Học hỏi Phúc âm: CN XXX TN C. Chúa Nhật Truyền giáo.

Thứ ba - 18/10/2022 22:48  450

Học hỏi Phúc âm: Chúa nhật 30 Thường niên năm C

Lời Chúa: Lc 18,9-14

9 Đức Giê-su còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: 10 "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế. 11 Người Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: 'Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. 12 Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.' 13 Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: 'Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.' 14 Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."

Câu hỏi:

1. Khi đọc những dụ ngôn đặc biệt của Luca như dụ ngôn về người Samaritanô nhân hậu, về người cha nhân hậu, về ông nhà giàu và Ladarô, cũng như về dụ ngôn hai người lên Đền thờ cầu nguyện trong bài Tin Mừng hôm nay, bạn thấy chúng có nét nào chung? 

2.  Đức Giêsu kể dụ ngôn này với mục đích gì? Ai là người cần nghe dụ ngôn này?

3.  Đọc Lc 18,10. Khuôn mặt hai người trong dụ ngôn này có ngược nhau không?

4.  Đọc Lc 18,11-12. Có bao nhiêu chủ từ “con trong lời nguyện của người Pharisêu?

5.  Dựa theo lời nguyện trên đây của người Pharisêu, bạn thấy anh ấy có phải là người đạo đức không? Đọc Tv 18,21-25; Tv 26,1-12.

6.  Theo bạn, lời nguyện của người Pharisêu có khuyết điểm nào? Anh ấy có xin Chúa điều gì không? Anh ấy có thực sự tạ ơn Chúa không? Anh ấy đánh giá mình thế nào? Lời nguyện của anh chủ yếu là gì?

7.  Đọc Lc  18,13. Thái độ và lời nguyện của người thu thuế có gì đặc biệt? Đọc Tv 24,3-6. Chúng có khác với thái độ và lời nguyện của người Pharisêu không? Cách mô tả của Luca về hai người có gì khác nhau?

8.  Sau khi kể dụ ngôn, Đức Giêsu kết luận ở Lc 18,14. Kết luận này có làm người nghe ngạc nhiên không? Rốt cuộc, Thiên Chúa đã nhậm lời người nào trong hai người này?

Câu hỏi suy niệm: Tại sao Thiên Chúa thích kẻ tội lỗi khiêm nhường hơn người đạo đức kiêu căng?

Bạn học được bài học nào từ bài Phúc âm này?

Phần trả lời:

1. Có thể nói một nét chung của những dụ ngôn trên đây là sự bất ngờ. Không ngờ người Samari lại là người dừng lại để cứu nạn nhân, chứ không phải vị tư tế hay thầy Lêvi. Không ngờ đứa con thứ rốt cuộc lại ở trong nhà cha, hưởng dùng bữa tiệc, còn người con cả vẫn đang đứng ngoài nhà chịu đói. Không ngờ cuối cùng anh Ladarô được ngồi trong lòng cụ tổ Abraham, còn ông nhà giàu lại phải trầm luân khốn khổ. Trong bài Tin Mừng hôm nay, cũng có chuyện rất bất ngờ: không ngờ anh thu thuế tội lỗi lại được Thiên Chúa coi là người công chính, còn ông Pharisêu đạo đức thì không.

2. Đức Giêsu kể dụ ngôn này với mục đích được nói đến ở Lc 18,9. Ngài có ý nhắc nhở những ai khinh khi người tội lỗi, và tự hào cho mình là công chính vì đã giữ đủ và giữ kỹ mọi lề luật. Hẳn Đức Giêsu có ý nhắm vào những người Pharisêu (trong dụ ngôn ta thấy có nhân vật là Pharisêu). Tuy nhiên, dụ ngôn này không chỉ dành cho những người Pharisêu, mà còn dành cho các môn đệ và cho chúng ta ngày nay. Vì thực ra ai trong chúng ta cũng có chút tính của người Pharisêu. Ngay sau dụ ngôn này, ta thấy các môn đệ vẫn có thái độ coi thường trẻ em (Lc 18,15-17).

3. Luca 18,10 giới thiệu hai nhân vật chính, có nét rất đối nghịch. Một là ông Pharisêu, người được xã hội nể trọng về đạo đức, học thức, uy tín. Người kia lại là anh thu thuế, người bị xã hội khinh bỉ vì anh làm việc cho ngoại bang, và thường không ngay thẳng trong chuyện tiền bạc. Khi đặt hai nhân vật này bên nhau, sự tương phản trở nên rõ hơn nhiều. Nhưng hai người có một điểm chung, đó là lên Đền thờ để cầu nguyện. Cả hai đều muốn gặp gỡ Thiên Chúa.

