Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa nhật IV mùa vọng năm A - Lm. Đặng Quang Tiến

Thứ tư - 14/12/2016 03:42  1038
CHÚA NHT IV MÙA VỌNG A
Người Công Chính (Mt 1,18-24)
 
1.      Ngữ cảnh

Gia phả của Chúa Giêsu được trình bày khởi từ thời Ápraham đến Đavít và cao điểm là việc Người sinh ra (1,1-17). Sau đó Mátthêu trình bày việc Chúa Giêsu giáng sinh để hoàn tất lời Thiên Chúa hứa cứu chuộc dân Người (2,1-12). Trình thuật về thánh Giuse (1,18-25) là đoạn chuyển tiếp giữa hai đoạn về gia phả và giáng sinh. Chủ đề chính của đoạn là sứ mạng cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô, Đấng từ Thiên Chúa mà đến. Phầnthánh Giuse, thánh nhân được tham dự vào sứ mạng cứu độ của Người bằng việc đem mẹ Maria về nhà, đặt tên cho Chúa Giêsu, và qua thánh nhân, Chúa Giêsu được kể là thuộc dòng tộc Đavít. Những từ liên kết đoạn này với hai đoạn trước và sau: genesis,“sự sinh ra” (1,1.18), gennaō,“sinh ra”(1,2; 2,1) vàIēsous (1,1.18.25; 2,1). Câu 1,17 như là bảng tổng kết của gia phả, trong khi những gì được trình bày trong câu 1,16 sẽ được giải thích chi tiết trong đoạn về câu chuyện thánh Giuse (1,18-25).
 
2.      Giải thích bản văn
Bố cục của đoạn này: Dẫn nhập lập lại bối cảnh của việc Chúa Giêsu giáng sinh (1,18); thánh Giuse và sứ mạng của thánh nhân đối với việc giáng sinh của Chúa Giêsu (1,19-25). Iēsous (1,18.21.25) và Iōsēph (1,18.19.20.24) là từ xuất hiện nhiều nhất trong đoạn này, qua đó thánh Giuse được bàn đến trong tương quan chặt chẽ với Chúa Giêsu.

Bối cảnh của việc Chúa Giêsu giáng sinh (1,18)

Câu 1,16 ghi nhận sự kiện cách khách quansự sinh ra của Chúa Giêsu, trong khi câu 1,18b tập trung vào trong trường hợp nào Người được cưu mang. Tên “Giêsu Kitô” trở thành tên kép của Đấng được sinh bởi mẹ Maria ở đây. “Giêsu Kitô” này là “con của Đavít, con của Ápraham” (1,1). Có một phân biệt tinh tế ở đây là thánh Giuse được giao nhiệm vụ đặt tên cho Đấng sẽ được sinh ra này là “Giêsu” (1,21.25), trong khi tước hiệu “Kitô” thì do Thiên Chúa. Cụm từ “được gọi là Đấng Kitô” trở thành yếu tố cần thiết để xác định căn tính của “Giêsu” (x. 1,16; 27,17.22). Trong khi tên “Kitô” thường được gắn liền với “Con Thiên Chúa” (16,16; 26,63), tên “Giêsu” gắn liền với thánh Giuse (13,55), chỉ nguồn gốc nhân loại và thuộc dòng tộc Đavít của Người (9,27; 12,23; 20,30.31; 21,9.15). Rất có thể Mátthêu đưa tên kép “Giêsu Kitô” vào ngay trong câu dẫn nhập này để khẳng định nguồn gốc thiên tính của Chúa Giêsu khi bàn về mẹ Maria mang thai “bởi Chúa Thánh Thần”. Điều này được thiên sứ xác định lại với thánh Giuse trong giấc mộng (1,20).

Những chi tiết về Maria được đưa ra khá đầy đủ trong câu này: “đã đính hôn”, “mẹ của Người”, “trước khi về chung sống”, và đáng chú ý hơn cả là Maria “được thấy mang thai (dịch theo từ ngữ là “có trong bụng”) bởi Chúa Thánh Thần”.

Trước hết cách dùng động từ heuriskō, “được tìm thấy” ở thể thụ động chỉ một tình trạng hay sự kiện được Thiên Chúa hoặc con người khám phá ra. Khó có thể cho rằng mẹ Maria là chủ từ của động từ này (x. Lc 1,28-38), càng không thể là dân chúng, dựa trên những điều thánh Giuse suy nghĩ có thể sẽ làm (1,19). Chỉ có thểthánh Giuse là chủ từ của động từnày; từ đó mới dẫn ông đến những quyết định. Rồi theo cách trình bày của Mátthêu, chỉ người cha mới “sinh con”, gennaō; trong khi người mẹ tham gia vào việc này. Giới từ ek, “bởi” với sở hữu cách (genitive) của người mẹ chỉ nguồn gốc của người được sinh ra: bởi Tama (1,3), Rakháp, Rút (1,5), vợ của Urigia (1,6), Maria (1,16), Thánh Thần (1,18.20). Rất hiếm khi nói là người mẹ sinh con; chỉ thấy trong Lc1,13.57; 23,29; và Ga16,21. Với Chúa Giêsu, Mátthêu dùng động từ gennaōnày luôn luôn ở thể thụ động “được sinh ra” (1,16.18.20; 2,1.4) để chỉ Thiên Chúa Cha sinh ra Người. Hơn nữa trong câu 1,20 có một chút dị biệt so với 1,18 là “Người được sinh ra, gennaō, trong vợ ông (là mẹ Maria) bởi Chúa Thánh Thần”. Mátthêu nhất quán với mình là ngay cả mẹ Maria cũng không sinh ra Chúa Giêsu, nhưng Người được Chúa Cha sinh ra trong mẹ Maria bởi Chúa Thánh Thần. “Bởi Chúa Thánh Thần” có thể dẫn đến kết luận là Chúa Thánh Thần đóng vai trò như người mẹ trong việc sinh ra Chúa Giêsu Kitô. Sau cùng, không nên tách rời “được thấy mang thai” khỏi “bởi Chúa Thánh Thần”. Việc biết này phải là “mang thai bởi Thánh Thần”, chứ không phải chỉ là “mang thai”, bằng không sẽ dẫn đến chuyện hiểu sai những quyết định của thánh Giuse. Và hai yếu tố “đã đính hôn” và “trước khi về chung sống” ra hiệu cho biết mẹ Maria mang thai không bởi thánh Giuse.

Trong câu kết luận 1,25 Mátthêu còn nhắc lại lần nữa là “Ông không biết bà cho đến lúc bà sinh con”. Điều này chỉ muốn nói là thánh Giuse không tham dự chút nào vào việc hình thành thai nhi trong lòng mẹ, và mẹ Maria là trinh nữ khi mang thai Chúa Giêsu Kitô và cho đến lúc sinh hạ Người. Điều này sẽ được khẳng định lại trong lời của thiên sứ khi nhắc lại Is 7,14 “Này, nữ trinh sẽ thụ thai và sinh con”. Vậy, Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đã được hình thành trong lòng mẹ Maria bởi Chúa Thánh Thần và thánh Giuse không dự phần vào việc này.
Con người và quyết định của Giuse (1,19)

Thánh Giuse được khẳng định là “chồng”, anēr, của mẹ (1,16.19) và mẹ Maria được gọi là “vợ, gynē, của ông” (1,20.24) hay là “mẹ của Người/con trẻ” (1,18; 2,13). Khó khăn trong chú giải là làm sao giải thích được tương quan của hai mệnh đề phân từ trong câu này: “Giuse là người công chính” và “ông không muốn tố giác bà, quyết định lìa bỏ bà cách kín đáo”. Những câu hỏi được đặt ra là hiểu thế nào là “công chính”? Nếu đi tố giác mẹ Maria, thánh Giuse vẫn còn là người công chính? Thánh Giuse không muốn tố giác mẹ, nhưng định bỏ mẹ mà đi cách kín đáo; đó không phải là một hành vi tố giác gián tiếp sao? Nếu không đi tố giác và âm thầm bỏ đi vì là người công chính, thì việc thánh Giuse nghe lời thiên sứ đón nhận mẹ Maria về nhà sẽ làm cho thánh nhân hết là người công chính? Nếu thánh Giuse biết mẹ Maria mang thai bởi Chúa Thánh Thần, sao lại đi tố giác? Bất cứ một cố gắng giải thích tiêu cực nào về quyết định và hành động của thánh Giuse đều gặp phải khó khăn.

