trách nhiệm chăm sóc. Người chăn chiên cũng có một quyền hạn nhất định đối với đàn chiên của mình, vì chúng hoàn toàn nằm trong tay và phụ thuộc tuyệt đối vào họ.
Trong bài Tin mừng Chúa nhật IV Phục sinh, Chúa Giêsu mô tả công việc một người chăn chiên như sau: Anh ta dẫn chiên ra khỏi chuồng, nơi nhốt đàn chiên vào những thời điểm nhất định, thường là ban đêm. Anh ta biết rõ từng con chiên đến mức đặt tên cho mỗi con, và gọi đích danh từng con. Anh ta đi trước, và chiên theo sau; đây là điều đáng lưu ý, vì trong một số nền văn hóa, người chăn chiên đi sau hoặc đi giữa đàn. Tuy nhiên, theo tục lệ ở Palestine, người chăn chiên đi trước đàn chiên, và đó chính là hình ảnh mà Chúa Giêsu muốn chúng ta có về Người với tư cách là Mục tử; chúng ta không thể hình dung được Người lại đi ở phía sau đàn chiên.
Vai trò của người chăn chiên không chỉ là dẫn dắt mà còn bảo vệ đàn chiên khỏi người lạ hay kẻ trộm cướp, những kẻ mà Chúa Giêsu nói là đến để “ăn trộm, sát hại và phá huỷ.” Xét về những mối nguy hiểm mà đàn chiên phải đối mặt và người chăn chiên phải xử lý, tất cả chúng ta đều nhớ đến một trong những dụ ngôn quen thuộc nhất trong các sách Tin mừng – dụ ngôn về con chiên lạc. Dụ ngôn này nhắc nhở chúng ta rằng, xét cho cùng, chiên là loài động vật có thể đi lạc, và người chăn chiên sẽ phải tìm kiếm những con chiên lạc đó để đưa chúng trở về, đôi khi phải trả giá bằng rất nhiều công sức và nỗ lực.
Chúa Giêsu không chỉ là Mục tử tốt lành với những trách nhiệm như được mô tả, là dẫn dắt và bảo vệ đàn chiên. Người còn là cửa chuồng chiên: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Ta là cửa chuồng chiên…ai qua Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi, người ấy sẽ ra vào và tìm thấy của nuôi thân.” Nghe có vẻ lạ lùng khi Chúa Giêsu tự ví mình với cửa – hay cổng chuồng chiên, như một số bản dịch – nhưng điều đó trở nên hợp lý khi Người giải thích: “Ai qua Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi.” Như Chúa đã nói ở nơi khác: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.” Chúa vừa là con đường, vừa là cánh cửa; con đường dẫn đến sự sống đời đời, và cánh cửa mở ra sự sống ấy.
Tất nhiên chúng ta là những con chiên của Chúa. Như lời hân hoan trong Thánh vịnh: “Hãy nhìn nhận Chúa là Thượng Đế, chính Người dựng nên ta, ta thuộc về Người, ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt.”
Trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu kể một dụ ngôn, dù không nói rõ đó là dụ ngôn, vì trong một dụ ngôn, những sự vật được nhắc đến là hình ảnh của những điều khác, có khi lớn lao hơn, có khi nhỏ bé hơn. Vì thế, người chăn chiên và cửa chuồng chiên là hình ảnh của Chúa Giêsu, và chiên là hình ảnh của chúng ta, còn những người lạ, kẻ trộm cướp là hình ảnh của những kẻ xấu, hoặc thậm chí là những điều hay những tư tưởng xấu đe dọa những người tốt trong đàn chiên, tìm cách dẫn dụ họ lạc lối và làm hại họ. Chúng ta biết rất rõ những người xấu, những điều xấu và những tư tưởng xấu đó là ai và là gì; chúng cám dỗ chúng ta nhiều lần trong ngày, thông thường qua internet, cũng như qua ánh mắt và suy nghĩ lạc lối của chúng ta.
Những người Pharisêu, những kẻ thù ghét Chúa Giêsu có mặt trong đám đông đang nghe giảng, không hiểu dụ ngôn đó: “Họ không hiểu Người muốn nói gì.” Nhưng chúng ta biết điều Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta, dù chúng ta không là một đàn chiên hoàn hảo. Chúng ta tin rằng Chúa Giêsu sẽ không để những người lạ hay kẻ trộm cướp dẫn chúng ta đi lạc, càng không để cho chúng ta nên giống như họ, nhưng Người sẽ dẫn dắt, bảo vệ và hướng dẫn chúng ta trên suốt hành trình dài để qua cánh cửa tiến vào sự sống đời đời.
Bài đọc: thanhlinh.net
Nhóm Sao Biển chuyển ngữ từ Hprweb.com
Những tin cũ hơn