4. Luca 18,11-12 cho thấy cử chỉ và lời cầu nguyện của người Pharisêu. Trong lời nguyện của người này ta thấy có bốn chủ từ con. “Con tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác…Con ăn chay, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.”     

5. Đối với một số người Do-thái thời xưa, lời nguyện trên đây của ông Pharisêu thật tuyệt vời. Nó phản ánh một đời sống đạo đức đáng mơ ước. Lời nguyện của ông gồm hai phần. Phần tiêu cực gồm những việc xấu xa mà ông này không làm như tham lam, bất chính, ngoại tình…(Lc 18,11). Phần tích cực gồm những việc ông này làm. Người Do-thái buộc phải ăn chay vào dịp lễ Xá Tội hàng năm, còn ông Pharisêu trong dụ ngôn lại ăn chay một tuần hai lần, vào thứ hai và thứ năm. Người Do-thái buộc phải nộp thuế thập phân (10%) về mọi huê lợi do ruộng đất cung ứng hay do đàn vật chiên bò sinh sản (Lv 27,30-32; Đnl 14,22-23). Còn ông Pharisêu này nộp thuế thập phân về mọi thứ ông có, kể cả những điều nhỏ mọn (xem Mt 23,23). Rõ ràng, xét về bề ngoài, ông là người đạo đức. Khi đọc các Tv 18,21-25; Tv 26,1-12 ta cũng thấy khuôn mặt của người sống ngay lành, tránh xa tội lỗi, và không giao du với kẻ xấu xa. Người này mong được Chúa thưởng. 

6. Lời nguyện phản ánh tâm hồn. Khi nghe lời nguyện của ông Pharisêu ta thấy dường như ông đang liệt kê những thành tích của mình về chuyện ăn chay và nộp thuế thập phân cho Đền thờ, đặc biệt trong câu 12. Dù ông bắt đầu lời nguyện bằng việc gọi tên Thiên Chúa, và bằng một lời tạ ơn, nhưng lý do khiến ông tạ ơn là vì “con không như bao kẻ khác” (câu 11). Ông quay vào mình thay vì quay về Chúa để tạ ơn. Ông ngắm nghía chính mình và thấy mình hơn hẳn nhiều người tội lỗi, nhất là thấy mình đạo đức hơn hẳn anh thu thuế đang đứng cầu nguyện ở xa xa. Có thể nói ông Pharisêu đã không xin Chúa bất cứ điều gì, vì ông đã có quá đủ mọi sự. Ông tự hào về những gì mình có, về đời sống đạo đức của mình. Lời nguyện của ông đầy tràn cái tôi tự hào, tự mãn, tự kiêu, với nhiều từ “con” làm chủ từ. Ông tự coi mình là công chính, và ông cũng tin chắc mình được Chúa coi là công chính. Những việc tốt ông làm lại trở nên vật cản che khuất khiến ông không thực sự gặp được Chúa.

7. Luca 18,13 cho thấy cử chỉ và lời nguyện của anh thu thuế. Anh đứng xa cung thánh và xấu hổ cúi xuống, không dám ngước mắt lên như mọi người. Anh đấm ngực vì đau buồn hối tiếc. Lời nguyện của anh cũng bắt đầu bằng việc gọi tên Thiên Chúa. Anh không có gì để tự hào, chỉ nhận mình là tội nhân. Khác với ông Pharisêu, anh thu thuế là người cần Chúa, cần lòng thương xót tha thứ. Chính tội lỗi và bóng tối nơi anh lại trở nên khoảng trống để Chúa có thể bước vào đời anh.

8. Luca 18,14 là kết luận của Đức Giêsu sau dụ ngôn này. Câu nói này hẳn làm thính giả phải chưng hửng.  Sau khi cầu nguyện và sau đó xuống núi thánh để về nhà mình, ông Pharisêu và anh thu thuế được kết quả khác nhau. Ai cũng nghĩ ông Pharisêu đạo đức là người được Chúa thương và coi là công chính. Nào ngờ chính anh thu thuế lại nhận được nhiều hơn. Đơn giản là vì anh đã hạ mình xuống, nhìn nhận mình chẳng là gì và chờ đợi tất cả từ Chúa.


