Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa nhật III Mùa Vọng Năm A - Lm. Đặng Quang Tiến

Thứ tư - 07/12/2016 17:17  1150
CHÚA NHT III MÙA VỌNG A
Không Vấp Ngã Vì Ta (Mt 11,2-11)


1.      Ngữ cảnh
 
Chương 11 vừa là kết luận của phần thứ nhất (11,1) vừa chuyển tiếp sang phần thứ hai của Tin MừngMátthêu.
 
2.      Giải thích bản văn
 
Phần này gồm ba phân đoạn, được xác định bởi các câu hỏi dẫn nhập: chân tính của Chúa Giêsu (11,2-6), chứng từ của Chúa Giêsu về Gioan Tẩy Giả (11,7-15), và phản ứng của dân chúng trước cả Chúa Giêsu và Gioan (11,16-19).

Chân tính của Chúa Giêsu (11,2-6)

Bố cục của đoạn này gồm: câu hỏi của Gioan (11,2-3),câu trả lời của Chúa Giêsu (11,4-6). Chủ đề chính của đoạn này là đặt vấn đề Chúa Giêsu có phải là Đấng phải đến hay không. Những từ quan trọng liên hệ với nhau là: “những điều Chúa Kitô đã làm” (c. 2), “Đấng sẽ đến” (c.3), “Chúa Giêsu” (c. 4) và “tôi” (c. 6).
Bối cảnh của đoạn là khi Gioan đang ở trong ngục (x. 14,3-12), ông sai các môn đệ đến với Chúa Giêsu. Câu hỏi của Gioan nêu lên vấn đề là Gioan liệu có biết Chúa Giêsu là ai không? Không phải ông đã nói về Người là Đấng sẽ đến (3,11)? Không phải ông đã làm phép rửa cho Người (3,14)? Nếu đã biết, tại sao bây giờ ông lại thắc mắc?

-          Gioan thắc mắc về Chúa Giêsu khi nghe kể lại những việc Người đã làm (cc. 2-3)

 “Việc của Đấng Kitô”, ergon, (c. 2) không chỉ là những phép lạ Chúa Giêsu đã làm (c. 5), mà cả những lời Người đã rao giảng (chương 5-9); nghĩa là cả những điều có thể “thấy và nghe” (c. 4; 4,23-24). Những “việc” này làm chứng về nguồn gốc của Người (x. 11,19). Câu 11,2 này đóng lại đoạn 4,23-11,2 chủ yếu trình bày những “việc” của Chúa Giêsu. “Đấng Kitô” ngay câu đầu của Tin MừngMátthêu đã gắn liền với tên “Giêsu”, và chỉ cả nguồn gốc bởi Ápraham, và thuộc dòng tộc Đavít, “Con Vua Đavít”. Bởi đó, “Đấng Kitô” cũng được hiểu là Đấng mà dân Ítraen đang trông đợi (x. 1,1.16tt; 2,4). Câu hỏi của Gioan ở dạng trực tiếp (c. 3). Ông muốn được xác nhận điều ông biết về “Đấng sẽ đến”, mà ông đã loan báo (3,11). “Đấng sẽ đến” chỉ Đấng được Thiên Chúa sai đến (x. 3,11; 11,3; 21,9; 23,39; Tv 118,26; Đn 7,13; 9,25-27; Ml 3,1). Động từ “trông đợi” chỉ sự mong chờ Chúa đến; mọi người đang mong chờ (x. 24,5). “Chúng tôi” ở đây chỉ dân Ítraen cách chung. Vậy, qua lời giảng dạy và phép lạ Chúa Giêsu làm, Gioan có lý do để đặt câu hỏi về chân tính của Người.

-          Câu trả lời của Chúa Giêsu (cc. 4-5)

Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp câu hỏi của Gioan, mà sai các môn đệ của Gioan đi làm chứng cho ông: “Hãy đi nói cho ông biết điều các anh nghe và thấy” (c. 4). “Loan báo”, angellō, bao giờ cũng là loan báo một tin vui (2,8; 11,4; 28,10). “Nghe” là nghe lời của Chúa (10,27; 13,7;15,10), đặc biệt là nghe lời của chính Con Thiên Chúa (17,5); cũng thế “thấy” những điều kỳ diệu Chúa Giêsu đã làm (13,17). “Nghe” và “thấy” gắn liền với nhau, vì tất cả đều phát xuất từ Chúa Giêsu. Câu 11,5 kết cấu bằng 5 câu ngắn và nối với nhau bằng liên từ “và”. Những điều mô tả trong câu này là tập hợp những lời hứa thiên sai trong Cựu ước: về người điếc và mù, què quặt và tàn tật (Is 29,17-19; 35,4-6; 42,18); về kẻ chết sống lại (Is 26,19); về loan báo Tin Mừng cho người nghèo (Is 61,1). Những điều loan báo ở đây Chúa Giêsu đã thực hiện: người phong hủi được sạch (8,2); bệnh tật (8,6); người mù và tàn tật (21,14); người nghèo được loan báo Tin Mừng (5,3). Khi loan báo tất cả những điều nàyMátthêu muốn cho thấy Thiên Chúa đang thực hiện trong Chúa Giêsu điều Người đã hứa. Chúa Giêsu là Đấng được Thiên Chúa sai đến. Người là Đấng Kitô, nghĩa là “Đấng được xức dầu”, điều này được thực hiện trong phép rửa tại sông Giođan khi Thánh Thần ngự xuống trên Người (3,16; Is 61,1). Tuy nhiên, nếu so sánh những câu này với Luca 4,18, sẽ thấy có những khác biệt. Trong Lc 4,18 không hề nói gì đến việc giải thoát cho những người nằm trong ngục tù, không nói đến ngày ân xá cho tội nhân. Chính điều này liên quan đến hiện trạng của Gioan.

-          Câu kết luận nói đến thái độ phải có đối với Đấng phải đến (c. 6)

Xem ra không có mạch lạc giữa những điều tốt lành Chúa Giêsu bảo đi loan báo và việc vấp ngã vì Người. Qua câu trả lời cho các môn đệ của Gioan, Chúa Giêsu đã xác nhận chính Người là Đấng phải đến. Vậy sao lại phải “vấp ngã” vì Người? Chắc chắn câu này nhắm trước tiên là cho Gioan. Skandalizō, “vấp ngã”, theo nghĩa tượng hình là đặt một hòn đá trên đường đi để ai đó bị vấp chân vào đá và ngã xuống; nghĩa bóng là “làm dịp cho ai đó rơi vào trong tội” (5,29.30; 13,21); do đó, xa đức tin, xa Thiên Chúa. Chúa Giêsu có thể làm cho ai xa Thiên Chúa? Mátthêu ghi nhận một vài trường hợp: người Pharisêu (15,12); các môn đệ (26,31.33). Khi áp dụng động từ này cho Chúa Giêsu, Mátthêu thường dùng thể thụ động “bị vấp ngã” vì Người. Tại sao Chúa Giêsu nhắn với các môn đệ về nói với Gioan là “Phúc cho ai không bị vấp ngã vì tôi”?

Gioan đang ở trong tù. Ông đã biết Chúa Giêsu là Đấng phải đến. Người là Đấng Kitô. Tuy nhiên, Người chẳng làm gì cho ông cả. Trong những “việc” của Người chẳng có việc nào là giải thoát tù nhân, mặc dù điều này đã được loan báo bởi ngôn sứ Isaia (Is 61,1). Ông đang bị giam trong tù. Đó là lý do làm ông thắc mắc về chân tính “Đấng Kitô” của Người. Không chỉ ông, mà cả những người Do thái thời ấy (x. 22,42). Họ hình dung một Đấng Kitô theo nghĩa trần thế. Có nhiều người đã tự xưng là “Kitô” như thế (24,5.23). Trái lại, Chúa Giêsu hoàn toàn khác. Người là Đấng Kitô và cũng là Con Thiên Chúa. Tước hiệu và nguồn gốc Con Thiên Chúa của Người đi đôi với nhau (16,16; 26,63). Đấng Kitô đến chỉ để giải thoát con người khỏi tội lỗi (1,21), chứ không khỏi chính trị, bạo lực. Nếu như thế, tất nhiên Ngườitrở nên hòn đá vấp ngã cho những ai không chấp nhận Người như thế. Họ sẽ tránh xa Người, xa Thiên Chúa và ở trong tội của mình. Người Pharisêu đã không tin vào Người (11,20-24; 12,38-42), các môn đệ bỏ chạy trốn khi Người chịu thương khó (26,31.33); người Do thái chế nhạo (26,68) và đóng đinh Đấng Kitô này vào thập giá (27,22). “Phúc cho ai”, makarios, chỉ sự cứu độ do Chúa Giêsu mang đến cho những ai biết nhận ra Người qua việc thấy và nghe (13,16; 16,17), gắn bó với Người (11,6) và thực hành lời của Người (chương 5). Gioan đã chấp nhận chết trong tù, nghĩa là đã không vấp ngã vì Người.

Chứng từ của Chúa Giêsu về Gioan Tẩy Giả (11,7-15)

Phân đoạn này mở đầu bằng ba câu hỏi của Chúa Giêsu (cc. 7-9), một trích dẫn về lời tiên báo về Gioan (c. 10), các khẳng định về Gioan (cc. 11-14), và kết thúc bằng lời cổ vũ “Ai có tai để nghe thì hãy nghe” (c. 15). Chủ đề của phân đoạn nàyđược xác định rõ ràng là “nói về Gioan” (c. 7a).

-          Các câu hỏi về Gioan (cc. 7-9)

Các câu hỏi dẫn nhập có hình thức giống nhau và liên kết với nhau theo kiểu tiệm tiến: cây sậy - một người - tiên tri (cc. 7-9). Hai câu hỏi đầu mong đợi câu trả lời phủ định và câu hỏi thứ ba mong đợi câu trả lời khẳng định. Dân chúng màChúa Giêsu đặt ra những câu hỏi này giả thiết là những người đã đến với Gioan tại sông Giođan. Họ ra khỏi nơi mình ở mà vào sa mạc, ekporeuomai (3,5; ezerkhomai ở 11,7), vì sa mạc là nơi màđấng thiên sai sẽ xuất hiện (24,26). Họ đến để gặp Gioan, vìhọ nghĩ ông là đấng thiên sai (Ga 1,19-23).

Chúa Giêsu dùng các câu hỏi để nói về Gioan và sứ mạng ngôn sứ của ông.Hình ảnh ẩn dụ đầu tiên là cây sậy, kalamos: dễ gãy, yếu ớt (12,10), nên dễ lắc lư trước gió. Gioan không mềm yếu như một cây sậy, mà rất mạnh mẽ và đòi hỏi (3,7-10). Hình ảnh thứ hai là một người ăn mặc mịn màng. Gioan thì mặc “áo lông lạc đà, ngang lưng thì thắt xiêm bằng thú vật” (3,4); y phục của tiên tri Êlia (2 V 1,8). Do đó, với câu hỏi thứ ba, dân chúng đồng ý là họ vào sa mạc để xem Gioan, một tiên tri. Thật vậy họ nghĩông là một tiên tri (14,5; 21,26; Ga 1,25). Tuy nhiên Chúa Giêsu khẳng định “còn hơn tiên tri nữa”. Và Chúa Giêsu giải thích (c. 10) bằng trích dẫn câu Xh 23,20,nói đến việc Thiên Chúa sai thiên thần dọn đường đểđưa dân vào đất hứa. Áp dụng cho Gioan tẩy giả, ông là người dọn đường cho dân vào trong Nước Trời (3,1-6). Vậy Gioan “còn hơn tiên tri” vìông có vai trò quan trọng nhất là trực tiếp dọn đường cho Đấng Thiên Sai (Ml 3,1).

-          Các khẳng định về Gioan (cc. 11-14)

Phần này mở đầu bằng công thức long trọng “Quả thật Ta bảo các ngươi” (c. 11). Trong phần tiếp theo của câu, Chúa Giêsu đưa ra một so sánh, trong đó có những từ đối nhau: “lớn nhất” - “nhỏ nhất”, “trong những người nữ sinh ra” - “trong Nước Trời”. “Trong Nước Trời” đây bao hàm thời kỳ tương lai; động từeimiở thì hiện tại; trong khi egeirō, “làm cho xuất hiện” ở thì quá khứ hoàn thành. Do đócả “trong người nữ sinh ra” và “trong Nước Trời” cũng ám chỉ thời gian: hiện tại và tương lai. Trong Tin MừngMátthêu có một sốtrường hợp tương tự; chẳng hạn 5,19, nói là người giữ lề luật đời này sẽtrởnên người lớn nhất “trong Nước Trời”. “Trong Nước Trời” không chỉ hiểu theo nghĩa nơi chốn, mà thời kỳsẽ đến. Cũng thế 18,1; 13,32. Vậy sự tương phản mà Chúa Giêsu nói ởđây là sự tương phản giữa thời kỳ của Gioan đang sống - trước khi Nước Trời đến, và thời kỳ của Nước Trời mà Gioan loan báo. Nước Trời thì cao trọng hơn tất cả; vì thếngười nhỏ nhất cũng được kể là lớn so với thời trước khi Nước Trời đến.

Kết luận

Đấng Cứu Độ đã được Thiên Chúa sai đến trần gian. Tùy theo việc nhận biết Người là ai mà con người chọn thái độ đi theo Người hay từ chối Người. Ai nhận biết Người, sẽ được chúc phúc (10,32-33). Ai từchối tin vào Người, sẽ không được ơn cứu độ.
 
 Tags: n/a

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

dcgiuseminh
Logo mvgt 2021
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập52
  • Máy chủ tìm kiếm8
  • Khách viếng thăm44
  • Hôm nay22,038
  • Tháng hiện tại52,251
  • Tổng lượt truy cập23,160,037

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây