LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI
Lễ Mẹ Mân Côi được cử hành vào ngày 7 tháng 10 và ngày 8 tháng 5 với việc đọc Kinh Mân Côi trọng thể. Việc tôn kính Đức Mẹ có từ thế kỷ 13 và được Dòng Đa Minh truyền bá. Năm 1572, Giáo hoàng Piô V thiết lập Lễ Mân Côi sau chiến thắng của hạm đội Kitô giáo trước quân Thổ Nhĩ Kỳ Hồi giáo tại Lepanto năm 1571. Giáo hoàng công nhận chiến thắng nhờ sự cầu bầu của Đức Mẹ Maria, và ngài mời gọi mọi người cầu nguyện với Mẹ bằng cách đọc Kinh Mân Côi. Sau các cuộc hiện ra tại Lourdes năm 1858, nơi Đức Trinh Nữ Maria khuyến khích việc thực hành Kinh Mân Côi, việc tôn kính này càng lan rộng hơn nữa.
Người chứng nhân và người truyền bá vĩ đại nhất lòng sùng kính Kinh Mân Côi là Chân phước Bartolo Longo, một luật sư chống giáo sĩ (1841-1926). Khi còn học ở Naples, ông đã đón nhận chủ nghĩa tâm linh. Một đêm nọ, trong cơn khủng hoảng nghiêm trọng, theo lời khuyên của người bạn Vincenzo Pepe, ông đã tìm đến Cha Radente, một tu sĩ Dòng Đa Minh, người đã đồng hành cùng ông cho đến khi ông gia nhập Dòng Ba Thánh Đa Minh. Sau khi tốt nghiệp, Bartolo cống hiến hết mình cho công việc bác ái, và khấn giữ trinh tiết. Trong thời gian này, ông gặp Nữ bá tước Marianna Farnararo De Fusco, người góa chồng ở tuổi 27. Cần một người quản lý tài sản và gia sư cho năm đứa con, bà đã nhờ Bartolo giúp đỡ, và ông chuyển đến sống cùng bà. Tuy nhiên, tình huống này đã gây ra nhiều lời đồn đại, đến nỗi hai người chỉ kết hôn để dập tắt những lời đồn, và tiếp tục sống như bạn bè. Nữ bá tước sở hữu nhiều bất động sản và nhà cửa ở những nơi xa xôi như Pompeii, và Bartolo, với tư cách là người quản lý, thường xuyên đến đó. Trong những chuyến đi này, ông nhận thấy sự thiếu hiểu biết của người dân, đến nỗi ông đã dành tâm huyết cho việc giảng dạy, giáo lý và thực hành đọc kinh Mân Côi. Một ngày nọ, Sơ Maria Concetta de Litala đã tặng Bartolo một bức tranh cũ kỹ và bị bỏ quên vẽ Đức Mẹ Mân Côi. Ông đã phục chế bức tranh và mang đến Pompeii, nơi nó được trưng bày trong một nhà nguyện nhỏ từ ngày 13 tháng 2 năm 1876. Do lượng khách hành hương đổ về đây để cầu xin ân sủng và phép lạ dồi dào mà Đức Mẹ ban tặng, nhà nguyện ngày càng trở nên chật chội, và vì vậy, đến ngày 9 tháng 5 năm 1876, một nhà thờ mới đã được xây dựng và khánh thành vào năm 1887. Sau đó, bức tượng được Giáo hoàng Leo XII đội vương miện vàng.
Vào tháng thứ sáu, thiên sứ Gabriel được Đức Chúa Trời sai đến một thành ở xứ Galilê gọi là Nazareth, đến một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi Đavít. Tên của trinh nữ ấy là Maria. Thiên sứ đến gặp bà và nói: “Chào bà, người đầy ơn phúc, Chúa ở cùng bà.” (Lc 1:26-38).
Kinh ngạc
Phụng vụ hôm nay đưa chúng ta vào trường học của Đức Mẹ Maria, môn đệ yêu dấu của Chúa Giêsu. Từ Mẹ, hôm nay, dưới ánh sáng Tin Mừng, chúng ta học được “sự kinh ngạc”, sự sẵn lòng để bản thân kinh ngạc trước Thiên Chúa. Mẹ trở thành Mẹ, dù là một trinh nữ, và là bà Elizabeth, lúc này đã mang thai sáu tháng, dù đã lớn tuổi (Lc 1:36). Sự kinh ngạc cho phép Đức Mẹ để Thiên Chúa dẫn dắt, và sự sẵn lòng này sẽ cho phép Mẹ sinh ra trong mình Đấng được mong đợi của các dân tộc.
Thái độ đầu tiên này của Đức Mẹ dạy chúng ta hôm nay, trong lễ Đức Mẹ Mân Côi, biết cách phó thác bản thân cho sự cầu bầu của Đức Mẹ Đồng Trinh, bằng việc đọc Kinh Mân Côi. Điều gì có vẻ bất khả thi đối với sức mạnh con người chúng ta, ngay cả nhờ ân sủng của Đức Mẹ, mọi trận chiến trong cuộc sống, dù là nội tâm hay bên ngoài, đều có thể chiến thắng.
Tra cứu
Bên cạnh sự kinh ngạc, hôm nay Đức Mẹ dạy chúng ta hướng lên trời. Tin tưởng và phó thác bản thân cho Chúa. Một cử chỉ giúp chúng ta nhận ra rằng mình không thể làm mọi việc một mình; rằng chúng ta không phải là người kiến tạo nên số phận của chính mình, và rằng chúng ta cần nhau, và cùng nhau, chúng ta cần Chúa. Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta, Ngài đã hứa như vậy, nhưng trước hết chúng ta phải tin vào điều đó, bắt đầu bằng việc không chỉ nhìn vào những điều trần gian, mà học cách hướng mắt về thiên đường, nơi có sự giúp đỡ (xem Thánh vịnh 121).
Tin tưởng vào lời cầu nguyện Kinh Mân Côi là dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa đang hành động trong và xung quanh chúng ta, và nhờ sự cầu bầu của Đức Mẹ Maria, chúng ta có thể vun đắp một "tiêu chuẩn sống cao". Tin tưởng chính là thừa nhận Đấng có thể làm được mọi sự; đón nhận sự giúp đỡ của Ngài, nhận ra rằng chúng ta không thể làm mọi việc một mình; tin tưởng vào Ngài ngay cả khi kế hoạch của Ngài không phù hợp với kế hoạch của chúng ta, đến mức dâng hiến bản thân với lòng tin tưởng: " Này, con là tôi tớ của Chúa. Xin hãy thực hiện cho con theo lời Chúa ."
Thời gian của Chúa và thời gian của con người
Bài học thứ ba chúng ta rút ra từ đoạn Tin Mừng này là học hỏi từ Đức Mẹ và cùng với Đức Mẹ tin tưởng vào thời gian của Chúa. Một thời gian cũng được tạo nên từ sự tĩnh lặng, chờ đợi và kiên nhẫn. Chúng ta, những người sống trong thời gian của "mọi thứ và ngay bây giờ". Có " kronos ", thời gian của con người, được đánh dấu bằng giờ giấc, bằng những thói quen hàng ngày. Đó là thời gian mà thời gian bị tiêu thụ một cách tham lam, hời hợt, vội vã. Một kiểu "vứt bỏ". Rồi có " kairos ", "thời điểm thích hợp", khoảnh khắc của cơ hội, có khả năng làm cho mỗi khoảnh khắc trở nên ý nghĩa. Đó là thời gian để thưởng thức, đòi hỏi chúng ta phải đào sâu vào mọi việc để chúng có thể đơm hoa kết trái đúng thời điểm. Đó là sống trọn vẹn mọi cuộc gặp gỡ, mọi trải nghiệm, bởi vì đó là thời gian của tình yêu thương, của sự lắng nghe, của sự quan tâm đến người khác. Đó là thời gian mà mỗi người chúng ta không chỉ đơn giản là để bản thân sống, mà còn đưa ra những lựa chọn của riêng mình, nắm bắt những cơ hội được trao cho mình để trưởng thành, biết cách tạo ra và tái tạo chúng, miễn là chúng mang lại ý nghĩa cho sự tồn tại. Đây là thời điểm sống trọn vẹn với tình yêu thương. Đức Mẹ Maria dạy chúng ta về thời điểm này. Mẹ dạy chúng ta hãy để bản thân được say mê bởi nhịp sống hối hả này, để khám phá và tận hưởng những điều thuộc về Chúa.
LỜI CẦU NGUYỆN
Chúng con nương náu dưới sự che chở của Mẹ, lạy Mẹ Thiên Chúa thánh thiện: xin đừng khinh chê lời cầu xin của chúng con trong những lúc khó khăn, nhưng xin luôn luôn cứu giúp chúng con khỏi mọi nguy hiểm, lạy Đức Trinh Nữ vinh hiển và diễm phúc.
Chúa Nhật XXVII TN/A
Người Bảo Vệ và Người Lãnh Đạo
Đoạn Phúc Âm chúng ta vừa nghe trình bày cho chúng ta một trong những lời cảnh báo mạnh mẽ và chân thành nhất của Chúa Giê-su: dụ ngôn về những người thợ làm vườn nho sát nhân.
Chúng ta là những chứng nhân cho sự quan tâm phi thường của Đức Chúa. Chủ nhân trong dụ ngôn không chỉ đơn giản trồng một vườn nho: ông ta bao quanh nó bằng hàng rào, đào một hầm ép dầu ô liu và xây một tháp canh. Không thiếu thứ gì cả. Đức Chúa đã làm tất cả những gì trong khả năng của Ngài để bảo vệ và làm cho dân Ngài thịnh vượng, và Ngài ban cho mỗi yếu tố một ý nghĩa sâu sắc:
Hàng rào là Luật Môi-se, được đặt ra như một sự phòng thủ để bảo vệ dân chúng khỏi sự thờ thần tượng bên ngoài. Tháp canh là Đền Thờ, nơi hiện diện của Đức Chúa và là điểm quan sát chống lại kẻ thù thuộc linh. Hầm ép – nơi ép nho – tượng trưng cho bàn thờ, nơi dâng hiến và hy sinh, không gian thuộc linh nơi công việc, đau khổ và việc làm tốt của chúng ta được ép để biến thành rượu của lòng sùng kính, một lễ vật đẹp lòng Đức Chúa.
Đức Chúa không phải là một người chủ xa cách, mà là một người Cha đầu tư tất cả tình yêu của Ngài vào chúng ta và trang bị cho chính mình để thu hoạch những trái tốt nhất của chúng ta.
Khi chủ vườn sai các đầy tớ đi thu hoạch trái cây, những người làm vườn đánh đập, giết hại và ném đá họ. Cuối cùng, khi chủ sai Con mình, người thừa kế, đi thu hoạch, họ lại nói: “Đây là người thừa kế. Hãy đến, chúng ta hãy giết hắn và chiếm lấy gia sản của hắn . ”
Các thầy tế lễ thượng phẩm và người Pha-ri-siêu biết trong lòng mình Chúa Giê-su là ai. Họ biết Ngài là người thừa kế. Tuy nhiên, bị mù quáng bởi lòng ghen tị và ham muốn giữ gìn quyền lực và đặc ân của mình, họ quyết định loại bỏ Ngài. Họ muốn gia sản mà không có Cha. Họ muốn vườn nho mà không có Đấng Tạo Hóa.
Câu chuyện ngụ ngôn này là tấm gương cho mỗi chúng ta ngày nay. Vườn nho là cuộc sống của chúng ta, là Giáo Hội, là gia đình chúng ta, là những tài năng mà chúng ta được ban cho. Chúng ta thường hành động như thể mình là chủ nhân tuyệt đối của cuộc sống mình biết bao? Chúng ta thường quên rằng mọi thứ chúng ta có đều được giao phó cho chúng ta để gìn giữ biết bao?
Lịch sử Giáo Hội cho chúng ta một tấm gương sáng ngời và triệt để về ý nghĩa của việc trở thành những người bảo vệ đích thực trong cuộc đời của một vị mục tử vĩ đại, Thánh Charles Borromeo. Thánh Charles là người thừa kế của một trong những gia đình giàu có và quyền lực nhất châu Âu. Ông sở hữu đất đai, cung điện và khối tài sản khổng lồ: nói theo cách con người, ông là "chủ nhân" của một vườn nho rộng lớn. Tuy nhiên, ông hiểu rằng những của cải đó không thuộc về ông, mà được Chúa giao phó cho ông với tư cách là người giám hộ. Trong nạn đói và dịch bệnh khủng khiếp, ông đã bán tất cả những tài sản quý giá của mình, đồ đạc trong cung điện, và thậm chí cả quần áo đắt tiền để mua thức ăn và thuốc men cho người bệnh. Khi các nhà quản lý chỉ ra rằng làm như vậy gia đình sẽ chẳng còn gì, Thánh Charles đã trả lời dứt khoát:“Tài sản của Giáo hội là tài sản của người nghèo. Tôi không phải là chủ sở hữu vườn nho này, tôi chỉ là người kế toán của Chúa, và tôi sẽ phải chịu trách nhiệm trước Ngài về từng quả nho.”
Nếu chúng ta không nắm bắt được logic quản lý và khiêm nhường này, chúng ta sẽ đối mặt với một số phận bi thảm, được mô tả trong một câu mà phụng vụ Chúa nhật không bao giờ cho phép chúng ta đọc: câu 44. Khi đoạn này được công bố trong Thánh lễ, văn bản phụng vụ cố ý bỏ qua dòng này. Tuy nhiên, chính tại đây Chúa Giêsu đã tiết lộ sự nghiêm trọng của hòn đá bị loại bỏ.
Câu bị kiểm duyệt nói rằng: “Ai ngã trên hòn đá này sẽ bị tan nát; và ai bị hòn đá này rơi trúng sẽ bị đè bẹp.”
Tại sao phụng vụ lại bỏ qua nó? Có lẽ vì những lời này dường như quá khắc nghiệt, gần như không thể chịu đựng được đối với tai chúng ta ngày nay. Nhưng Thánh Gioan Chrysostom đã cho chúng ta một chìa khóa tuyệt vời để hiểu tại sao câu này thực sự là nền tảng. Vị Giám mục thánh thiện giải thích rằng trong những lời này, Chúa Giêsu mô tả hai cách khác nhau để liên hệ với Chân lý.
Theo Thánh Chrysostom, người nào ngã xuống đá và bị vỡ tan là người phạm tội trước khi chết, nhưng qua cú ngã đau đớn này, người đó trải nghiệm sự tan vỡ của lòng kiêu ngạo của chính mình. Chính sự ngã xuống đó làm tan vỡ sự chai lì trong lòng chúng ta và cho phép sự ăn năn. Đó là một sự hủy diệt mang tính chữa lành: chúng ta tự làm tổn thương mình để Chúa có thể xây dựng lại chúng ta.
Nhưng người nào bị đá rơi trúng trong ngày Phán xét cuối cùng sẽ bị nghiền nát và tan thành bụi. Điều này tượng trưng cho sự ngoan cố cuối cùng của những người từ chối ân điển đến cùng, của những người từ chối được sửa đổi. Đối với những người này, sẽ không còn chỗ cho việc xây dựng lại: sự nghiền nát tượng trưng cho sự hủy hoại tinh thần hoàn toàn và dứt khoát của những người đã chọn loại trừ Chúa cho đến cùng.
Ngay sau câu nói khủng khiếp và không được nói ra này, Phúc Âm tiếp tục kể rằng những người Pha-ri-siêu nhận ra Ngài đang nói về họ và đã cố gắng bắt giữ Ngài. Họ hiểu mức độ nghiêm trọng của lời cảnh báo, nhưng họ thà mạo hiểm bị nghiền nát hơn là từ bỏ vườn nho.
Nguy cơ đối với chúng ta ngày nay cũng vậy: phớt lờ những lời cảnh báo của Chúa để không làm tan vỡ lòng kiêu ngạo của mình.
Hôm nay chúng ta cầu xin Chúa ban cho chúng ta ơn có một tấm lòng ngoan ngoãn. Nếu chúng ta phải vấp ngã, hãy vấp ngã trên Đá tảng là Chúa Kitô; hãy để Ngài đập tan sự cứng rắn, ích kỷ và những niềm tin sai lầm của chúng ta ngay bây giờ, để chúng ta được chữa lành. Hãy chào đón Chúa Giêsu, Đấng thừa kế, và dâng lên cối xay và bàn thờ của Ngài những hoa trái tốt nhất của sự hoán cải của chúng ta.
VẪN CÒN THỜI GIAN
Chúng ta vẫn còn được chiêm ngưỡng những hình ảnh phi thường về chuyến thăm Pháp của Giáo hoàng Leo, vừa kết thúc cách đây vài ngày. Tại buổi canh thức trọng thể ở Sân vận động Stade de France, trước 80.000 thanh niên, một loạt các vị thánh Pháp phi thường đã hiện diện trong tâm tưởng: Thánh Joan of Arc, Thánh Thérèse de Lisieux, Thánh Charles de Foucauld, Thánh Vincent de Paul, Thánh Bernadette Soubirous, Cha xứ Ars, Thánh Gioan Tẩy giả de La Salle, Thánh Marcellin Champagnat, và rất nhiều người khác nữa. Nhìn vào cảnh tượng đó, tôi đã nghĩ: một vườn nho phi thường biết bao đã được giao phó cho nước Pháp! Và không chỉ riêng nước Pháp. Hãy nghĩ về lịch sử Kitô giáo của châu Âu: các nhà thờ chính tòa, tu viện, trường đại học, các vị thánh, các nhà truyền giáo, các tác phẩm nghệ thuật, bệnh viện, trường học, các thế hệ nam nữ đã sống và truyền bá đức tin. Một vườn nho rộng lớn.
Thế nhưng ngày nay, chính châu Âu đôi khi dường như lại quên mất vườn nho ấy. Và trong khi ở đây đôi khi đức tin Kitô giáo dường như đang héo tàn, thì ở những nơi khác trên thế giới, nó lại đang phát triển và đơm hoa kết trái. Nhưng chính châu Âu cũng đang cho chúng ta thấy một số dấu hiệu đáng ngạc nhiên trong những ngày này: tại Pháp năm nay, hơn 13.000 người lớn đã được rửa tội, tăng 28% so với năm trước. Dấu hiệu tăng trưởng cũng được thấy ở các quốc gia châu Âu khác, chẳng hạn như Bỉ, trong khi chúng ta vẫn đang chứng kiến sự tham gia đông đảo của người dân trong chuyến thăm gần đây của Đức Giáo hoàng tới Tây Ban Nha. Và ta dường như cảm nhận được điều tương tự ở Hoa Kỳ: trong những tháng gần đây ở New York, ta thấy nhiều người trẻ tham dự các Thánh lễ hơn so với thường thấy ở các nhà thờ tại Rome.
Có lẽ vườn nho chưa chết. Nhưng một câu hỏi vẫn còn đó, và nó thật đáng lo ngại: liệu chúng ta cũng có thể đánh mất một vườn nho mà chúng ta đã nhận được?
Tin Mừng hôm nay cho chúng ta biết là có.
Một chủ đất trồng một vườn nho, bao quanh nó bằng hàng rào, đào một hầm ép rượu, xây một tháp canh, rồi giao nó cho những người thuê đất. Ông giao phó nó. Ông không cho đi. Nhưng những người thuê đất đó quên mất rằng họ là người trông coi và bắt đầu hành xử như những người chủ. Khi đến lúc thu hoạch trái cây, họ ngược đãi các đầy tớ của chủ, giết một số người, và cuối cùng thậm chí giết cả con trai ông ta. Họ ngây thơ nghĩ rằng: "Vườn nho sẽ thuộc về chúng ta." Và đây là sai lầm của họ: họ đã chiếm đoạt một món quà.
Chủ nhật tuần trước, chúng ta đã gặp một người cha có hai con trai. Một người nói không, nhưng người cha không ngừng làm cha vì điều đó. Hôm nay, Chúa Giê-su cho chúng ta thấy mặt khác của cùng một sự thật: Đức Chúa không ngừng làm Cha, nhưng chúng ta có thể đánh mất những món quà của Ngài. Bởi vì mọi việc đều có thời điểm của nó. Và ngay cả vườn nho được giao phó cho chúng ta cũng có thể không mãi mãi nằm trong tay chúng ta.
Tóm lại, trước khi tự hỏi nước Pháp hay châu Âu đang làm gì với vườn nho của họ, chúng ta nên tự hỏi: tôi đang làm gì với vườn nho của mình? Cuộc sống Chúa ban cho tôi, thân thể tôi, đức tin tôi đã nhận được, những người tôi yêu thương, khả năng tôi sở hữu, thời gian tôi còn lại. Tất cả đều là một món quà. Tuy nhiên, chúng ta có một thói quen kỳ lạ: chúng ta thường chỉ hiểu được giá trị của mọi thứ khi mất chúng. Chúng ta nhận ra sức khỏe quý giá đến thế nào khi bị ốm. Nhận ra mình yêu thương ai đó nhiều đến thế nào khi họ không còn bên cạnh. Giá trị của thời gian khi nó chỉ còn lại rất ít. Những cơ hội ta từng có khi chúng đã trôi qua. Có lẽ nỗi lo lắng của Phúc Âm này chính là điều đó: đừng chờ đến khi mất vườn nho mới nhận ra nó quý giá đến thế nào.
Nhưng vườn nho vẫn còn đó. Nó vẫn nằm trong tay chúng ta. Nó không bị mất. Vẫn còn thời gian. Thời gian để bắt đầu lại. Thời gian để yêu thương. Thời gian để gieo trồng điều gì đó mới mẻ. Thời gian để cuộc sống của chúng ta lại đơm hoa kết trái.
Và bạn... trong vườn nho của cuộc đời mình, bạn đang gieo trồng điều gì?
Chúa Nhật XXVII TN/C
Đức Tin Không Thể Đo Lường
Đã bao nhiêu lần chúng ta thấy mình đối mặt với những tình huống dường như quá sức chịu đựng. Những khó khăn áp đảo, những vấn đề mà chúng ta không biết cách đối mặt, những vết thương mà chúng ta không biết cách chữa lành.
Đôi khi, nó đủ cho một cuộc xung đột gia đình, một bất công mà người thân yêu phải chịu đựng, một sự thất vọng bất ngờ. Những lúc khác, nó thậm chí còn là những thử thách khó khăn hơn: bệnh tật, thất bại, những hiểu lầm sâu sắc.
Trong những khoảnh khắc đó, chúng ta cảm thấy toàn bộ giới hạn của mình. Chúng ta cảm thấy như mình không có đủ sức mạnh để tiến về phía trước, và theo bản năng, chúng ta tìm kiếm một lối tắt.
Và đây là lúc chúng ta có nguy cơ nghĩ sai về đức tin. Như thể nó là một vật thể chúng ta sở hữu, một loại "vũ khí bí mật" mà chúng ta có thể rút ra khi cần để giải quyết vấn đề.
Chúng ta cảm thấy như muốn nói: "Nếu tôi có nhiều đức tin hơn, tôi có thể đối mặt với tình huống này. Nếu tôi có nhiều đức tin hơn, tôi đã không cảm thấy yếu đuối như vậy. Nếu tôi có nhiều đức tin hơn, tôi đã không sợ hãi."
Chúng ta nghĩ về đức tin như một số lượng, như một thứ gì đó cần được tích lũy và sử dụng khi cần thiết.
Các tông đồ trong Phúc Âm cũng mắc phải sai lầm tương tự. Chúa Giêsu vừa bảo họ rằng họ phải tha thứ không giới hạn, thậm chí bảy lần trong cùng một ngày, nếu người kia ăn năn.
Một nhiệm vụ to lớn, dường như thực sự bất khả thi. Và họ phản ứng bằng một lời cầu xin nghe giống như của chúng ta: "Xin thêm đức tin cho chúng con!" Giống như nói: "Xin ban thêm đức tin cho chúng con, vì chúng con không thể làm như thế này được."
Nhưng Chúa Giêsu đáp lại bằng một hình ảnh đáng ngạc nhiên. Ngài không nói: "Được rồi, Ta sẽ thêm đức tin cho con." Ngài nói: "Nếu các con có đức tin bằng hạt cải, các con có thể bảo cây dâu này: 'Hãy bật rễ lên và trồng xuống biển,' thì nó sẽ vâng lời các con."
Hạt cải nhỏ bé, gần như vô hình. Tuy nhiên, Chúa Giêsu nói, đức tin như vậy là đủ để làm được điều không thể.
Điều này có nghĩa là gì? Đức tin không phải là vấn đề số lượng. Nó không được đo bằng kilôgam hay lít. Nó không phải là thứ bạn tích lũy rồi dùng đến khi cần.
Đức tin là một mối quan hệ. Đó là tin cậy vào Chúa ngày này qua ngày khác. Nó là chất lượng, chứ không phải số lượng. Giống như một hạt giống: nhỏ bé nhưng sống động, có khả năng nảy mầm, có khả năng biến đổi. Dù lớn đến đâu, điều quan trọng là nó chân thật.
Và nếu chúng ta nghĩ về điều đó, điều này thay đổi tất cả. Chúng ta luôn nghĩ mình đang thiếu điều gì đó: thêm đức tin, thêm sức mạnh, thêm kiên nhẫn.
Chúa Giêsu nói với chúng ta: chúng ta không cần thêm gì nữa, điều cần thiết là lòng tin của bạn phải chân thành, trái tim bạn phải rộng mở. Ngay cả một chút cũng đủ, nhưng nó là chân thành. Một tia lửa là đủ, nếu nó thực sự bùng cháy.
Và chính lòng tin này làm cho sự tha thứ trở nên khả thi.
Tha thứ vô giới hạn không phải là vấn đề về tính cách hay thiện chí. Đó là vấn đề đức tin. Nếu tôi tin rằng Chúa đã tha thứ cho tôi, nếu tôi tin rằng tình yêu của Ngài lớn hơn sự oán giận của tôi, thì tôi có thể tha thứ ngay cả những người đã làm tổn thương tôi.
Không phải vì tôi tốt, mà vì Ngài hành động trong tôi.
Tuy nhiên, vẫn có một rủi ro. Khi chúng ta thấy đức tin làm nên những điều vĩ đại, chúng ta có thể cảm thấy mình quan trọng, vượt trội.
Chúng ta có thể nghĩ: "Tôi là người có đức tin, tôi biết cách tha thứ, tôi làm những điều người khác không làm được." Đây chính là lúc Chúa Giê-su thêm vào dụ ngôn về người đầy tớ.
Ngài kể về một người đầy tớ, sau khi cày ruộng hoặc chăn gia súc, trở về nhà. Chủ không mời anh ta ngồi xuống ngay, mà nói: "Hãy dọn bữa ăn và phục vụ ta. Sau đó, ngươi có thể ăn."
Và Chúa Giê-su kết luận: "Vậy, khi các ngươi đã làm xong mọi điều được truyền dạy, hãy nói: 'Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng. Chúng tôi chỉ làm điều bổn phận của mình.'"
Những lời này nghe có vẻ khắc nghiệt. Đầy tớ vô dụng ư? Điều đó không có nghĩa là chúng ta vô giá trị trong mắt Chúa. Nó có nghĩa là chúng ta không nên đòi hỏi công trạng, không nên nghĩ rằng Chúa nợ chúng ta lời cảm ơn. Những điều tốt đẹp chúng ta làm, sự tha thứ chúng ta trao tặng, những hành động yêu thương chúng ta trải nghiệm, không phải là công trạng để thể hiện trước mặt Chúa.
Chúng là hệ quả tự nhiên của đức tin. Chúng ta là "những đầy tớ vô dụng" theo nghĩa chúng ta không thể khoe khoang về bất cứ điều gì.
Chúng ta chưa tạo ra được điều gì cho riêng mình. Tất cả đều là một món quà, tất cả là ân sủng. Đức tin không phải là một sức mạnh cá nhân, nó không phải là một đặc quyền khiến chúng ta tốt hơn người khác. Đó là một món quà cần được đón nhận với lòng biết ơn và sống với lòng khiêm nhường.
Và vì vậy, Phúc Âm này nói với chúng ta một cách rất cụ thể. Nó nhắc nhở chúng ta rằng cuộc sống sẽ luôn đặt ra cho chúng ta những hoàn cảnh lớn lao hơn chính mình, những hoàn cảnh mà chúng ta sẽ không biết cách ứng phó.
Chúng ta không nên chờ đợi để có "thêm đức tin" như thể nó là một vật để tích trữ. Chúng ta phải sống đức tin mà chúng ta đã có, dù nhỏ bé, với lòng tin tưởng và chân thành.
Đức tin đó, dù nhỏ bé nhưng chân thật, là đủ để đối mặt với những điều không thể. Chỉ cần tha thứ là đủ, chỉ cần bắt đầu lại là đủ, chỉ cần đứng vững khi mọi thứ dường như sụp đổ là đủ.
Và đồng thời, điều này dạy chúng ta đừng biến thành quả của đức tin thành nguồn kiêu ngạo. Chúng ta hãy khiêm nhường, những người phục vụ làm tròn bổn phận của mình mà không khoe khoang, biết rằng mọi sự đều là ân huệ.
Vậy thì, đây chính là cốt lõi của thông điệp: đức tin không phải là một con đường tắt kỳ diệu, không phải là một số lượng để sở hữu. Đó là một mối quan hệ sống động với Chúa, dù nhỏ bé đến đâu, cũng có thể biến đổi cuộc đời chúng ta.
Đó là sức mạnh cho phép chúng ta tha thứ, yêu thương, và làm lại từ đầu. Và khi chúng ta sống theo cách này, sẽ không còn chỗ cho cảm giác vượt trội.
Chỉ còn chỗ để nói: "Lạy Chúa, tất cả con người con và tất cả những gì con làm đều là ân huệ của Ngài. Con là tôi tớ của Ngài, và thế là đủ cho con."
Chúa Nhật XXVII TN/B
St 2,18-24; Tv 127; Dt 2,9-11; Mc 10,2-16
Chủ đề của Chúa nhật tuần này là vẻ đẹp của hôn nhân, nghĩa là tình yêu phu thê và tính bất khả phân ly giữa người nam và người nữ, một món quà mong manh cần được bảo vệ, như thánh vịnh nói, để làm phát triển của cải thiêng liêng, mà chúng ta có thể gọi là tiếp đón, tha thứ, thông cảm...
Trong bài đọc thứ nhất, chúng ta gặp thấy câu chuyện tạo dựng theo truyền thống Yavít, cho chúng ta biết rằng chúng ta được tạo dựng để sống hiệp thông (con người ở một mình thì không tốt) và cả hai, đàn ông và đàn bà, hoàn thiện lẫn nhau: sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà là sự phong phú. Chiếc xương sườn mà từ đó Thiên Chúa tạo dựng nên người nữ diễn tả mối quan hệ hỗ tương giữa hai người được kêu gọi tạo thành một xác thịt duy nhất: cả hai bình đẳng về phẩm giá, chia sẻ cùng một ơn gọi và là một phần của một kế hoạch cứu độ duy nhất.
Bài đọc thứ hai, trích từ thư gửi tín hữu Do Thái, giải thích cho chúng ta biết ơn cứu độ đạt được thế nào trong Chúa Kitô, linh mục thượng phẩm, Đấng chuyển cầu của chúng ta với Chúa Cha, Đấng tạo thành mọi sự. Nhưng để đạt được ơn cứu độ này, cần phải đi một con đường trải qua đau khổ, đó là con đường dẫn đến sự hoàn thiện và Chúa Giêsu đã bước đi trên con đường đó vì chúng ta và với chúng ta, nhờ đó trở thành người anh em trọn vẹn của chúng ta. Vì thế, cách duy nhất để trung thành là nại đến Chúa Kitô, Đấng đã thực hiện bằng cái chết của Người chương trình trung thành tuyệt đối với Chúa Cha. Sự cam kết trong tình yêu hôn nhân, có thể duy trì theo thời gian bằng cách vững vàng trong đức tin.
Trong Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu bị những người Biệt Phái chất vấn về vấn đề ly dị. Tất cả chúng ta đều biết rằng sự thất bại của nhiều cuộc hôn nhân gây ra những vết thương sâu sắc và đau đớn. Đoạn Tin Mừng hôm nay trước hết cho chúng ta biết rằng điều này không nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa dành cho đôi vợ chồng, như tác giả sách Sáng Thế đã diễn tả. Nhưng câu chuyện của Máccô cũng kể lại phản ứng rất mạnh mẽ của Chúa Giêsu đối với một số người giữ luật, những người nhìn hôn nhân theo quan điểm thuần túy pháp lý. KHÔNG! Chúa Giêsu nói. Hôn nhân không phải là điều bạn giản lược nó thành một hợp đồng được ký kết bởi ý muốn con người, mà con người có thể hủy bỏ. Hôn nhân là một thực tại sâu xa hơn nhiều, trong đó liên hệ đến chính Thiên Chúa. Nó là một cái gì đó lớn hơn nhiều so với một chủ đề tranh luận pháp lý giản đơn. Đó là việc của Thiên Chúa và vì vậy bạn phải tôn trọng nó!
Câu hỏi chính xác được đặt ra cho Chúa Giêsu liên quan đến việc khước từ, một hình thức ly dị rất đặc biệt, trong đó người chồng từ bỏ quyền đối với vợ mình, cho phép vợ lấy một người đàn ông khác. Trong bối cảnh luật Do Thái thời đó không có sự bình đẳng giữa vợ và chồng: phụ nữ là tài sản của đàn ông, giống như những tài sản khác của anh ta, và không có quyền gì đòi hỏi sự chung thủy của người chồng, là người về mặt pháp lý không thể bị buộc tội ngoại tình đối với vợ. Tuy nhiên, ở đây, Chúa Giêsu tuyên bố rõ ràng rằng, người chồng khi ly dị vợ mình, là kẻ ngoại tình, chính vào thời điểm mà vợ mình không còn thuộc về anh ta về mặt pháp lý nữa! Không thể vứt bỏ vì áp lực của ý thức hệ truyền thống, sự kết hợp không thể chia cắt của hai người đã cam kết thực hiện nó trong sự bình đẳng tuyệt đối.
Rõ ràng là tuyên bố về nguyên tắc này không giải quyết được tất cả các vấn đề cụ thể - về pháp lý - nảy sinh từ sự thất bại của đôi vợ chồng. Nhưng hãy đặt tình yêu này trước tình yêu bất diệt của Thiên Chúa, tình yêu mà những người yêu nhau phải là dấu chỉ trên thế giới cho một tình yêu cao cả hơn tội lỗi của chúng ta.
Thật không may, không có bí quyết nào cho tình yêu gắn kết một người nữ và một người nam để thực sự trở thành dấu chỉ này; trong sự nghèo nàn của chúng ta, ta có thể nghĩ đến cuộc đối thoại cần luôn được xây dựng theo thời gian, nhằm trau dồi sự khôn ngoan của trái tim, không lý tưởng hóa mối tương quan và phép mầu của thời gian khởi đầu vốn khó tìm thấy trong cuộc sống thường ngày, không để mình bất ổn lúc xuất hiện con cái. Chắc chắn rằng các mô hình gia đình khác nhau mà chúng ta phải đối mặt trong xã hội hiện tại đã tạo ra những não trạng, đến nỗi người trẻ có thể mất phương hướng trong việc xây dựng một mối quan hệ như một cặp vợ chồng lý tưởng được Chúa Giêsu trình bày.
Đoạn Tin Mừng kết thúc với đoạn những đứa trẻ được đưa đến với Chúa để được chúc phúc và ngài giới thiệu họ như những mẫu mực của sự đơn sơ và tin tưởng, những ‘thầy dạy’ cho mọi người con đường đến với Chúa. Ngay cả trẻ em, cũng như phụ nữ, đại diện cho một hạng người bị gạt ra ngoài lề xã hội thời bấy giờ, đến mức khiến các tông đồ phải bận tâm. Khi chúc lành cho những kẻ bé mọn, Chúa Giêsu bày tỏ sự chào đón của Người đối với những người yếu đuối, bị khinh thường và nghèo khổ.
Để kết thúc một số tài liệu tham khảo trích từ Tông huấn Amor Laetitia của Đức Thánh Cha Phanxicô:
“Tôi tạ ơn Thiên Chúa vì nhiều gia đình, những người không coi mình là hoàn hảo, vẫn sống trong tình yêu thương, nhận ra ơn gọi của mình và tiến về phía trước ngay cả khi họ vấp ngã nhiều lần”. Con đường của cuộc hành trình, bắt đầu từ những suy tư của Thượng Hội đồng, những gì còn lại không phải là một khuôn mẫu về gia đình lý tưởng, mà đúng hơn là một bức tranh khảm đầy thách thức được tạo thành từ nhiều thực tại khác nhau, đầy niềm vui, kịch tính và ước mơ (AL 57)”.
“[...] Mỗi cuộc hôn nhân là một “câu chuyện cứu rỗi”, và điều này giả định rằng chúng ta bắt đầu từ một sự mong manh, nhờ hồng ân của Thiên Chúa và một sự đáp ứng sáng tạo và quảng đại, dần dần nhường chỗ cho một sự vững chắc ngày càng gia tăng và có lẽ là sứ mệnh lớn nhất của một người nam và một người nữ đang yêu là làm cho nhau trở nên nam và nữ hơn. Làm phát triển là giúp người khác hình thành bản sắc riêng của mình (AL 221)”.
Thứ Hai tuần XXVII Tn
Người tiến sĩ luật muốn kéo Đức Giêsu vào những tranh luận thời ấy: ‘Đâu là điều luật quan trọng nhất trong số 613 điều luật’? ‘Ai là người cận thân của tôi?’ Đức Giêsu hướng câu chuyện sang lối khác để làm rõ điều quan trọng trong đời sống của các môn đệ ngài: tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với người cận thân, gồm cả người thù địch. Chính người tiến sĩ luật trả lời câu hỏi thứ nhất nhưng anh lại còn hỏi tiếp: ‘Vậy ai là anh em tôi? Theo não trạng bấy giờ, người cận thân không thể là người ngoại đạo, không phải là người Samaria, cũng không phải là bất cứ ai. Đức Giêsu trả lời câu hỏi thứ hai bằng một dụ ngôn. Người Samaria trong dụ ngôn không tranh luận những vấn đề phức tạp của thần học, không hỏi xem ai là người dở sống dở chết, nhưng vội vàng đến cứu giúp người ấy. ‘Hãy đi và làm như vậy’. Nghĩa là: người cận thân của anh là bất cứ ai đang cần sự giúp đỡ của anh, tình thương của anh, lòng thương xót của anh. Đừng hỏi ai là người anh em của tôi, tốt hơn hãy đến gần giúp đỡ người đang bị thất sủng, dù đó là người địch thù của mình.
Người Samaria trở nên gương mẫu cho tôi? Đó là điều phi lý đối với người tiến sĩ luật. Người do thái xem người Samaria là quân bỏ đạo. Họ khinh miệt và loại trừ người Samaria, đối lại người Samaria cũng thế. Đức Giêsu liên kết trong tình yêu gia đình nhân loại đang tản mác và chia rẽ nhau (Ep 2,14).
+++
Tình thương kéo con người lại gần nhau
Hai bài đọc hôm nay nói đến sự cách xa và sự gần gũi với Thiên Chúa. Giona bỏ trốn để khỏi đến Ninivê như Thiên Chúa truyền, nhưng khi ông xa lánh dân Ninivê thì ông cũng xa cách Thiên Chúa. Ngược lại, người Samari đến gần bên kẻ bị bọn cướp đánh đập, chăm sóc và thu xếp mọi việc cho người ấy.
Đây là năng động của Thiên Chúa, Đấng tự hạ để yêu thương chúng ta. Thiên Chúa là người mục tử đi tìm con chiên lạc để mang về lại đàn, là người cha già chạy ra ôm chầm lấy đứa con trai hoang đàng trở về, là người Samari cúi xuống băng bó vết thương cho nạn nhân. Là Đức Giêsu, chết trên thập giá vì chúng ta. Thiên Chúa chúng ta là như thế đó và Ngài không muốn một tôn giáo ‘pháo đài’, xa lánh kẻ khác vì sợ ‘lây nhiễm’, một tôn giáo không đặt lòng mến lên hàng đầu.
Vậy chúng ta hãy nghe Đức Giêsu mời gọi: ‘Anh hãy đi và làm như vậy’. Lúc nào cũng sẵn sàng phục vụ kẻ khác và Thiên Chúa, thật không dễ dàng đâu; nên cần phải cầu nguyện nhiều, để mở lòng ra cho một tình mến nhẫn nại, thương cảm và quảng đại.
Điều ấy giúp ta có một nhận xét khác. Giona, bị ném xuống biển, cá nuốt ông và nôn ông ra trên bờ biển. Trong bụng cá, ông đã tin tưởng cầu nguyện. Phụng vụ dùng những lời nguyện ấy làm Đáp ca: ‘Từ cảnh ngặt nghèo tôi kêu lên Đức Chúa, Người đã thương đáp lời. Lạy Chúa, từ lòng âm phủ, con cầu cứu, Ngài đã nghe tiếng con’. Là một yếu tố rất quan trọng, bởi vì không cầu nguyện, không thể mở lòng ra cho ân sủng, không thể thoát ra khỏi vướng bận của tính ích kỷ, khỏi danh lợi để đến với tình thương. Tình thương đưa ta gần kề bên kẻ khốn khó, như gương Đức Giêsu.
+++
Tôi kinh ngạc vì anh em đã mau chóng bỏ Đấng đã kêu gọi anh em bởi ân điển của Đức Kitô để theo một phúc âm khác. Chẳng có phúc âm nào khác cả, ngoại trừ một số kẻ gây rối cho anh em và muốn xuyên tạc phúc âm của Đức Kitô. Gl 1:6-7
Phao-lô, người đã trực tiếp trải nghiệm cuộc gặp gỡ với Đức Kitô đầy quyền năng đến nỗi đã biến đổi ông từ một kẻ bắt bớ dữ dội thành một sứ đồ không sợ hãi, không thể hiểu làm sao người ta có thể dễ dàng thay đổi lập trường, khuất phục trước những lời công kích của những kẻ mà mục đích duy nhất là lật đổ phúc âm của Đức Kitô. Lời của ông, hơn cả một lời cảnh báo nghiêm khắc, là tiếng rên rỉ của một tấm lòng khao khát Đức Kitô và bị chi phối bởi lòng ghen tị của người cha đối với những người mà ông đã dẫn dắt đến đức tin.
Làm sao chúng ta có thể nhanh chóng bỏ rơi Đấng đã hi sinh mạng sống mình để chúng ta được hưởng sự sống dồi dào?
Một câu hỏi chạm đến trái tim chúng ta trong xã hội, trong cuộc sống hằng ngày. Chẳng phải chúng ta cũng đang bị tấn công bởi những thông điệp ít nhiều tinh tế, nhằm làm suy yếu đức tin của chúng ta vào Chúa Kitô, thậm chí tầm thường hóa nó, khi nó không đi xa đến mức chế giễu và hạ thấp chính hiện thực? Và chúng ta phản ứng như thế nào? Một nụ cười hiểu biết, một sự thừa nhận phục tùng quyền tự do ngôn luận ngay cả khi nó xúc phạm và gây tổn hại đến các giá trị mà chúng ta tin tưởng, một sự điều chỉnh vô cảm và dần dần, cho phép đức tin của chúng ta bị pha loãng.
Rõ ràng, vấn đề không phải là đứng lên chống đối bằng súng, mà là đứng lên một cách tôn trọng và văn minh, cho đi nhưng cũng đòi hỏi sự tôn trọng đối với những gì chúng ta tin tưởng và những gì chúng ta dự định tuân theo trong hành vi của mình, và trên hết, đề phòng cám dỗ tuân theo một cách ngoan ngoãn tiêu chuẩn sống đang được ám chỉ.
Có lẽ, ngày nay, việc suy nghĩ lại nghiêm túc về những niềm tin làm nền tảng cho đức tin của tôi và cách chúng ảnh hưởng đến trải nghiệm cá nhân và các mối quan hệ của tôi không phải là điều xấu.
Lạy Chúa, xin ban cho con khả năng đặt Ngài làm nền tảng cuộc đời con, và ban cho con lòng can đảm để luôn vững vàng bám rễ vào đó, ngay cả khi đối mặt với sự thương hại của những người không thể cưỡng lại cám dỗ của câu nói "ai cũng làm như vậy".
Hãy luôn là một Kitô hữu không sợ hãi, sẵn sàng dám sống thánh thiện vì sự chiến thắng của Chúa và Vua của bạn. Hãy khơi dậy trong bạn niềm tự hào Kitô hữu này bằng cách suy nghĩ về lòng tốt lớn lao của Chúa dành cho bạn. Bạn có công đức gì để được kêu gọi đến với đức tin chân chính?
Thứ Ba tuần XXVII Tn
Chúa là tâm điểm đời sống
Maria ngồi dưới chân Đức Giêsu mà nghe lời Ngài, còn Matta thì bận rộn chuyện tiếp rước. Nếu ta suy nghĩ một chút, sẽ hiểu rằng khi ta có thời gian để làm công việc của Maria, ta lại thích làm việc của Matta hơn. Và ngược lại khi ta bận rộn với trăm công nghìn việc như Matta, ta lại thích được như Maria. Muốn nói điều này là trong thực tế, chúng ta luôn tìm thỏa mãn tích ích kỷ của mình, và vai trò của Maria, thật ra làm ta thích không phải vì để nghe lời Đức Giêsu, mà để được yên ổn (là một việc khác rồi).
Ai trung thành thật sự với Chúa, lợi dụng mọi lúc mọi dịp để cố gắng nên như Maria, lắng nghe thực sự Lời Chúa, tìm niềm vui khi ở bên Ngài. Như thế, ngay khi ở giữa bao bận rộn, họ vẫn cố gắng sống như Maria. Có những người rất hoạt động, tiếp tục từ việc này sang việc khác, nhưng nội tâm vẫn an bình, bởi vì tâm hồn họ ở bên Chúa. Họ làm tất cả những gì phải làm với tâm hồn thanh thản, bởi vì họ đang phục vụ Chúa và tình yêu đối với Chúa cũng như đối với tha nhân làm cho họ có được sự thanh thản lạ lùng trong tâm hồn.
Cầu xin Chúa giúp ta biết trung thành với lời của Ngài và không tìm chính mình, dù lúc nghỉ ngơi hay khi làm việc, để chúng ta có thể có được sự thanh thản đích thực trong sự kết hiệp với Ngài trong mọi hoạt động, mọi nơi.
+++
Đức Giêsu được cả hai chị em Matta và Maria đón tiếp. Từ đầu, Ngài để cho họ phục vụ Ngài. Nhất là Matta lăng xăng bởi nhiều công việc đến nỗi không còn có thời gian lắng nghe Đức Giêsu, để có một liên hệ trực tiếp với Ngài. Cô còn muốn tách Maria ra khỏi Đức Giêsu nữa. Khi ấy, Đức Giêsu nhẹ nhàng nhắc bảo Matta ‘chỉ có một điều cần’. Đối với con người điều thiết yếu chính là lời của Đức Giêsu, là chỉ mình Ngài. Ngài đến thăm nhà Matta không phải để được cô phục vụ, nhưng để đổ đầy tâm hồn cô lời của Ngài. Trong đoạn tin mừng hôm nay ta khám phá một điều lạ lùng này: ai đón tiếp người khác như vị ân nhân thì trở nên người thụ ân. Mầu nhiệm này được kiểm chứng khi vị khách lại chính là Đức Giêsu. Một câu châm ngôn của dân Ba lan: ‘Vị khách trong nhà bạn là chính Thiên Chúa’.
Hai chị em là biểu trưng của đời sống hoạt động và chiêm niệm. Không thiết yếu phải đối đầu hai hình thức này trong đời sống kitô. Ngày nay, có rất nhiều người điều hợp cả hai lối sống này, làm việc và cầu nguyện, hoạt động và chiêm niệm.
+++
Đức Chúa đã chọn tôi trước khi tôi sinh ra và kêu gọi tôi bởi ân điển của Ngài. Gl 1:15
"Ngài đã chọn tôi trước khi tôi sinh ra"! Một câu nói đầy suy ngẫm. Ngày nay, chúng ta có xu hướng coi bào thai như một thứ không quan trọng, đến mức chúng ta có thể thao túng nó, chúng ta có thể quyết định cho nó phát triển hay loại bỏ nó. Và ở đây, Phao-lô nói với chúng ta rằng Đức Chúa đã có một kế hoạch yêu thương dành cho nó: Ngài đã chọn nó! Tất nhiên, Phao-lô đang nói về chính mình và liên quan đến ơn gọi đặc biệt mà ông sẽ nhận thức được trên đường đến Đa-mát. Và chẳng phải tôi, bạn, mọi người đều có thể nói điều tương tự về chính mình sao?
Mỗi người đến với sự sống không phải là ngẫu nhiên: Đức Chúa đã muốn điều đó, Đức Chúa đã kêu gọi điều đó. Chúng ta hãy mở Sáng thế ký và tìm thấy: "Đức Chúa Trời phán... và nó liền có." Một ngày kia, Đức Chúa phán tên tôi và tôi bắt đầu hiện hữu. Tôi cũng được mong muốn, được kêu gọi bởi ân điển của Ngài. Ngài cũng đã dệt nên một giấc mơ tuyệt vời cho tôi, một giấc mơ mà có lẽ tôi vẫn chưa hoàn toàn hiểu được. Điều đó cũng đúng với mọi người!
Sự vĩ đại của tôi nằm ở sự lựa chọn này: đó là ý muốn của Chúa, không phải là một sự ngẫu nhiên!
Tiếng gọi này chứa đựng bí mật về sự viên mãn của tôi: tôi có một vị trí, một nhiệm vụ phải hoàn thành trong thế giới này, điều đó khiến tôi trở thành người cộng tác với Chúa và đặt tôi bên cạnh anh chị em mình với một vai trò rất cụ thể. Không ai có thể nói: Tôi vô dụng!
Và điều này áp dụng cho mọi người, ngay cả đứa bé đang hình thành trong bụng mẹ và vẫn chưa nhận thức được sự vĩ đại của mình, ngay cả những người già đã mất hết ký ức về điều đó...
Hôm nay tôi muốn dừng lại để chiêm nghiệm về món quà tuyệt vời này, đó là sự sống. Sau đó, tôi sẽ cầu xin Chúa giúp tôi hiểu và đào sâu sự hiểu biết của tôi về tiếng gọi mà Ngài đã đến với tôi và tiếp tục đến với tôi mỗi ngày, để tôi có thể đáp lại nó một cách nhanh chóng và vui vẻ.
Lạy Chúa, Ngài thật vĩ đại, và công việc của Ngài thật kỳ diệu! Tôi chiêm nghiệm phép lạ của sự sống trong tôi và xung quanh tôi, và tôi cảm nhận được tiếng vọng của giọng nói Ngài đang kêu gọi tôi chịu trách nhiệm về nó, cộng tác với Ngài và với anh chị em tôi, thực hiện nhiệm vụ mà Ngài giao phó cho tôi, để nó được phát triển trọn vẹn.
Thứ Tư tuần XXVII Tn
Đức Mẹ Mân Côi
Lý do chọn bài tin mừng của Luca cho ngày lễ Mân Côi: vì chứa đựng những lời đầu tiên của kinh Kính Mừng: ‘Kính chào Bà, đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Bà’. Chúng ta lập đi lập lại những lời đó thật nhiều lần khi chúng ta lần chuỗi mân côi. Là phương thế để ta hiện diện cùng với Mẹ và Chúa Giêsu, vì ‘Chúa ở cùng Mẹ’, ở cùng Mẹ một cách đơn sơ, bằng cách làm sống dậy tất cả những mầu nhiệm cuộc đời của Chúa Giêsu, mầu nhiệm ơn cứu độ của chúng ta.
Đoạn tin mừng về biến cố truyền tin, thoạt đầu hình như chỉ nói với ta về mầu nhiệm Vui, nhưng nếu chúng ta xem kỹ hơn, chúng ta sẽ gặp thấy cả mầu nhiệm Mừng và Thương nữa. Mầu nhiệm Vui với biến cố trung tâm là việc sinh hạ Đức Giêsu: truyền tin cho Mẹ Maria, đề nghị Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế: ‘Bà sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và đặt tên là Giêsu’. Mầu nhiệm Mừng: ‘Ngài sẽ nên cao trọng và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao; Thiên Chúa sẽ trao cho Ngài ngôi báu Đavít tổ phụ Ngài, và triều đại Ngài sẽ vô tận’. Phục sinh và lên trời, Đức Giêsu lãnh nhận vương hiệu Vua cứu thế, vinh quang vĩnh cửu trong triều đại của Cha. Vẫn còn thiếu mầu nhiệm Thương. Lời đáp trả của Mẹ Maria, không phải là một tiếng hô vang chiến thắng mà là một lời khiêm cung: ‘Này tôi là tôi tớ Thiên Chúa, xin hãy thành sự nơi tôi điều Ngài truyền’. Làm nổi bật hình ảnh của Người Tôi Tớ của Giavê, được tiên tri Isaia loan báo. Trước khi được vinh thăng, Người Tôi Trung đã bị sỉ nhục, kết án, giết chết vì tội lỗi chúng ta.
Với sự linh hứng của Thánh Thần, Mẹ Maria biết rằng các mầu nhiệm Vui cắm rễ sâu nơi những mầu nhiệm Mừng và mầu nhiệm Thương là con đường phải trải qua để đến vinh quang. Cầu xin Mẹ giúp chúng ta hiểu thấu việc kết hiệp với Đức Kitô, để Ngài có thể thực hiện những việc kỳ diệu nơi cuộc đời mỗi người chúng ta.
+++
Tình yêu là điều thiết yếu, trung tâm của đời sống kitô, và việc cầu nguyện là hơi thở. Do đó, sau khi nói về giới luật yêu thương, Đức Giêsu nói đến việc cầu nguyện.
Đòi hỏi quan trọng nhất của kinh nguyện của Chúa nằm nơi những lời này: ‘Nước Cha trị đến’. Tạo nên sợi chỉ đỏ xuyên suốt lời giảng của Đức Giêsu và mục đích hành động của Ngài. Ai làm theo thánh ý Thiên Chúa và dấn thân mở rộng nước Thiên Chúa trên thế giới, có thể cầu xin bánh hằng ngày, tượng trưng bánh thánh thể và lương thực mà những người được cứu độ dùng chung với nhau trong nhà Cha. Do đó, mỗi người chúng ta là người mắc nợ và là tội nhân trước mặt Thiên Chúa, hoàn toàn phó thác cho lòng thương xót của Người. Thiên Chúa tha thứ cho ta nhưng Người đòi ta phải trải nghiệm lòng thương xót ấy qua việc tha thứ cho người khác.
Ý thức những nguy cơ xảy ra, ta hãy cầu xin Thiên Chúa hướng dẫn ta vượt qua mọi thử thách và cám dỗ. Khi nước Thiên Chúa đến, mọi khao khát nhân loại của ta sẽ được thỏa mãn, những lời cầu xin của ta sẽ được nhận lời và ta sẽ được giải thoát khỏi mọi nguy hiểm.
Lời kinh của Chúa là tổng hợp toàn bộ tin mừng và tóm gọn, dưới dạng câu hỏi tất cả mạc khải. Đó là lý do trở thành lời kinh chính thức của Hội thánh, mẫu mực và nguồn mạch của mọi kinh nguyện khác
+++
‘Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện’. Đây là lời các môn đệ yêu cầu Đức Giêsu mà ta đọc thấy trong tin mừng hôm nay. Ta tìm hiểu một chút xem nhu cầu học cầu nguyện cần thiết như thế nào; nhất là với sự trợ giúp của bài đọc thứ nhất.
Thái độ của Giona hoàn toàn trái ngược với lời cầu xin đầu tiên của Kinh Lạy Cha: ‘Lạy Cha xin làm cho danh Cha vinh hiển’. Giona đi ngược lại với lời kêu xin này, ông không muốn danh Thiên Chúa được hiển hiện. Ông biết danh Thiên Chúa. Ông thưa với Thiên Chúa: ‘Thật vậy, con biết rằng Ngài là Thiên Chúa từ bi nhân hậu, chậm giận, giàu tình thương và hối tiếc vì đã giáng họa’. Đó là danh Thiên Chúa mà Giona biết từ mạc khải thánh kinh. Nhưng ông không muốn danh đó được hiển hiện trong cuộc sống của mình: là điều đi ngược lại với thú vui của ông, với ước muốn sống của ông, Ông đã được sai đến Ninivê để tiên báo: ‘Còn bốn mươi ngày nữa Ninivê sẽ bị tiêu diệt’. Và giờ đây ông ngồi chờ cho lời tiên báo đó thành sự thật, để danh tiếng tiên tri của ông được biết đến. Nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa không thể thực hiện lời tiên báo ấy. Thiên Chúa đã sai vị ngôn sứ đến để kêu gọi sự sám hối và việc đe dọa như là điều kiện: ‘Nếu không ăn năn sám hối, sẽ bị tiêu diệt’ và giờ đây Thiên Chúa vui lòng khi thấy dân thành Ninivê ăn năn sám hối và có thể làm hiển danh Thiên Chúa: tình yêu, lòng nhân hậu, lòng thương xót của Ngài. Giona giận dữ, không muốn cho danh Chúa được tỏ hiện. Thiên Chúa đã dạy cho ông một bài học để ông hiểu rằng Ngài có lý khi cảm thương dân thành, tha thứ và muốn họ sống chứ không muốn họ phải chết.
Biết bao lần ta cũng đã không muốn cho danh Thiên Chúa được tỏ hiện: một Thiên Chúa khiêm nhu, nhẫn nại, một Thiên Chúa không can thiệp bằng bạo lực nhưng chờ đợi con người trở về, một Thiên Chúa rút điều lành từ điều dữ. Biết bao lần ta than trách Thiên Chúa vì nhiều điều không xảy ra đúng theo ý ta. Ta muốn thành công trong điều ta làm; ta muốn những tiếp xúc dễ dãi và yên lành với tất cả; ta muốn quan điểm của mình vượt trội; ta muốn các tên tội phạm phải bị hành quyết…và Thiên Chúa là đấng làm cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ và người lành. Những phản ứng tức thì của chúng ta trái ngược với lời cầu xin đầu tiên trong kinh Lạy Cha, thay vì nói ‘xin cho danh Cha được hiển trị’ thì ta nói ‘xin cho ý con, ao ước của con, cách nhìn của con được thể hiện’. Và tất cả những ý tưởng, những mong ước và những quan điểm của ta rất khác với Thiên Chúa. Nên ta cần cầu xin Chúa dạy ta cầu nguyện, xin Ngài đặt trong lòng ta ao ước cho danh Thiên Chúa được thể hiện.
Trong phụng vụ thánh thể Chúa dạy dỗ ta. Ngài khởi đầu bằng việc cử hành phụng vụ lời Chúa, nhờ đó ngài soi sáng cho ta, thông ban cho ta cái nhìn của Ngài để thay thế quan điểm của ta. Nhưng không chỉ bằng lời của Ngài nhưng còn bằng cả năng động của sự sống, hy sinh của Ngài để ta học biết cầu nguyện: ‘Lạy Cha, xin cho danh Cha được hiển trị’, là lời cầu nguyện mà ta chỉ có thể hiểu được nếu ta đi vào trong hy tế của Đức Kitô. Làm thế nào để danh Thiên Chúa được hiển trị? Có nghĩa là gì? Ta học biết điều này khi tham dự vào hy tế của Đức Giêsu. ‘Lạy Cha, xin hãy làm vinh danh Cha’. Và từ thập giá của Đức Kitô, từ chiến thắng của Ngài trong cuộc thương khó mà danh của Thiên Chúa thực sự được thể hiện, được tôn vinh, được thánh hóa. Đức Giêsu trong trong Thánh Thể đưa chúng ta vào trong hành vi khổ nạn, như thế ta có thể cầu nguyện kinh Lạy Cha sâu xa hơn từ đầu cho đến hết Thánh Lễ. Xin cho danh Cha được cả sáng, ta đọc điều này sau khi Đức Giêsu tự hiến chính mình cho ta: Này là mình Thầy, bị nộp vì anh em, này là máu Thầy, máu giao ước mới’. Như thế danh Thiên Chúa được vinh hiển.
+++
"Trước khi có một số người từ Giacôbê đến, Phêrô thường ăn uống với người ngoại. Nhưng sau khi họ đến, ông lui ra và giữ mình tách biệt vì sợ những người đã chịu phép cắt bì."
Một đặc điểm của sự yếu đuối được thấy nơi người mà Chúa Giê-su đã giao phó nhiệm vụ "củng cố anh em" , Ngài đảm bảo với người đó về sự giúp đỡ của mình: "Ta đã cầu nguyện cho ngươi" Bằng chứng thêm cho thấy không ai được vững vàng trong ân điển và chúng ta phải luôn cảnh giác vì con người cũ luôn có xu hướng trỗi dậy.
Những đòi hỏi của đời sống kitô trái ngược với cách hành xử của số đông, hôm nay cũng như hôm qua, và việc là 'dấu hiệu của sự mâu thuẫn' thật khó chịu. Sự cám dỗ trốn sau những cách làm và nói phổ biến có thể len lỏi vào, đẩy người ta đến sự giả dối hoặc im lặng, dễ dàng được hiểu là sự đồng thuận hoặc chia sẻ. Và 'rượu cưới' biến trở lại thành 'nước vô vị', 'muối' chỉ trở nên tốt khi bị giẫm đạp dưới chân, không có khả năng khôi phục hương vị và ý nghĩa cho cuộc sống.
Thái độ tìm cách giảm thiểu tầm quan trọng của đức tin cho thấy đó là sự phản bội thực sự đối với đức tin kitôg giáo, một sự phản chứng gây ra sự nhầm lẫn. Lời phán của Phao -lô: "Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" không nên để chúng ta một mình mà nên thúc đẩy chúng ta bước ra ngoài, hoàn toàn gánh vác trách nhiệm giữ gìn và duy trì ánh sáng mà chính chúng ta đã được soi sáng và nay được giao phó vào tay chúng ta, để thế giới tin và nhờ tin mà được cứu rỗi.
Hôm nay, trong khoảnh khắc chiêm nghiệm, tôi sẽ để cho lời kêu gọi của Phao-lô đến với mình và tôi sẽ cam kết sống đức tin của mình một cách nhất quán và hữu hình.
Xin Chúa giải thoát con khỏi cám dỗ giả vờ giữ lập trường và hành vi chấp thuận một cách tự mãn với xu hướng chung. Nguyện xin con trở thành muối và ánh sáng ở bất cứ nơi nào con được kêu gọi đến sống.
Chúa đã lập giao ước với chúng ta. Mỗi người nhận được đức tin là dành cho tất cả mọi người. Một khi Lời Chúa được nhập thể trong chúng ta, chúng ta không có quyền giữ nó cho riêng mình: từ giây phút đó trở đi, chúng ta thuộc về những người đang chờ đợi nó. Madeleine Delbrêl
Thứ Năm tuần XXVII Tn
Ơn huệ Thánh Thần
Đây là tin mừng làm vững dạ an lòng. Các người do thái nói: ‘Phụng thờ Thiên Chúa thật là viễn vông, tuân giữ các lệnh truyền của Đức Chúa và bước đi ủ rũ trước nhan Người, nào ích lợi chi? Giờ đây chúng tôi cho những kẻ kiêu ngạo là có phúc; phải, những kẻ làm điều ác được thịnh đạt, họ thử thách Thiên Chúa mà chẳng hề hấn gì’. Trong Tân Ước chúng ta gặp được câu trả lời. Người hồi giáo gọi Thiên Chúa bằng 99 tên gọi đẹp nhất, nhưng trong số đó chẳng có tên gọi nào là ‘cha’. Họ quan tâm đến sự siêu việt của Thiên Chúa và lời cầu nguyện của họ chỉ là tuân phục; chúng ta thì khác, chúng ta tin vào mạc khải tình phụ tử của Thiên Chúa và lời nguyện của ta không chỉ là vâng phục ý muốn của Ngài mà còn là lòng tín thác hiếu thảo.
Đức Giêsu trong tin mừng hôm nay nêu lên hình ảnh của người cha cho con mình những điều tốt. Ta phải đến với Cha trên trời bằng lòng đơn thành và khẩn khoản của trẻ thơ và chúng ta sẽ nhận được tất cả mọi sự từ bàn tay của Ngài. Câu cuối đáng kinh ngạc, vì Đức Giêsu thình lình kết thúc bằng cách nói đến Thánh Thần, ơn huệ của Thiên Chúa, điều kiện của lời cầu xin…[phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao]?
Như thế lời cầu nguyện của ta hướng về những điều tốt lành vô cùng. Cùng với Thánh Thần chúng ta có tất cả: niềm vui trong hành vi cảm tạ, bình an, một thái độ thanh thản đặc biệt ngay cả lúc đau khổ…Tất cả đều là hoa quả của Thánh Thần, mang lại cho ta hạnh phúc sâu thẳm.
Chúng ta hướng lòng kêu van Đức Giêsu để Ngài nhận từ Cha mà ban phát cho ta ân huệ của Thánh Thần và chúng ta cảm tạ Ngài vì đã mở cho chúng ta một chân trời sáng lạn, vì đã ban cho ta khả năng đến với Thiên Chúa như là một người Cha yêu thương luôn muốn điều tốt nhất cho ta.
+++
Vậy, Đấng ban Đức Thánh Linh cho anh em và làm phép lạ giữa anh em có làm điều đó bởi việc giữ luật pháp hay bởi việc anh em nghe lời đức tin? Gl 3:5
Phao-lô không hạ thấp Luật pháp, tức là “Mười Điều” do chính Đức Chúa ban cho dân Israel như một sự bảo vệ cho sự giải thoát họ khỏi ách nô lệ của các thần Ai Cập. Thay vào đó, ông đang chỉ ra sự tự phụ của những người tin rằng họ có thể được cứu rỗi nhờ việc tuân giữ luật pháp một cách tỉ mỉ, giống như con sâu gặm nhấm đời sống tận hiến của một số tín đồ.
Không, Phao-lô nói, không phải điều đó giải phóng, mà là đức tin nơi Đấng duy nhất đến từ Ngài mà sự cứu rỗi đến. Mỗi khi ai đó hoặc điều gì đó được tôn lên thành thần thánh, ngay cả điều thánh khiết nhất như Luật pháp, do đó thay thế nó cho chính Đấng ban luật, chúng ta chắc chắn sẽ trượt vào sự thờ hình tượng và do đó vào sự nô lệ nhục nhã nhất.
Có lẽ ngày nay, hơn cả việc thờ phượng chính Luật pháp, một điều gì đó thậm chí còn suy đồi hơn đang diễn ra. Hãy nghĩ về những thần tượng mà xã hội dâng tặng cho chúng ta: tiền bạc, tình dục, quyền lực... Tất cả những thứ đó tự bản thân chúng đều tốt đẹp cho đến khi chúng trở thành thần tượng, cũng giống như Luật pháp khi việc tuân giữ nó bị thúc đẩy bởi sự giả vờ tinh vi về việc leo lên đỉnh cao của sự thánh thiện thông qua việc tự tôn mình, thay vì khiêm nhường đón nhận món quà thánh hóa của Chúa Thánh Thần, điều mà đức tin mở ra cho chúng ta.
Nếu việc nâng một giá trị tương đối lên tuyệt đối bằng cách biến nó thành mục đích sống khiến ta bị nô lệ, thì việc mở lòng đón nhận đức tin, được hiểu không chỉ là những chân lý được tin tưởng mà còn là con đường soi sáng và mở ra cho chúng ta cuộc sống trong sự chấp nhận khiêm nhường và vui mừng của Chúa Thánh Thần, sẽ khôi phục lại phẩm giá con thảo mà chúng ta đã được đánh dấu ngay từ giây phút đầu tiên: được gọi là hình ảnh, con cái của Chúa và do đó là người cai trị toàn bộ vũ trụ.
Trong khoảnh khắc chiêm niệm hôm nay, tôi muốn cầu khẩn Chúa Thánh Thần để trong ánh sáng của Ngài, tôi có thể nhận ra và loại bỏ bất cứ điều gì, ngay cả trong nỗ lực tìm kiếm Chúa, có thể là sự tìm kiếm bản ngã.
Chúa Thánh Thần, Thần Chân Lý, xin soi sáng mắt con để con phân biệt được điều gì đến từ Thiên Chúa và điều gì đến từ bản ngã, và để đức tin của con là sự gắn bó chân thành và đích thực với Chúa Kitô, Con Đường, Chân Lý và Sự Sống duy nhất.
Hãy thành tâm. Tại sao chúng ta không luôn luôn đổi mới xã hội, tại sao chúng ta không luôn luôn có sức mạnh để truyền cảm hứng? Chúng ta thiếu đức tin, đức tin sốt sắng! Chúng ta sống ít cho Thiên Chúa và nhiều cho thế gian: chúng ta sống một đời sống tâm linh tiêu hao, thiếu đi đời sống đức tin và đời sống Kitô đích thực bên trong chúng ta, đời sống chứa đựng toàn bộ khát vọng tìm kiếm chân lý và tiến bộ xã hội; khát vọng ấy thấm nhuần mọi sự và mọi người, và đến cả những người lao động khiêm nhường nhất. Chúng ta thiếu đức tin biến cuộc sống thành một sứ vụ sốt sắng vì người nghèo và người bị áp bức, như chính cuộc sống và Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô. Thánh Luigi Orione
Thứ Sáu tuần XXVII Tn
Chúa làm chủ ngôi nhà tâm hồn
Tin mừng hôm nay nói đến cuộc chiến đấu giữa Đức Giêsu và ma quỷ, một cuộc chiến xảy ra trong tâm hồn con người. Chúng ta biết rằng mình đã được giải thoát khỏi tội lỗi và ma quỷ, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, qua bí tích rửa tội và rồi, trong đời sống, qua bí tích giao hòa. Tin mừng hôm nay có một vài câu hơi khó hiểu, chúng ta dừng lại ở đoạn Chúa nói: ‘Khi thần ô uế xuất khỏi một người, thì nó đi rảo qua những nơi khô cháy, tìm chốn nghỉ ngơi. Mà vì tìm không ra, nó nói: ta sẽ trở về nhà ta đã bỏ ra đi…Nó liền kéo thêm bảy thần khác dữ hơn nó..Tình trạng của người ấy lại tệ hơn trước’.
Khi quỷ dữ bị đuổi ra do quyền lực của một ai đó mạnh hơn nó, Đức Giêsu, ‘nhà được quét dọn và trang hoàng’, nhưng vẫn còn đó nguy hiểm vì trống trải. Và điều đó xảy ra, là tên quỷ ấy quay lại và tình trạng sẽ tồi tệ hơn trước. Nhà trống trải ý muốn nói điều gì? Tự nhiên chúng ta thích được giải thoát khỏi sự dữ và nhất là khỏi tội lỗi đè nặng trên lương tâm chúng ta; chúng ta ao ước, bằng lòng và cảm tạ Chúa vì Ngài đã giải thoát chúng ta: khi ấy ngôi nhà tâm hồn chúng ta sạch sẽ và gọn gàng. Nhưng trong đời sống thiêng liêng, có một giai đoạn rất cần thiết nữa, mà thường chúng ta không thích lắm, bởi vì trong ngôi nhà đẹp này chúng ta muốn yên ổn, muốn làm chủ, không muốn ai ra lệnh cho ta cả. Ông chủ là Thiên Chúa, và điều này không làm ta vui lòng. Khi Ngài khuấy động lòng ta, ta thích ở yên một mình trong nhà, và Ngài thì khuấy động chúng ta bằng nhiều cách lắm: bằng hoàn cảnh, người xung quanh, bằng những yêu sách của ngài, trong khi chúng ta không làm điều ngài muốn. Nếu chúng ta muốn làm chủ ngôi nhà mình, chúng ta sẽ đặt mình vào hoàn cảnh nguy hiểm hơn: tính ích kỷ sẽ biểu hiện tồi tệ hơn tội trước đây đã làm hoen ố nhà chúng ta, bởi vì nó làm cho chúng ta sống ngược lại với tinh thần của Thiên Chúa. Nếu người ta sống mà không muốn bị Thiên Chúa cũng như bởi người anh em quấy rầy, làm các công việc theo sở thích của ta, sẽ xảy ra lệch hướng làm cớ cho ma quỷ lợi dụng.
Hôm nay chúng ta hãy canh tân quyết tâm của mình để cho Chúa làm chủ nhà mình, bỏ những ý riêng mình, những sở thích riêng, để đón nhận mọi lúc mọi nơi những ý muốn của Chúa.
+++
Chúa Kitô đã chuộc chúng ta khỏi lời nguyền rủa của Luật pháp, Ngài đã trở thành lời nguyền rủa thay cho chúng ta. Vì có chép rằng: “Ai bị treo trên cây gỗ đều bị rủa sả”. Điều đó xảy ra để trong Chúa Giêsu Kitô, phúc lành của Áp-ra-ham được đến với dân ngoại, hầu cho chúng ta nhận lãnh lời hứa về Đức Thánh Linh nhờ đức tin. Gl 3:13-14
Phao-lô, với ngôn từ sắc bén của mình, đã lay động chúng ta và buộc chúng ta phải suy ngẫm về nghịch lý của sự cứu chuộc. Một điều phi lý, trước đó lòng kiêu hãnh của con người phải e ngại, và bao trùm toàn bộ sự hiện hữu lịch sử của Chúa Kitô: từ lúc Nhập Thể đến sự kiện Phục Sinh, sự chết và sự tôn cao của Ngài.
Việc “trở thành lời nguyền rủa”, trong các đoạn khác là “tội lỗi”, có nghĩa là thể hiện mức độ liên đới của Chúa Kitô với nhân loại: Ngài đã mang lấy thân xác chúng ta, chịu sự nguyền rủa của tội lỗi, điều mà chúng ta không thể thoát khỏi, để cởi bỏ xiềng xích của chúng ta và phục hồi phẩm giá của con cái Đức Chúa cho chúng ta. Chỉ bằng cách này, bằng cách hoàn toàn đắm mình vào đó, ông mới có thể buộc tình trạng nhục nhã này từ bên trong phải thay đổi và nhấn chìm lời "không" của A-đam trong lời "vâng" của mình đối với Chúa Cha, nghĩa là trong sự chấp nhận trọn vẹn và yêu thương ý muốn cứu rỗi của Ngài. Và như vậy, nguồn ân điển vô tận của Chúa đã được mở ra và đất đai được trả lại để sinh sôi nảy nở, không còn sự phân biệt chủng tộc nào nữa.
Nhờ sự hiệp nhất này, mỗi người có thể nói "trong" Ngài, tôi đã chết cho sự lệ thuộc nhục nhã của tội lỗi và đã sống lại như một tạo vật mới. "Trong" chứ không chỉ đơn giản là "với"! Và điều này là bởi vì "thân xác" mà tôi và Con Thiên Chúa cùng chia sẻ là một. Một mầu nhiệm cao cả khiến Phao-lô kêu lên: Cuộc sống này tôi đang sống, tôi sống trong Đức Kitô; không còn phải là tôi sống nữa, mà là Đức Kitô sống trong tôi!
Một tiếng kêu vui mừng nên vang lên trên môi của mỗi Kitô hữu, trên môi tôi. Hôm nay, tôi muốn được nắm bắt bởi mầu nhiệm choáng ngợp và phấn khởi này.
Lạy Chúa, kế hoạch yêu thương của Ngài thật khó hiểu biết bao! Khi tôi nghĩ mình đã thấu hiểu chúng, tôi kinh ngạc nhận ra rằng mình chỉ mới bắt gặp một tia sáng le lói. Và Mẹ, với ánh sáng của Mẹ, thúc giục tôi tiến xa hơn: một cuộc tìm kiếm tình yêu sẽ kết thúc trong vòng tay ôm ấp vĩnh cửu.
Thứ Bảy tuần XXVII Tn
Lắng nghe và tuân giữ lời Chúa
Thiên Chúa luôn chỉ cho ta con đường dẫn đến niềm vui đích thực, sâu lắng và giúp ta phân biệt hạnh phúc đích thực giữa bao hạnh phúc khác. Trong bài tin mừng ta gặp một điều thú vị: Đức Giêsu, xem như có vẻ khước từ trước lời báo tin về sự hiện diện của Mẹ Maria, lại tuyên bố mẹ Ngài là người có phúc. ‘Phúc cho dạ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú’, một phụ nữ trong đám đông đã lên tiếng như thế. Đức Giêsu đáp lại: ‘Đúng hơn phải nói rằng: phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa’. Ngài không phủ nhận việc làm mẹ Ngài là một niềm vui lớn nhưng bên trong niềm vui ấy, còn có một yếu tố sâu xa hơn. Ta biết rằng Mẹ Maria đã chối từ vai trò làm mẹ, đối với Mẹ không là điều thiết yếu; thiết yếu là làm người nữ tỳ của Chúa, lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa. Hai lần trong cuộc đời của Mẹ, Thiên Chúa đã đòi Mẹ khước từ mẫu tính: trước biến cố truyền tin của sứ thần và trên đồi Calvê, khi Maria, một cách nào đó, lập lại sự khước từ bằng cách chấp nhận lễ hy sinh của Con, chấp nhận không phải là mẹ của một người con còn sống. Đòi hỏi Mẹ như thế nên Thiên Chúa ban cho Mẹ nhiều hơn: liên kết Mẹ với Người, tỏ cho Mẹ biết những dự tính của Người. Và cho Mẹ cộng tác vào chương trình Thiên Chúa, ở mức độ sâu nhất. Nơi mỗi lời mời gọi của Thiên Chúa, có nhiều bình diện khác nhau, nhưng quan trọng nhất vẫn là gắn bó vào cái trung thực và sâu xa nhất. Chúng ta hay bám víu vào bình diện con người. Nếu ngược lại chúng ta gắn bó với bình diện sâu thẳm nhất, chúng ta được an toàn, vì nếu cần phải hy sinh, chúng ta vẫn kết hiệp với Thiên Chúa, cuộc sống của ta ở trong tay Ngài. Ta lấy một ví dụ điển hình. Biết bao người bảo: Thật là hạnh phúc được ở Roma, trung tâm kitô giáo, một thành phố thi vị và được gần Đức Thánh Cha. Đúng là một ân huệ. Tuy nhiên nếu chúng ta chỉ bám vào cái bình diện với những lợi ích bên ngoài ấy, chúng ta đã bỏ quên bình diện chính yếu, là cảm nghiệm rằng tôi ở đấy để phục vụ Thiên Chúa, để vâng phục Ngài. Nếu chúng ta sẵn lòng như thế, bảo đảm chúng ta sẽ không thiếu niềm vui đích thực, cho dù Chúa có đòi chúng ta phải hy sinh hoàn cảnh mang lại niềm vui ấy đi chăng nữa. ‘Phúc cho ai lắng nghe lời Chúa và tuân giữ’ đó là lương thực linh hồn ta, vì đó cũng là lương thực của Đức Giêsu.
Cầu xin cho ta và cho những người thân yêu của ta ơn biết gắn bó với điều thiết yếu, để tự do dâng lên Ngài những hy sinh, tất cả những gì ngài yêu cầu, để ta được lớn lên trong tình yêu.
+++
Vì tất cả anh em đều là con cái Đức Chúa Trời nhờ đức tin nơi Đức Giê-su Kitô. Vì tất cả những ai đã chịu phép rửa trong Đức Kitô đều đã mặc lấy Đức Kitô. Gl 3:26-27
“ Tất cả anh em đều là con cái Đức Chúa ”: một cách diễn đạt mà chúng ta có nguy cơ trở nên quen thuộc, bởi vì nó quá phổ biến. Giống như những gì xảy ra trong gia đình. Thông thường, chúng ta nhận thức được mình là “con cái” khi bắt đầu làm cha/mẹ. Hay đúng hơn, chính lúc đó chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của cách diễn đạt này, vốn không chỉ đơn thuần ghi lại một sự thật.
Không, việc tôi có thể gọi Đức Chúa là “Cha” hoàn toàn không phải là điều hiển nhiên: đó là một món quà hoàn toàn miễn phí và không thể tưởng tượng nổi ở cấp độ con người. Ai lại dám, chứ đừng nói là hỏi, mà chỉ đơn giản là mong muốn nhiều đến thế?
Tuy nhiên, Đức Chúa đã mơ về chúng ta như vậy khi Ngài xướng tên chúng ta, kêu gọi chúng ta sống. Mầu nhiệm cao cả của sự Nhập Thể làm cho trước mắt chúng ta thấy rõ điều mà mỗi người chúng ta được kêu gọi trở thành: con cái, giống như Con. Hơn thế nữa: con cái "trong" Con, hiệp nhất với Ngài, ở trong Ngài.
Thánh Phaolô nói về việc "mặc lấy Chúa Kitô", nhưng điều này tuyệt đối không nên được hiểu là điều gì đó chồng chéo lên thực tại sâu sắc của chúng ta, giống như một chiếc áo, mà thực tế, tôi được phân biệt bởi nó. Là con cái nằm trong ADN của tôi, trong bản thể đó là hình ảnh của Thiên Chúa mà lời "không" của tội lỗi đã làm biến dạng, nhưng không thể xóa bỏ. Tất cả những gì cần thiết là một công việc phục hồi táo bạo, mà chúng ta cảm thấy mình không đủ khả năng.
Và đây là công việc cứu chuộc đến với chúng ta qua Bí tích Thánh tẩy: sự đắm mình trong lời "vâng" đối với tình yêu của Chúa Kitô để, chết cho tội lỗi, chúng ta xuất hiện như những tạo vật được đổi mới trong bản thể con cái của mình.
Hôm nay tôi muốn đắm mình trong sự chiêm nghiệm mầu nhiệm cao cả này để ngày càng ý thức và vui mừng đón nhận thực tại con cái của mình. Lạy Cha! Thật là một niềm vui khi có thể gọi Cha như vậy, biết rằng đó không phải là một hình ảnh ẩn dụ, mà là một thực tại vĩ đại, và điều này là nhờ Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần ngự trong con! Xin ban cho con một tấm lòng hiếu thảo thực sự để đáp lại ân huệ của Chúa.
Vì Chúa Giêsu đã ban cho anh chị em một người Cha tốt lành như vậy, hãy cố gắng trở nên như thế để phó thác mình vào vòng tay Người và tận hưởng sự hiện diện của Người. Thánh Teresa Giêsu
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Những tin cũ hơn








Suy Niệm Lễ Mẹ Mân Côi. Tuần XXVII TN/A - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Chuẩn bị bước vào tháng Mân Côi - Một tràng chuỗi, một lời kinh mỗi ngày
Chăm chú nhìn nhau trong thời đại 'câu nhấp': Chủ đề Ngày Thế giới Truyền thông xã hội 2027
Đức Hồng y McElroy bàn về Giáo hội trong thời đại kỹ thuật số
Suy niệm Lời Chúa Chúa Nhật 27 thường niên A - Lm. Xuân Hy Vọng