HỌC HỎI PHÚC ÂM CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO                              

Mt 28,16-20
16Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến. 17Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. 18Đức Giêsu đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. 19Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 20dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”

Học hỏi:

  1. Tại sao mười một môn đệ đến Galilê? Đọc Mt 26,32; 28,7.10.16. Galilê có phải là nơi có nhiều kỷ niệm Thầy trò không? Đọc Mt 4,18-23.
  2. Đọc Mt 14,31 và 28,17. Hoài nghi ở đây nghĩa là gì? Tại sao có mấy ông hoài nghi? Xem thêm Lc 24,38.41.
  3. Đọc Mt 28,18. Bạn nghĩ gì về cử chỉ của Chúa Giêsu đối với các môn đệ đã bỏ chạy, và bây giờ đang bán tín bán nghi?
  4. Đọc Mt 28,18. Khi Chúa Cha trao toàn quyền cho Chúa Giêsu phục sinh, Chúa Cha muốn chúng ta có thái độ nào với Đức Giêsu? Đọc thêm Mt 11,27.
  5. Đọc Mt 28,19-20. Khi Chúa Giêsu có toàn quyền rồi thì Ngài làm gì? Hai câu này có 4 động từ, động từ nào là mệnh lệnh chính mà Chúa Giêsu truyền các môn đệ phải làm? 
  6. Mt 28,19 có khác với Mt 10,5; 15,24 không? Bây giờ dân ngoại có được trở thành môn đệ của Chúa Giêsu không? Đọc Mt 8,5-13; 15,21-28.
  7. Đọc Mt 28,20. Mệnh lệnh cuối của Chúa Giêsu trong câu này là gì? Các môn đệ sau này cần được dạy những điều gì? Đọc Mt 5,19. Các môn đệ xưa và nay giống nhau ở điểm nào?
  8. Trước sứ mạng lớn lao và khó khăn vừa được giao, Chúa phục sinh hứa với nhóm Mười Một và với chúng ta điều gì? Đọc Mt 28,20; 1,23.
GỢI Ý SUY NIỆM:
Theo bạn, tại sao bài Tin Mừng này được coi là có tầm quan trọng đặc biệt đối với sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Hội Thánh?

 

PHẦN TRẢ LỜI

  1. Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi mà Đức Giêsu đã chỉ cho họ (Mt 28,16). Vào đêm tối trước khi chịu khổ nạn, Ngài đã từng nói: “sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đi đến Galilê trước anh em” (Mt 26,32). Sau khi được phục sinh, thiên sứ đã lặp lại lời này, kèm thêm lời nhắn họ sẽ được thấy Ngài ở Galilê (Mt 28,7). Rồi chính Đức Giêsu phục sinh hiện ra còn nói rõ hơn nữa với các bà về việc Thầy muốn hẹn gặp lại các môn đệ ở Galilê (Mt 28,10). Rõ ràng Đức Giêsu phục sinh coi trọng việc gặp lại các môn đệ của mình. Galilê là vùng đất nhiều kỷ niệm Thầy trò. Đây là nơi các môn đệ đầu tiên được gọi (Mt 4,18-22), và là nơi Đức Giêsu bắt đầu việc rao giảng Tin Mừng (Mt, 4,23) cho đến khi lên Giêrusalem chịu nạn (Mt 20,17).   
  2. Khi gặp thấy Thầy Giêsu phục sinh, các môn đệ đã bái lạy, nhưng một số lại hoài nghi (Mt 28,17). Hoài nghi không hẳn là không tin gì, nhưng là một niềm tin còn yếu kém mà thánh Mát-thêu thường gọi là đức tin nhỏ (oligopistis, x. Mt 6,30; 8,26; 14,31; 16,8). Khi đọc Mt 14,31 ta thấy “kém lòng tin” đồng nghĩa với “hoài nghi.” Phêrô có đức tin đủ mạnh để đi trên mặt nước, nhưng ông lại sợ khi thấy gió thổi và ông bị chìm (Mt 14,29-30). Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy có môn đệ vẫn hoài nghi khi gặp Thầy hiện ra và cho thấy mình đang sống. Dù Thầy đã báo trước nhiều lần về sự phục sinh và đã hẹn gặp môn đệ, nhưng chuyện người chết ba ngày rồi bỗng nhiên sống lại là chuyện không dễ tin. Các Tin Mừng khác đều nói đến chuyện các ông không tin ngay (Mc 16,11-14; Lc 24,38.41; Ga 20,25).
  3. Đứng trước các môn đệ còn hoài nghi, Đức Giêsu phục sinh “đến gần” họ (Mt 28,18). Ngài đến gần tất cả những người “đã bỏ Ngài mà chạy trốn” (Mt 26,56), đã chối bỏ Ngài (Mt 26,69-75), đã vắng mặt khi Ngài chịu đóng đinh hay chôn táng (Mt 27,55.57-60). Ngài chủ động đến gần họ chứ không chờ họ đến gần mình. Ngài đến với những môn đệ bất trung mà không buông ra một lời trách móc. Khi gặp họ, Ngài đã tha thứ cho họ rồi và muốn nối lại tình Thầy trò đã bị gãy đổ.
  4. Trời và đất tượng trưng cho toàn thể vũ trụ và muôn loài muôn vật trong đó. Chỉ mình Thiên Chúa Cha là Chúa của trời và đất (Mt 11,25). Chỉ mình Chúa Cha có toàn quyền trên thế giới thụ tạo. Đức Giêsu là Con, đã được Chúa Cha cho sống lại và trao cho toàn quyền trên trời dưới đất. Như vậy Cha đã trao tất cả quyền năng mình có cho Con, để Con có quyền năng như Cha trên cả vũ trụ này (xem thêm Mt 11,27; Ga 3,35; 13,3; 17,2). Cha là Chúa, Con cũng được Cha tôn làm Chúa khiến mọi thụ tạo trên trời dưới đất và trong âm phủ phải bái quỳ trước Chúa Con (x. Pl 2,9-11).
  5. Trong tư cách là Chúa trời đất, Chúa Giêsu phục sinh ra lệnh truyền cho các môn đệ. Trong Mt 28,19-20 có bốn động từ. Động từ chính là “làm cho thành môn đệ” (mathêteúsate), ba động từ còn lại ở dạng phân từ: “đi” (poreuthéntes), “làm phép rửa” (baptízontes), “dạy bảo” (didáskontes). Để làm cho muôn dân thành môn đệ, cần phải ra đi, làm phép rửa cho họ, và dạy bảo họ.
  6. Khi đọc Mt 10,5; 15,24 ta thấy Đức Giêsu nói rõ việc rao giảng của mình và của môn đệ chỉ giới hạn trong phạm vi dân Do-thái. Phải đợi đến khi hiện ra sau phục sinh, Ngài mới sai các môn đệ đến với “muôn dân” (Mt 28,19). Muôn dân ở đây là tất cả mọi dân nước, kể cả Dân Ngoại. Họ cũng được mời để trở thành môn đệ của Ngài. Tuy nhiên, không nên quên là Đức Giêsu cũng có lần đến với dân ngoại để giúp họ vì họ có đức tin “lớn” (Mt 8,5-13; 15,21-28).
  7. Ngoài nhiệm vụ làm phép rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, các môn đệ còn phải làm cho dân ngoại thành môn đệ bằng cách dạy bảo họ (Mt 28,20). Dạy bảo đơn giản là truyền lại cho người khác điều mình đã lãnh nhận từ chính Thầy Giêsu, và truyền lại trọn vẹn “mọi điều”. Không chỉ dạy lý thuyết suông nhưng là dạy để họ “tuân giữ”. Như thế có một mẫu số chung giữa các môn đệ mọi thời: tất cả đều được học và tuân giữ giáo huấn đến từ Thầy Giêsu.
  8. Chúa phục sinh trao sứ mạng lớn cho các môn đệ, nhưng Ngài cũng kèm theo một lời hứa quan trọng: Ngài sẽ ở cùng họ mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,20). Câu này gợi ta nhớ đến Đức Giêsu là Đấng Emmanuel, là Vị “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” ở Mt 1,23. Chúa Giêsu về trời nhưng vẫn luôn hiện diện với các môn đệ trong sứ mạng làm cho muôn dân tộc trở thành môn đệ của Ngài.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu S.J

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

ducchasi
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập70
  • Máy chủ tìm kiếm25
  • Khách viếng thăm45
  • Hôm nay11,330
  • Tháng hiện tại723,644
  • Tổng lượt truy cập45,672,080

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây