Suy niệm hằng ngày tuần XXXIII thường niên - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Chủ nhật - 18/11/2018 02:52  324
Thứ Hai tuần XXXIII Tn
Tin mừng hôm nay là một bài dạy về cầu nguyện. Anh mù đã nài nỉ cầu xin: ‘Lạy ông Giêsu, con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi’! Một khi được nhận lời, lời cầu nguyện của anh biến thành lời chúc tụng tôn vinh và lan rộng đến dân chúng: ‘Anh theo Người, vừa đi vừa tôn vinh Thiên Chúa. Thấy vậy toàn dân cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa’.
Lời cầu xin có hai điều kiện và cả hai đều thấy có trong trình thuật. Điều kiện thứ nhất là ý thức mình cần đến Chúa. Anh mù ý thức điều này: anh cần được nhìn thấy và anh đã kêu la lớn tiếng không ai cản được, vì anh ý thức nỗi khổ đau, thân phận bất bình thường của mình và với bất cứ giá nào muốn thoát ra khỏi đó.
Điều kiện thứ hai là lòng tin tưởng: không có tin tưởng thì không còn phải là cầu nguyện, nhưng chỉ là ngã lòng, thất vọng. Trái lại, nếu trong cảnh cùng cực mà trong ta bừng cháy lên lòng tin tưởng, ta có thể cầu nguyện; do đó Đức Giêsu nói: ‘Lòng tin anh đã cứu chữa anh’. Ý thức nỗi bất hạnh của mình kèm theo lòng tin phó thác vào quyền năng và lòng thương xót của Chúa: anh mù đã cầu nguyện, đã kêu lớn tiếng, đã được nhận lời và đã có thể tôn vinh Thiên Chúa.
Ý thức và lòng tin, một ý thức không phải là đưa đến buồn phiền: là điều tiên quyết cho một lời cầu nguyện đích thực, vì nó giúp ta chạy đến Thiên Chúa với tiếng kêu van chân thành muốn được chữa lành. Đừng khép kín mình lại trong nỗi bất hạnh của mình; tốt hơn nên thưa với Thiên Chúa: ‘Lạy Chúa, Chúa biết con đau khổ và cần đến Chúa: con tin rằng với lòng tốt lành của Chúa, Chúa sẽ thương xót con và chữa lành con. Con tin điều đó, lạy Chúa’. Lúc đó lời cầu nguyện của ta sẽ được nhận lời và ta có thể ca tụng ngợi khen Thiên Chúa về lòng thương xót vô biên của Ngài.
+++
Phúc thay người đọc, phúc thay những ai nghe những sấm ngôn đó và tuân giữ các điều chép trong đó, vì thời giờ đã gần đến.
Hai tuần cuối năm phụng vụ trích đọc sách Khải huyền, quyển sách hấp dẫn cách nhiệm mầu mời gọi ta suy nghĩ về những điều cuối cùng mà nhiều lúc ta không hiểu được tính cách sư phạm của nó. Khải huyền là quyển sách đồng hành hướng dẫn người kitô hữu qua mọi thời đại trong hành trình lịch sử của mình. Chính Đức Giêsu ở bên cạnh ta, cùng đi với ta, hướng dẫn ta trên những nẻo đường ánh sáng, và con đường bát phúc.
Chính là một hạnh phúc khi mở lá thư gởi cho bảy giáo đoàn Tiểu Á, cũng là gởi cho mỗi người chúng ta: phúc cho ai đọc, ai biết lắng nghe và tuân giữ. Các mối phúc dẫn đưa chúng ta vào hàng ngũ những người trong lịch sử cứu độ biết lắng nghe và mang ra thực hành lời Chúa, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất; giả thiết họ phải có lòng kiên trì trong cách sống mỗi ngày không ngừng nhớ lại tình yêu thuở ban đầu (x. Kh 2,2-4) mà lắm lúc những gian nan mệt mỏi làm ta xa rời hoặc làm ta vấp ngã, không thực hiện những việc thuở đầu nữa. Trái lại sẽ là hạnh phúc cho người đi trong đường lối chính trực, người biết đứng lên sau khi ngã, người thấy niềm vui trong lề luật Chúa (x. Tv 1), đọc, lắng nghe và tuân giữ.
Anh ta nhìn thấy được! Như người mù ăn xin bên vệ đường thành Giêricô, chính đôi mắt đức tin giúp anh đọc thấy giây phút lịch sử và cứu độ dành cho anh; chính đôi tai biết lắng nghe những tiếng động xung quanh để nhận ra ân sủng đang ngang qua; chính con tim trung tín luôn giữ và tưởng niệm những việc lạ lùng Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử đã khiến anh kêu to lên: ‘Lạy ông Giêsu, con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!’. Chúa dừng lại, chữa lành và cứu độ anh: ‘Anh nhìn thấy đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh’.