 Để giải quyết, trước tiên cần tìm hiểu từ “công chính” áp dụng cho thánh Giuse. Dikaios, “công chính”, 17 lần, và dikaiosynē 7 lần được dùng trong Mátthêu theo nhiều nghĩa khác nhau. Trước tiên, “công chính” dùng để phân biệt cách chung với những người không công chính, cũng như người tốt lành đối nghịch với người xấu (5,45; 13,49); rồi chỉ những người sống theo luật Chúa trong Cựu Ước (13,17; 23,29.35[2x]); chỉ những người tự cho mình là công chính (x. 9,13; 28,38); sau cùng là những người sống theo đòi hỏi và tinh thần của Chúa Giêsu (5,45; 10,41; 25,37.46). Thánh Giuse là người công chính không chỉ vì Người tuân giữ luật Chúa như những người Do thái tốt lành thời ấy, mà còn hơn thế nữa. Sự công chính của Người chắc chắn vượt hơn hẳn sự công chính của các kinh sư và người Pharisêu (5,20). Bởi đó, Người không thể là công chính theo nghĩa vì tuân theo lề luật mà Người đem mẹ Maria ra bêu xấu trước mặt công chúng (x. Đnl 22,20-21.23-24). Người không thể làm như các kinh sư và người Pharisêu đã làm khi đem người phụ nữ ngoại tình ra trước mặt Chúa Giêsu và mọi người để xét xử theo luật (Ga 8,3-11). Chính Chúa Giêsu không làm theo ý họ, mà còn bênh vực cho người phụ nữ này. Cũng không thể hiểu theo nghĩa là vì người công chính có lòng thương xót vị hôn thê, nên thánh Giuse không đi tố giác. Việc âm thầm bỏ đi đã là một tố giác gián tiếp rồi. Nếu thật sự có lòng thương xót, thánh Giuse phải ở lại với mẹ Maria.

Động từ deigmatizō là một từ hiếm (hapax legomenon) trong Tin Mừng nhất lãm. Chỉ xuất hiện duy nhất ở đây, và trong thư gởi cho các tín hữu Côlôxê 2,15. Ý nghĩa căn bản của động từ này là “trưng bày”, “đưa ra cho công chúng thấy”; deigma có nghĩa là “mẫu”, “sự hiển nhiên”. Bởi đó, động từ có nghĩa là trình bày cách khách quan cho mọi người đều thấy sự hiển nhiên, chứ không có nghĩa là “tố giác” hay “làm cho ai xấu hổ trước mặt công chúng” (x. Cl 2,15). Nếu động từ này có para- đi trước thì có thể hiểu theo nghĩa trên là “tố giác” (x. Dt 6,6; Ds 25,4; Gr 13,22; Ed 28,17). Thánh Giuse không muốn cho mọi người biết sự kiện Đấng Kitô đang được cưu mang trong lòng mẹ Maria bởi Thánh Thần. Thánh nhân không nói ra vì tôn trọng công việc của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã cấm các môn đệ không được nói cho mọi người biết Người là Đấng Kitô sau lời tuyên xưng của Phêrô (x. 16,20).

Thánh Giuse quyết định bỏ mẹ Maria màđi vì thánh nhân biết mẹ Maria cưu mang Đấng Kitô bởi Thánh Thần (xem trên). Thánh nhânbỏđi vì Người sợ nhận Maria làmvợ của mình. Cụm từ “nhận Maria về nhà” (1,20.24) đóng khung sứ điệp của thiên sứ (1,20-23), trong đó thiên sứ nói đến con người và sứ mạng của Chúa Giêsu, và cả bổn phận đặt tên của thánh nhân cho con trẻ. Thánh Giuse sợ và không muốn nhận mẹ Maria làm vợ mình nữa, vì Maria đã trở thành mẹ của Đấng Kitô. Thánh nhân thấy mình bất xứng với người mà mình đã đính hôn, nên thánh nhân quyết định rút lui. Đây là thái độ chân thật và đúng đắn của người công chính. Mẹ Maria cũng sợ khi thiên sứ truyền tin (x. Lc 1,30), dân chúng sợ khi thấy điều kỳ diệu Chúa Giêsu làm cho người bại liệt (9,8). Như thế, chính quyết định của thánh Giuse cho thấy cách hiển nhiên thánh nhân là người công chính trước khi Người được củng cố lòng tin và được mời gọi tham dự vào công việc cứu chuộc của Thiên Chúa.

Kết luận

Hai cuộc truyền tin của thánh Giuse và mẹ Maria tương tự nhau. Cả hai đều sợ trước lời mời gọi cộng tác trực tiếp vào việc nhập thể của Con Thiên Chúa. Tuy không nói ra, thánh Giuse đã làm như mẹ Maria là thi hành ý muốn của Thiên Chúa là “đem mẹ về nhà mình”. Đứng trước Thiên Chúa ai mà không run sợ và không thấy mình bất xứng?

Tác giả bài viết: Lm. Đặng Quang Tiến

 Tags: n/a

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

dcgiuseminh
Logo mvgt 2021
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập75
  • Máy chủ tìm kiếm19
  • Khách viếng thăm56
  • Hôm nay22,470
  • Tháng hiện tại278,947
  • Tổng lượt truy cập18,717,586

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây