Fr. Michał Paluch, OP
Xh 22,20–26; Tv 18,2–3.3–4.47.51; 1 Tx 1,5c–10; Mt 22,34–40.
Sống trong một thế giới bị chi phối bởi những quy tắc, thủ tục và quy định phức tạp, chúng ta mệt mỏi khi phải liên tục thích nghi với những yêu cầu mới. Vì thế, câu hỏi mà người thông luật đặt ra cho Chúa Giêsu không xa lạ gì với chúng ta: “Thưa Thầy, điều răn nào lớn nhất trong Lề Luật?” Đối với dân Israel thời Chúa Giêsu, đây không đơn thuần chỉ là một vấn đề lý thuyết suông. Những người Pharisêu đã liệt kê chính xác 613 điều luật trong Luật Môsê: 248 điều phải làm tương ứng với 248 cơ phận của con người theo quan niệm truyền thống, và 365 điều cấm làm tương ứng với 365 ngày trong một năm. Họ còn chia thành những điều “nhẹ” và điều “nặng”, nhằm xác định đâu là điều cốt yếu quyết định ơn cứu độ và ân sủng của Thiên Chúa.
Ẩn sau câu hỏi của người thông luật là một nỗi bận tâm chính đáng của con người ngày nay: Giữa một thế giới với mạng lưới quy tắc phức tạp, đâu là điều quan trọng nhất? Tôi cần chú tâm vào đâu để không bị lạc lối giữa vô vàn quy định, bổn phận hằng ngày và cả những kỳ vọng của người khác?
Câu trả lời của Chúa Giêsu làm đảo ngược hoàn toàn lối tư duy duy luật. Thay vì đưa ra thêm một quy tắc, hay phương pháp mới để chu toàn Lề Luật cách tỉ mỉ, Người lại hướng họ đến điều vượt trên mọi điều luật: tình yêu.
Thế nhưng, tình yêu có phải là mệnh lệnh? Tình yêu không thể bị cưỡng ép bằng mệnh lệnh hay áp đặt bằng nỗi sợ hãi. Lời dạy “ngươi hãy yêu mến” trong bài Tin mừng không phải là một phán quyết của thẩm phán, nhưng là lời mời bước vào một mối tương quan. Chúng ta cần nhận ra rằng Thiên Chúa không tìm kiếm những công chức chỉ biết tỉ mỉ đánh dấu vào từng ô trong danh sách các bổn phận đạo đức. Điều Người mong muốn là con tim chúng ta. Trên hết, Người đã yêu thương chúng ta trước (x. 1Ga 4,10), và chính tình yêu nhưng không ấy ban cho chúng ta khả năng để đáp lại.
Chúa Giêsu sử dụng những lời quen thuộc khi nhắc lại lời kinh cổ xưa Shema Israel: “Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết sức lực ngươi” (x. Đnl 6,4–5). Theo truyền thống rabbi Do Thái, những lời này cần được hiểu cách cụ thể, gắn liền với mọi khía cạnh của đời sống thường nhật. Đây là một truyền thống đáng để chúng ta ghi nhớ.
Thế nào là ‘yêu mến Thiên Chúa hết lòng’? Các bậc thầy trong dân Israel (Mishnah Berakhot 9,5) nhấn mạnh rằng con người phải yêu mến Thiên Chúa bằng cả hai khuynh hướng của tâm hồn: hướng thiện (Yetzer ha-Tov) và hướng ác (Yetzer ha-Ra). Nói cách khác, Thiên Chúa không mong chờ chúng ta trở nên tinh tuyền vẹn toàn hay tự do khỏi mọi chước cám dỗ. Người muốn chúng ta trao dâng trọn vẹn tâm hồn, kể cả những khó khăn, đam mê, nỗi sợ hãi, cơn giận và những ích kỷ còn chất chứa trong lòng, để Người biến đổi tất cả. Còn ‘yêu mến Thiên Chúa hết linh hồn’ nghĩa là gì? Truyền thống Do Thái đã đưa ra một câu trả lời dứt khoát: chấp nhận hy sinh cả mạng sống mình. Điều cần có nơi chúng ta là sẵn sàng phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa, cùng đích của chúng ta, trong mọi hoàn cảnh, không đặt điều kiện hay sợ phải thiệt thân. Vậy còn ‘yêu mến Thiên Chúa hết sức lực’? Các bản dịch và chú giải Kinh thánh bằng tiếng Aram cổ (Targum), đã giải thích từ “sức lực” đơn giản là của cải hay tài sản vật chất. Yêu mến Thiên Chúa không đơn thuần dừng lại ở cảm xúc, nhưng đòi hỏi phải hy sinh điều gì đó. Tiền bạc, thời gian, sức khỏe và tài năng của chúng ta có ý nghĩa gì? Nếu không dùng để phục vụ tình yêu, chúng sẽ trở thành công cụ của ích kỷ, giam hãm chúng ta trong lòng ham muốn sở hữu và nuôi dưỡng nỗi lo âu vô tận. Nhưng khi phục vụ cho tình yêu, chúng trở thành phương tiện giúp chúng ta đạt đến tự do đích thực.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý trong câu trả lời của Chúa Giêsu không nằm ở chỗ nhắc lại Lề Luật mà người Israel nào cũng biết. Ý nghĩa thực sự nằm ở việc Chúa Giêsu thêm điều răn thứ hai vào điều răn thứ nhất, đặt nó ở một vị trí gần như ngang hàng: “Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi.”
Tại sao giới răn yêu mến người thân cận lại gắn bó mật thiết với yêu mến Thiên Chúa? Với Kitô hữu, câu trả lời thật rõ ràng: qua mầu nhiệm Nhập Thể, trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã gắn kết với con người. Vì thế, Chúa Giêsu khẳng định: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Qua bao thế kỷ, các môn đệ Chúa Kitô luôn xác tín rằng không thể đến với Thiên Chúa mà bỏ mặc tha nhân. Phục vụ tha nhân chính là yêu mến Thiên Chúa. Vì thế, yêu mến Thiên Chúa luôn phải được thể hiện qua yêu mến người thân cận.
Chúng ta cũng cần lưu ý đến thước đo của tình yêu này: Chúa Giêsu dạy chúng ta phải yêu người thân cận “như chính mình” (x. Lv 19,18). Nếu không thể chấp nhận và yêu mến chính mình như một người được Thiên Chúa hết lòng yêu thương, họ sẽ chẳng thể thực sự yêu thương người khác. Quả vậy, tình yêu đích thực dành cho bản thân khởi đi từ việc đón nhận tình yêu của Thiên Chúa và cảm nhận sâu xa rằng Người đã hiến trao tất cả vì chúng ta.
Thánh Gioan Thánh Giá đã sâu sắc viết rằng: “Vào cuối cuộc đời, chúng ta sẽ bị xét xử về tình yêu” (Sayings of Light and Love, số 64). Đời ta sẽ không được đánh giá bằng thành tựu, số dư tài khoản hay việc tuân giữ hoàn hảo các quy tắc. Điều duy nhất chúng ta sẽ được hỏi là: Chúng ta đã học biết yêu thương chưa?
Vì thế, đừng sợ khi Thiên Chúa mời gọi chúng ta yêu thương. Thay vì bận tâm phải làm bao nhiêu mới đúng luật, hãy mở rộng tâm hồn để đón nhận tình yêu đã có trước chúng ta. Hãy để Thiên Chúa yêu thương chúng ta ngay cả trong những yếu đuối, để rồi chính chúng ta cũng biết yêu thương bản thân và đón nhận mọi người mà Thiên Chúa đặt để trên hành trình của chúng ta bằng chính tình yêu ấy.
Bài đọc: thanhlinh.net
Nhóm Sao Biển chuyển ngữ từ Hprweb.com
Những tin cũ hơn