Thứ Ba tuần XXXIII Tn
Đoạn trình thuật trong quyển thứ hai Maccabê liên quan đến việc nổi dậy của anh em nhà Maccabê chống lại những đàn áp do các vua nhà Sêleuciđê gây ra cho Israel vào thế kỷ thứ hai trước công nguyên. Ông cụ Êlêada bậc vị vọng cao niên bị bắt ép tuân theo chỉ thị của nhà vua mà vi phạm lề luật thánh thiện. Lưu ý là người ta kính trọng ông và muốn cho ông khỏi chết nên giả vờ để ông ăn các thứ thịt được phép thay vì thịt heo nhà vua chỉ thị. Êlêada phản đối với hai lý do: với tính trung thực của ông, ông không được giả vờ và không để mình rơi vào nguy cơ làm gương xấu cho người khác. Nhất là cho bọn trẻ, họ có thể tin rằng Êlêada với ngần ấy tuổi mà còn nhượng bộ và vi phạm lề luật.
Ngày nay ta khó mà hiểu nguyên do cái chết này, vì niềm tin kitô của ta không buộc chúng ta phải kiêng các thức ăn, như thời Êlêadê, trong khi ông thà chết chứ không vi phạm và làm gương xấu.
Trong phút hồi tâm, tôi xin Chúa lòng can đảm sống cho đến cùng những chọn lựa đức tin, cho dù phải trả giá đắt; tôi cũng xin cho các bạn trẻ ơn dám làm chứng cho sự chân thực.
Ai có thể tách biệt đức tin mình khỏi những việc làm, điều mình tin với cuộc sống hàng ngày? Ai có thể phân chia thời gian mình nói rằng: việc này là của Chúa, việc này là của tôi? Ước gì mọi ngày giờ và toàn thể cuộc sống tôi đều cho tôi đôi cánh bay lên Đấng Tối Cao. Kahil Gibran     
+++
Giakêu, xuống mau đi!
Lại một con người bé nhỏ đi tìm Đức Giêsu! Ông tìm gặp Chúa giữa đám đông dân chúng, nhưng vì thân hình thấp bé, ông không nhìn được Ngài. Ông chạy lên trước và trèo lên cao để nhìn. Cần tách mình ra khỏi thế gian và đưa mình lên cao để có thể nhìn thấy. Cần phải bỏ tất cả để theo Đức Kitô, ông Giakêu là người rất giàu có! Ông tin rằng mình là nhân vật chính trong việc tìm và gặp gỡ này. Hoàn toàn ngược lại: ta chỉ mới làm những bước đầu và ngay lập tức Chúa đã đưa mắt nhìn ta rồi, để ban cho ta điều mà ta không dám hy vọng: ‘Người nhìn lên và nói’. Cái nhìn của Chúa ở đây dẫn ta đến một cái nhìn khác của Ngài trong trong đoạn tin mừng thuật lại việc chàng thanh niên giàu có tuyên bố mình đã giữ hết các giới răn. Sau lời tuyên bố ấy, tác giả tin mừng ghi nhận: ‘Ngài âu yếm nhìn anh’. Quả thật khi Đức Giêsu nhìn ta, Ngài yêu ta và thực hiện những việc diệu kỳ cho ta. Giakêu, kinh ngạc truớc hạnh phúc bất ngờ, ông đón rước Người vào nhà mình. Ta còn nghe lời thú tội khiêm cung và chân thành của ông: ‘Thưa Ngài, tôi xin lấy phân nửa tài sản của tôi mà cho người nghèo; và nếu tôi chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn’. Lời tha tội của Đức Giêsu: ‘Hôm nay ơn cứu độ đã đến nhà này.’ Và để đánh tan những lời vu cáo ‘Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ’, Đức Giêsu nhấn mạnh: ‘Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất’. Đây chính là sứ mạng mà Đức Giêsu trao cho các môn đệ và Giáo hội của Ngài.
+++
Vậy hãy nhớ lại: ngươi đã lãnh nhận và nghe Lời Chúa như thế nào, hãy tuân giữ và hối cải.
Trong thư gởi cho bảy giáo đoàn ta gặp thấy nhiều công thức khác nhau lập lại nhiều lần để thức tỉnh ta, những độc giả ngày nay, biết ý thức rằng thời gian đang qua đi. Đấng biết những công việc của ta không ngừng lập lại sứ điệp khích lệ của ngài: cũng thế trong những khó khăn lớn lao nhất của Giáo hội, thái độ tỉnh thức và khiêm tốn giúp ta nhớ lại những ân huệ mà ta đã lãnh nhận và Lời mà ta đã nghe. Lời lãnh nhận và tuân giữ trong lòng ta không thể trơ trơ mà không thực hiện điều mà Thiên Chúa muốn (x.Is 55,11). Cần quay trở lại và hối cải.
Nếu việc trở lại này là điều khó nhọc và không thể chịu đựng nổi, thì đây là dấu chỉ của Chứng Nhân trung tín và chân thực: ‘Phần Ta, mọi kẻ Ta yêu mến, thì Ta răn bảo dạy dỗ’ (Kh 3,19). Ngài luôn đứng bên ngoài và gõ cửa, sẵn sàng để vào trong nhà ta để cùng dùng bữa tối với ta. Việc ông Giakêu tụt xuống cây sung đã mở cửa lòng ông cho ơn cứu độ và nên chứng nhân ơn cứu độ cho mọi người (x. Lc 19,1-10).
Lạy Chúa, xin giúp con tìm nghe Lời mà Chúa nói trong lòng con; xin hoán cải để con tiếp tục thực hiện, hôm nay và ngày mai, việc lành mà chính Chúa đã mời gọi và hiến thánh con.
Thứ Tư tuần XXXIII Tn
Đức Mẹ dâng mình trong đền thờ
Hôm nay chúng ta chiêm ngắm một thiếu nữ hiến dâng hoàn toàn cho Chúa.
Giáo hội hiểu rằng thái độ của Mẹ Maria trong ngày truyền tin không phải là điều gì do ngẫu hứng và trong tâm hồn mẹ, việc dâng hiến đã được chuẩn bị từ rất lâu, và được thực hiện cách tiệm tiến. Thật cảm động khi thấy một thiếu nữ bị cuốn hút bởi sự thánh thiện của Thiên Chúa, muốn dâng mình cho Chúa, và hiểu rằng công trình của Thiên Chúa rất quan trọng; cần phải sẵn sàng phục vụ Ngài, mỗi người tùy theo khả năng của mình, mở lòng ra cho Chúa; một thiếu nữ hiểu rằng người ta không thể làm công việc gì của Thiên Chúa mà không được Ngài thánh hóa, mà không toàn hiến cho Ngài, bởi vì sẽ không thể hiểu được thánh ý Ngài nếu sự nặng nề xác thịt còn đè nặng đôi mắt.
Maria thực hiện điều mà thánh Phaolô sau này đề ra như lý tưởng cho các kitô hữu: hiến dâng chính mình, ‘tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa…Đừng rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa’ (Rm 12,1-2).
Chúng ta tìm hiểu cách sâu xa hơn những điều kiện của việc dâng hiến. Hãy chú ý đến bài ca Magnificat: biến cố dâng mình của Maria không được ghi lại. Bài ca Magnificat không phải là điều lỗi thời, bởi vì nó diễn tả những tâm tình sâu trong cõi lòng của Maria ngay trước ngày truyền tin, những tình cảm làm nền cho việc dâng hiến của Mẹ: từ việc hiến dâng thời niên thiếu, đến việc hiến dâng lúc được sứ thần truyền tin và cuối cùng việc dâng hiến trên đồi Calvê. Tất cả đều nói lên lòng biết ơn đối với những ơn lành của Thiên Chúa. Trước việc dâng hiến, luôn có ân sủng của Thiên Chúa và việc tri ân vì ân huệ này. ‘Ngài đã đoái nhìn đến phận hèn tôi tớ Ngài…Ngài đã làm cho tôi biết bao điều cao cả… lòng thương xót Chúa trải từ đời nọ đến đời kia: là khám phá ra tình yêu của thiên Chúa, Đấng thúc đẩy ta suy nghĩ đến việc hiến dâng. Việc hiến dâng luôn là một đáp trả lại ân huệ Chúa ban: Thiên Chúa đi bước trước bằng tình yêu của Ngài và chúng ta dâng cho Ngài điều mà Ngài đã ban tặng cho ta. Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Rôma đã nói: ‘Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tùy theo ân sủng Chúa ban cho mỗi người’ và việc hiến dâng của chúng ta chỉ là những ân huệ mà ta đã lãnh nhận, mà ta nhận biết là ân sủng nhưng không, không do chúng ta nhưng chỉ do tình yêu của Thiên Chúa.
Vì thế, khi nhận ra tình yêu của Ngài, chúng ta đặt tất cả các ân ban trong tư thế sẵn sàng, như lễ vật tạ ơn. Thiên Chúa luôn đòi hỏi những ân huệ chúng ta dâng lên cho Ngài phải được thánh hóa. Mà duy chỉ có Ngài mới có thể thánh hóa và thánh hiến; điều mà chúng ta chỉ có thể làm được là ‘dâng’ lên cho Ngài: Mẹ Maria dâng mình trong đền thờ.
Thánh Phaolô dạy ta hãy hiến dâng thân mình chúng ta, nhưng việc biến đổi là việc làm của Thiên Chúa và trong khi hiến dâng, chúng ta xin Ngài biến đổi nên hoàn hảo điều ta dâng, bởi vì những gì của ta đều bất toàn. Chúng ta xin Ngài biến đổi những thực tại trần gian nghèo hèn mà chúng ta dâng lên, những ân ban của con người đến từ tạo thành của Ngài, tất cả đều cần được biến đổi để phục vụ sự hiệp thông với Ngài. Và vì việc hiến dâng của ta luôn là một lời nguyện xin, ta có thể dâng hiến tất cả, ngay cả điều mà đối với ta xem ra là chẳng ích lợi gì cho cuộc đời: những gánh nặng mà ta cảm nhận như một trở ngại, những khó khăn, những đau khổ phi lý theo một nghĩa nào đó. Đức Kitô bị đóng đinh dạy cho ta hiểu rằng chúng ta có thể dâng cho Thiên Chúa tất cả, để tất cả được biến đổi và những điều xem ra chẳng có lợi ích sẽ được biến đổi cách tuyệt diệu. Chẳng có gì là vô ích hơn cây thập giá, khổ hình dành cho các tội phạm, tuy nhiên chính trên thập giá đã xảy ra cuộc biến đổi quan trọng, tạo nên đất mới và làm cho tình yêu Thiên Chúa thấm nhuần mọi sự.
+++
Đoạn tin mừng hôm nay tạo nên lời kết cho trình thuật về hành trình mà trong tin mừng thứ ba chiếm mười chương. Trong hành trình lên Giêrusalem, Chúa dạy cho các môn đệ biết phải sống và hành động thế nào để thi hành ý Thiên Chúa. Những lời dạy của Chúa có giá trị tựa như một lời di chúc, vì tính hệ trọng của người biết giờ sau cùng của mình gần đến: Giêrusalem muốn ngài phải chết.
Tất cả sự quan trọng của giáo huấn Đức Giêsu được tóm trong dụ ngôn hôm nay, được làm cho mạnh thêm bằng lời loan báo sự sụp đổ của thành và sự đe dọa xảy ra cho các môn đệ của ngài (Lc 19,27).
Điều lạ lùng là Đức Giêsu không ra hiệu cho ai để cổ vũ họ chống cự lại. Hoàn cảnh nguy hiểm này không thúc đẩy ta đóng kín việc truyền đạt lời giáo huấn và ơn cứu độ mà Đức Giêsu đã để lại cho ta trong một két sắt: lưu trữ tất cả như một tài liệu lịch sử, ít là cho đến ngày trở lại (x. Lc 19,15) của Vua Vũ Trụ. Điều ngạc nhiên hơn nữa vì cộng đoàn tiên khởi Giêrusalem, đã lưu giữ dụ ngôn này, đang mong chờ cuộc trở lại vinh quang của Chúa, không lâu sau khi Đức Giêsu sống lại, cùng với nguy cơ rơi vào trong cám dỗ của tên đầy tớ cuối cùng: không phải đối mặt với bất cứ rủi ro nào nhưng giữ kỹ ‘nén bạc’ trong một chiếc khăn (x. Lc 19,20).
Nhưng mọi não trạng ‘ẩn nấp mình’ thật xa lạ với tin mừng. Thần Khí của Thiên Chúa xuống trên trái đất, mở mọi cánh cửa cho đám dân sợ hãi. Đặc điểm của kitô giáo là việc tông đồ và sứ vụ truyền giáo. Không ai là kitô hữu chỉ để cứu chính mình. Người có Đức Kitô không nắm chắc ơn cứu độ chỉ cho riêng mình. Nước Thiên Chúa thúc đẩy ta hành động. Lòng tràn đầy niềm vui và tri ân vì hồng ân quý giá được hưởng sự sống đời đời. Thế nên ta không thể không lên tiếng nói: ‘Những gì tai đã nghe và mắt đã thấy chúng tôi không thể không nói ra’ (Cv 4,20). Não trạng chật hẹp của những người viên chức sợ mất địa vị, không có chỗ trong tin mừng.
Để làm chứng nhân và để loan báo tin mừng không cần phải có bằng cấp, trí thức. Nhưng tiêu chuẩn duy nhất đó là sự trung thực và trung thành với sứ điệp niềm vui.
Tân phúc âm hóa Âu châu không phải là sáng kiến của Đức Gioan Phaolô II. Ngài chỉ đáp trả cho cảnh tiêu điều của tình trạng vô tín một số đông người. Đây là bổn phận của mọi người đã được rửa tội, nếu vào ngày Đức Kitô, không muốn bị nghe những lời này: ‘Hỡi đầy tớ tồi tệ! Anh đã biết tôi là người khắc nghiệt, đòi cái không gửi, gặt cái không gieo…Lấy lại nén bạc nó giữ mà đưa cho người đã có mười nén’ (Lc 19,22-25).
+++
Trong dụ ngôn hôm nay, Đức Giêsu dựa vào câu chuyện thời sự lúc ấy. Akêlao, con Hêrôđê Cả, sau cái chết của cha mình, đã đến Roma để được thượng viện phong vương. Sử gia Giuseppe Flavio kể lại rằng những người do thái thời đó cũng gởi một phái đoàn cùng sang Roma để xin đừng để ông này cai trị họ.
Chúa dùng ví dụ về một người trẩy đi xa để nhận quyền hành, và các tôi tớ của ông đã sống tự do. Tin mừng nói rằng Đức Giêsu thuật dụ ngôn này cho những kẻ ‘tưởng là triều đại Thiên Chúa sắp xuất hiện đến nơi rồi’ và không có kiên nhẫn chờ đợi vì cuối cùng Thiên Chúa sẽ dàn xếp mọi việc trên thế gian này. Trái lại Đức Giêsu cho thấy rằng Thiên Chúa không vội vàng, không muốn can thiệp ngay tức thì và chính Đức Kitô, cũng sẽ chẳng lãnh nhận quyền ngay tức khắc trên toàn vũ trụ: trước hết ngài còn phải làm một cuộc hành trình dài mà trong thời gian đó mọi người, trung thành hay bất trung đều sống tự do. Ai trung thành thì không phải sợ sự tự do này nhưng đón nhận nó với lòng tin tưởng.
Chúa thực sự ban cho ta sự tự do và để trung thành với Ngài ta cần phải sử dụng nó. Nếu ta suy luận như tên đầy tớ tồi tệ: ‘Thưa Ngài, nén bạc của ngài đây, tôi đã bọc khăn giữ kỹ, vì tôi sợ ngài…’ ta sẽ không sống đúng ơn gọi của mình. Trong đời sống thiêng liêng vẫn có cám dỗ ‘chủ nghĩa cầu toàn’: luôn tìm những điều bảo đảm nhất, sợ bất cứ điều gì sáng tạo, sợ bất cứ điều gì bất ngờ…Luôn là những điều bảo đảm nhất! Điều này không tôn vinh Thiên Chúa, nguy cơ là điều cần thiết, ít nhất hãy đem nén bạc gởi vào ngân hàng. Là một may rủi: tôi không có nó nữa, nhưng số bạc đó sẽ sinh lời và rồi tôi sẽ có nhiều hơn.
Ta cần chấp nhận may rủi, đón nhận sáng kiến, sáng tạo; như thế ta tôn vinh Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa, ta giống hình ảnh Ngài, đấng luôn luôn ở trong ‘may rủi’.
Đấy là giáo huấn của tin mừng hôm nay. Để làm hài lòng Thiên Chúa ta cần chấp nhận may rủi, lợi dụng sự tự do của mình bằng cách làm sinh những hoa quả tốt cho Ngài và cho anh em. ‘Thưa Ngài, nén bạc của Ngài đã sinh lợi được mười nén’. Và Chúa đáp: ‘Khá lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi! Vì anh đã trung tín trong việc rất nhỏ, thì hãy cầm quyền và cai trị mười thành’.
Hãy xin Thiên Chúa ban cho ta ý chí tự do, sáng tạo, để làm vinh danh Ngài, đấng tạo dựng vũ trụ.
Thứ Năm tuần XXXIII Tn
Cả hai bài đọc hôm nay đều chứa nhiều điểm đáng suy tư. Trong bài đọc thứ nhất thuật lại sự nổi dậy của người do thái chống lại vua Antioco Epiphanê, với sự lãnh đạo của anh em nhà Maccabê và chỉ ít lâu sau đã mang lại hòa bình. Trong bài tin mừng Đức Giêsu loan báo một chiến tranh khác, sẽ mang đến thất bại ‘quân thù đắp lũy chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào’. Và Đức Giêsu khóc thương thành đã không biết ‘con đường của hòa bình. Chính các biến cố này có thể được Thiên Chúa xét xử một cách khác: cuộc chiến thứ nhất là cuộc chiến chính nghĩa, cũng như ngày nay những cuộc chiến nhằm bảo vệ lãnh thổ của mình; cuộc chiến thứ hai không chính đáng cho dù hậu quả của việc khước từ là Giêrusalem đã đối nghịch lại ơn cứu độ.
Tính cách phức tạp của con người khiến rất khó tìm thấy con đường của hòa bình trong những hoàn cảnh khác nhau, mà không phản bội lại những nguyên tắc tin mừng.
Ta hãy cầu xin Chúa chấm dứt các cuộc chiến đang diễn ra nhiếu nơi trên thế giới và cho các nhà lãnh đạo quốc gia luôn là những con người chân thực và cương nghị, biết luôn tìm những đường lối hòa bình được Thánh Thần Chúa hướng dẫn.
+++
Ngài xứng đáng lãnh nhận cuốn sách và mở ấn niêm phong, vì ngài đã bị giết và đã lấy máu đào chuộc về cho Thiên Chúa muôn người thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ, thuộc mọi nước mọi dân.
Bài ca của bốn Con Vật và hai mươi bốn vị kỳ mục sấp mình trước ngai, tiếp tục dâng lời tụng ca Thiên Chúa Thánh Thiện, Toàn Năng và Con Chiên (x. Kh 5,6): Con Chiên đang đứng như bị sát tế, đồng hóa với sư tử chi tộc Giuđa, Chồi Non của Đavít. Bài ca dâng lên cho Đức Giêsu, Đấng Messia vinh quang thuộc dòng Đavít, người tôi tớ của Chúa, Đấng cứu độ được đặt ngang hàng với Thiên Chúa mà trong chương trước được chào kính như Đấng Tạo Hóa.
Đức Giêsu, đấng Messia, khi thấy thành đã bật khóc vì nó không nhận biết Đấng mang lại hòa bình và ơn cứu độ cho nó. Đấng đang vào thành sẽ là đấng bị sát tế và sẽ cứu chuộc mọi người thuộc mọi thời đại về cho Thiên Chúa; ngài xứng đáng mở ấn niêm phong. Một trong những ấn mở ra cho thấy linh hồn những vị tử đạo (x. Kh 6,9-11). Tiếng kêu của họ đòi sự trừng phạt công thẳng của Thiên Chúa trên những kẻ đã làm đổ máu họ, trở nên lời cầu nguyện của các kitô hữu bị bách hại vì đức tin trong suốt dòng lịch sử cho đến nay. Họ là những người đã bị sát tế vì Lời của Thiên Chúa và vì làm chứng cho Con Chiên.
Thứ Sáu tuần XXXIII Tn
Say mê nghe Ngài
Tin mừng hôm nay nói về Đức Giêsu: ‘hàng ngày, Ngài giảng dạy trong đền thờ…và toàn dân say mê nghe Ngài’. Những ai lắng nghe Đức Giêsu với lòng đơn sơ, sẵn sàng, thì cảm thấy sự dịu dàng, bình an, được ánh sáng của lời Chúa và không rời xa Ngài. Lời Chúa thực sự là niềm vui sâu kín trong tâm hồn, như lời thánh vịnh: ‘Lạy Chúa, niềm vui của con là ở nơi lời Ngài…Lời Ngài dịu ngọt tựa mật ong trong miệng con…Con khao khát những thánh chỉ của Ngài’.
Đó mới chỉ là hiệu quả đầu tiên của lời Chúa, là giai đoạn đầu cho ai đón nhận với lòng chân thành, tương ứng với những mầu nhiệm Vui. Giai đoạn hai: những mầu nhiệm Thương. Lời Chúa gây căng thẳng, xung đột với những gì xung quanh ta cũng như trong chính con người của ta: như thanh gươm hai lưỡi, sắc bén và mang lại cay đắng, vì có một phần trong ta không muốn tiếp nhận. Nhưng là một sự cay đắng cần thiết, làm cho ta nhận ra sự thật về chính mình và dẫn chúng ta đến việc thanh luyện những gì không phù hợp với Lời. Giai đoạn quyết định: mầu nhiệm Mừng. Chúng ta đọc thấy nơi sách Khải Huyền: ‘Kẻ chiến thắng không bị đánh gục bởi cái chết thứ hai…’
Cầu xin Chúa cho chúng ta lòng can đảm vì chúng ta thực sự cần có để vượt qua giai đoạn đau khổ với lòng nhẫn nại và trung kiên, hy vọng. Như thế lời Chúa mới là niềm vui cho ta mà không ai có thể lấy mất được và ánh sáng nơi ta sẽ chiếu soi cho mọi người xung quanh, để cho họ cũng được niềm vui đích thực.
+++
Hãy đi lấy cuốn sách mở sẵn trong tay thiên thần…Cầm lấy mà nuốt đi! Nó sẽ làm cho bụng dạ ông phải cay đắng, nhưng trong miệng ông nó sẽ ngọt ngào như mật ong…Một lần nữa, ông phải tuyên sấm về nhiều nước, nhiều dân…
Sau dấu ấn thứ sáu và tiếng kèn thiên thần thứ sáu nổi lên, việc diễn tả ngưng lại để tường thuật những thị kiến chuẩn bị cho loạt thứ bảy. Nhất là vị thị nhân được mang đến Patmos, được đưa vào thực tại trần thế: từ trời cao vang lên tiếng, từ miệng một thiên sứ được diễn tả trong những huy hoàng của Thiên Chúa, của Đức Giêsu biến hình, của thị kiến ban đầu của Con Người lúc khởi đầu các thị kiến (Kh,1).
Vị thiên sứ mầu nhiệm, quyền năng và vô biên, ôm trọn cả trái đất và biển, từ trời cao xuống cùng với một cuộn sách nhỏ. Cuộn sách mà vị thị nhân sẽ phải ăn. Trong miệng thì ngọt như mật ong nhưng vào trong bụng thì cay đắng. Vì cuộn sách chứa đựng những thông tin vui về cuộc chiến thắng của các tín hữu, nhưng cũng có cả những thông tin cay đắng của thảm họa cho thế giới. Và điều này vị thi nhân phải có sứ mạng loan báo cho mọi dân mọi nước, cho các vua, cho tất cả…vì không còn thời gian nữa! Khi tiếng kèn thứ bảy vang lên, thì tất cả mầu nhiệm của Thiên Chúa đã được các ngôn sứ loan báo sẽ được thực hiện (x. Kh 10,6-7).
Mầu nhiệm của Thiên Chúa đang đi vào trong đời sống chúng ta. Để không cảm thấy cay đắng trong bụng vì ta không nhận ra ngài đang đi vào, cần phải dọn sạch mọi xó xỉnh con người của ta: miệng, lòng, trí. Chúng ta la đền thờ của Thiên Chúa, là nhà cầu nguyện chứ không phải là hang trộm cướp (x. Lc 19,45-48). Đức Giêsu vào trong đền thờ đuổi những con buôn giả hình những ân sủng, chính trong nơi mà ngài dạy phải biết sống và cầu nguyện thế nào. Tin mừng loan báo cho ta: thời giờ đã mãn và Chúa đã ở giữa chúng ta.
Thứ Bảy tuần XXXIII Tn
Thánh Anrê Dũng Lạc và Các Bạn Tử Đạo Việt Nam
Vào thế kỷ XVI tại Đàng Ngoài, Annam và Đàng Trong – Việt Nam ngày nay –Tin mừng lần đầu tiên được rao giảng, công trình của những vị thừa sai trung kiên. Tử đạo càng làm cho mùa gặt được bội thu, trên mãnh đất bé nhỏ Á châu này. Từ 1625 đến 1886, trừ một ít thời gian yên lành, là giai đoạn những cuộc bách hại mà các vua quan đã thực hiện bằng mọi hình thức xảo trá và tinh ranh để đè bẹp giáo hội non trẻ. Số các vị tử đạo, trong vòng ba thế kỷ lên đến 130.000 người. Sự tàn ác của các lý hình không khuất phục được sự kiên cường của các vị chứng nhân đức tin: chém đầu, đóng đinh, thắt cổ, cưa chặt thân thể, chịu nhiều cực hình khủng khiếp trong ngục tù và trong những việc nặng nhọc, họ làm sáng tỏa vinh quang của Chúa, ‘Đấng biểu tỏ quyền năng trong những điều yếu hèn và ban cho những người yếu đuối sức mạnh tử đạo’. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vào ngày Chúa Nhật 19.06.1988 đã tuyên phong hiển thánh 117 vị tử đạo thuộc nhiều quốc gia và hoàn cảnh xã hội khác nhau: linh mục, chủng sinh, giáo lý viên, giáo dân trong số đó có một người mẹ và nhiều người cha gia đình, lính, nông dân…Anrê Dũng Lạc, linh mục, tử đạo năm 1839 và được Đức Giáo Hoàng Lêô XIII phong chân phúc năm thánh 1900. Ngoài ra, chúng ta cũng không quên Chân Phúc Anrê Phú Yên, vị tử đạo tiên khởi.
+++
Cả hai bài đọc hôm nay chuẩn bị cho thánh lễ ngày mai, Lễ mừng Chúa Giêsu Kiô Vua vũ trụ.
Trong bài đọc thứ nhất ta thấy cái chết của một vi vua trần thế, ‘phải chết nơi đất khách quê người vì buồn phiền vô hạn’, cái chết của một vị vua tàn bạo, độc ác, tiêu hủy lề luật và những nơi thờ tự Thiên Chúa đích thực.
Bài tin mừng trái lại đề cập đến sự sống lại mà những người thuộc nhóm Xađốc tranh luận. Thiên Chúa mà Đức Giêsu nói đến ‘không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống’.
Đức Giêsu, vua của chúng ta, không áp đặt lên chúng ta vương quyền của Ngài bằng bạo lực: Ngài đã chết trên thập giá, được xem như hình ảnh của thất bại. Thực ra cái chết của Ngài, chấp nhận trong tình yêu vâng phục thánh ý Chúa Cha, đã mang lại chiến thắng cho Ngài trên sự chết và mở ra cho sự sống lại khải hoàn.
Ta hãy chuẩn bị để đón nhận vua của chúng ta là vị vua, công chính, chiến thắng, khiêm nhu như ngôn sứ Dacaria viết; hãy thần phục Ngài với tất cả tấm lòng, như Ngài đã vâng phục ý Chúa Cha. Như thế ta sẽ được vào trong vương quốc của Ngài: ‘vương quốc của chân lý và sự sống, của sự thánh thiện và ân sủng, của công chính, tình yêu và bình an’.
+++
Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì mọi người đều sống cho Chúa.
Người Xađốc không tin việc sống lại và dựa vào luật Môsê đã đưa ra trường hợp một người phụ nữ góa phải cưới em của người chồng quá cố, và cứ như thế cho bảy anh em, và họ hỏi Đức Giêsu (nhằm để chế nhạo ngài) xem người thiếu phụ ấy là vợ của ai trong ngày sống lại
Đức Giêsu trả lời: không thể suy luận những điều trên trời bằng não trạng trần gian này; Thiên Chúa biến đổi thân xác bằng thịt của ta nên thân xác linh thiêng, giống như các thiên thần: hãy đặt mình trong tay của Thiên Chúa đấng ban tặng cho ta một cuộc sống mới khác hẳn với cuộc sống trần gian này, không còn lệ thuộc vào những định luật vật chất.
Thiên Chúa yêu sự sống và bên kia ngưỡng cửa sự chết, ngài chờ đợi để ban cho ta sự sống lại: tình yêu của ngài vượt trên mọi trở ngại, ban cho ta sự sống của những người con cái Thiên Chúa không còn liên quan với những ràng buộc thể xác: vượt lên trên cái lý luận của con người, không hiểu được mầu nhiệm và quyền năng vô biên tái tạo của Thiên Chúa.
Lạy Chúa, ngay từ cuộc sống trần gian này, xin hãy dạy con biết sống như ‘con cái của sự sống lại’ và biết phó thác cho lòng nhân hậu và quyền năng của Chúa: hãy nâng tâm hồn con lên trên mọi lý luận con người và biết đón nhận sứ điệp sự sống của Chúa.
+++
Sau ba ngày rưỡi, sinh khí từ Thiên Chúa đến nhập vào các ngài, và các ngài đứng dậy được…Rồi các ngài nghe một tiếng lớn từ trời bảo: Hãy lên đây!
Chắc chắn những hình ảnh khải huyền mà vị thị nhân trải nghiệm được thuật lại trong Kh 11, phản ánh lịch sử thời gian – những số năm của việc phá hủy đền thờ Giêrusalem, hành lang ngoại vi dành cho dân ngoại bị chà đạp, do thái giáo không còn được Thiên Chúa bảo vệ nữa trong khi cộng đoàn kitô trên trời được bảo vệ giữa sự hủy diệt, cùng với các ngôn sứ và những kẻ bị chết tử đạo vì làm chứng. Một sinh khí thổi trên họ: hởi thở xuất phát từ Thiên Chúa, làm cho họ chỗi dậy, lên trời trước mắt các địch thù của họ.
Bỗng vang lên tiếng kèn thứ bảy, dấu hiệu vương quốc thế gian biến thành vương quốc của Chúa chúng ta, của Đức Kitô. Vương quốc của Thiên Chúa, ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết nhưng là của kẻ sống (x. Lc 20,38). Mọi người đều sống cho Chúa! Tất cả con cái của Ápraham, Isaác và Giacóp, tất cả những kẻ được xét xứng đáng hưởng sự sống tương lai của sự sống lại: vì họ là con cái của sự sống lại, con cái của Thiên Chúa. Vượt trên mọi hoàn cảnh xã hội của cuộc sống trần thế, điều làm cho chúng ta xứng đáng với lời mời gọi ‘hãy lên đây’, là những việc làm công chính được thực hiện nơi đây, trong hành lang của cuộc sống đời thường, trong mọi lúc, với thái độ thờ phượng đích thực, tụng ca Thiên Chúa hằng sống.
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

dcgiuseminh
logonamthanh
   
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập128
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm126
  • Hôm nay14,048
  • Tháng hiện tại389,405
  • Tổng lượt truy cập8,480,026

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây