Đức Thánh Cha Phanxicô tông du Chilê: Gặp các linh mục, tu sĩ nam nữ và chủng sinh

Thứ sáu - 19/01/2018 03:58  550
Đức Thánh Cha Phanxicô tông du Chilê:
Gặp các linh mục, tu sĩ nam nữ và chủng sinh
tại Nhà thờ chính toà Santiago
“Canh tân lời thưa Xin vâng”
WHĐ (18.01.2018) – Trong khuôn khổ chuyến tông du Chilê, chiều thứ Ba 16-01, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp các linh mục, tu sĩ nam nữ và chủng sinh tại Nhà thờ chính toà Santiago.
Sau đây là toàn văn bài huấn từ của Đức Thánh Cha trong buổi gặp gỡ này.
 
Anh chị em thân mến,
Tôi vui mừng được gặp anh chị em. Tôi thích cách mà Đức hồng y Ezzati giới thiệu anh chị em: Này họ đây … những người nữ sống đời thánh hiến, những người nam sống đời thánh hiến, các linh mục, các phó tế vĩnh viễn và các chủng sinh. Điều đó làm tôi nhớ đến ngày chúng ta thụ phong linh mục và giám mục, sau khi được giới thiệu, mỗi người chúng ta đều thưa: “Này con đây, lạy Chúa, con đến để thực thi ý Chúa”. Trong cuộc gặp gỡ này, chúng ta muốn nói với Chúa: “Này chúng con đây”, để canh tân lời thưa “xin vâng” của chúng ta với Chúa. Chúng ta muốn cùng nhau canh tân lời đáp của chúng ta trước lời kêu gọi mà ngày đó đã chiếm trọn con tim của chúng ta trong tâm tình ngạc nhiên.
Để làm như vậy, tôi nghĩ rằng điều có thể giúp chúng ta là khởi đi với đoạn Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe, và chia sẻ ba thời khắc mà Phêrô và cộng đoàn đầu tiên đã trải nghiệm: Phêrô và cộng đoàn ngã lòng, Phêrô và cộng đoàn được thương xót, và Phêrô và cộng đoàn được biến đổi. Tôi đặt song song Phêrô và cộng đoàn vì đời sống của các tông đồ luôn có hai chiều kích, cá nhân và cộng đoàn. Hai chiều kích này gắn liền với nhau mà chúng ta không thể tách rời. Chúng ta được kêu gọi theo từng cá nhân nhưng luôn thuộc về một nhóm lớn hơn. Nói về ơn gọi thì không có chuyện tự chụp hình (selfie)! Ơn gọi đòi hỏi phải có ai khác chụp hình cho bạn, và đó là điều chúng ta sắp làm đây!
1. Phêrô ngã lòng, cộng đoàn ngã lòng
Tôi luôn thích cách mà Phúc âm không tô điểm hay làm nhẹ bớt mọi chuyện, hoặc sơn phết lên những màu sắc đẹp đẽ. Phúc âm cho chúng ta thấy cuộc sống như nó là chứ không phải như lẽ ra phải là. Phúc âm không sợ cho chúng ta thấy những lúc khó khăn, thậm chí căng thẳng, mà các môn đệ đã trải nghiệm.
Chúng ta hãy dựng lại khung cảnh. Người ta đã giết Chúa Giêsu, nhưng có mấy phụ nữ bảo rằng Người đang sống (Lc 24,22-24). Ngay cả sau khi các môn đệ đã nhìn thấy Chúa Giêsu Phục sinh, biến cố ấy vẫn mạnh đến nỗi họ cần có thời gian để hiểu được điều gì đã xảy ra. Luca nói: “Niềm vui quá lớn lao đến nỗi các ông vẫn chưa thể tin được”. Họ sẽ có được hiểu biết ấy vào ngày Lễ Hiện xuống khi Chúa Thánh Thần được ban cho họ. Cuộc gặp gỡ với Chúa Phục Sinh đòi phải có thời gian mới có chỗ trong trái tim của các môn đệ.
Các môn đệ trở về nhà. Họ trở về để làm công việc mà họ đã từng làm: đánh cá. Không phải tất cả, nhưng chỉ mấy người trong số họ. Họ có chia rẽ không? Có phân tán không? Chúng ta không biết. Kinh Thánh cho chúng ta biết họ không bắt được gì. Lưới của họ trống trơn.
Nhưng có một loại trống vắng đè nặng tâm hồn họ mà họ không nhận ra: thất vọng và hoang mang trước cái chết của Thầy. Thầy không còn nữa; Thầy đã bị đóng đinh. Nhưng không chỉ mình Thầy bị đóng đinh, mà cả họ nữa, vì cái chết của Chúa Giêsu đã làm dậy lên cơn lốc mâu thuẫn trong lòng các bạn của Người. Phêrô đã chối Chúa; Giuđa đã phản bội Người; những người khác thì bỏ trốn. Chỉ có một số ít phụ nữ và người môn đệ yêu dấu ở lại. Trong mấy ngày, mọi sự đều sụp đổ. Đó là những giờ phút rối bời và hoang mang trong cuộc đời của người môn đệ. Có những lúc xảy ra “cơn bão tố của gian nan, thử thách, nghi nan, và đủ thứ, do những biến cố văn hoá và lịch sử, không dễ tìm được con đường để đi. Những lúc ấy lại có những cám dỗ khác: tư tưởng dao động, không quan tâm thích đáng đến vấn đề, quá lo lắng về kẻ bách hại mình ... Và có lẽ đối với tôi, cám dỗ tồi tệ nhất là dừng lại để gặm nhấm nỗi buồn”.[1] Phải, dừng lại để gặm nhấm nỗi buồn. Đó là điều đã xảy ra với các môn đệ.
Như Đức hồng y Ezzati đã nói với chúng ta, “đời linh mục và đời sống thánh hiến ở Chilê đã và đang trải qua những giai đoạn khó khăn của những biến động và thách đố không nhỏ. Bên cạnh lòng trung thành của đại đa số, cũng có nhiều cỏ dại của cái xấu và hậu quả là những tai tiếng và đào ngũ”.
Những giai đoạn biến động. Tôi biết nỗi đau do các vụ lạm dụng trẻ vị thành niên và tôi quan tâm đến những gì anh chị em đang làm để đối phó với cái ác nghiêm trọng và đau đớn này. Đau đớn vì những tổn thương và đau khổ của các nạn nhân và gia đình họ, là những người thấy rằng niềm tin tưởng đặt nơi các thừa tác viên của Giáo hội đã bị phản bội. Cũng đau đớn cho các cộng đoàn Hội thánh, và đau đớn cho anh chị em nữa, những người sau khi vất vả làm việc, lại nhìn thấy những tổn hại dẫn đến nghi ngờ và đặt vấn đề; nơi  một vài người hay nhiều người trong anh chị em, điều ấy là nguồn gốc của nghi ngờ, sợ hãi hoặc thiếu tin tưởng. Tôi biết đôi khi anh chị em đã bị lăng mạ trong metro hoặc khi đi trên đường phố, và ở nhiều nơi anh chị em phải trả giá đắt khi mặc tu phục. Vì thế, tôi mời anh chị em hãy cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta cái nhìn rõ ràng để gọi thực tại bằng đúng tên của nó, can đảm xin tha thứ và khả năng lắng nghe những gì Chúa đang nói với chúng ta.
Tôi còn muốn đề cập đến một chuyện quan trọng khác nữa. Xã hội của chúng ta đang thay đổi. Chilê ngày nay hoàn toàn khác so với những gì tôi biết khi còn trẻ, khi còn đi học. Những biểu hiện văn hoá mới và khác biệt đang nảy sinh không phù hợp với khuôn mẫu quen thuộc của chúng ta. Chúng ta phải thừa nhận rằng nhiều khi chúng ta không biết làm thế nào để đối phó với những tình huống mới này. Đôi khi chúng ta mơ về “những củ hành bên Ai Cập” mà quên rằng đất hứa ở đằng trước chúng ta, quên rằng lời hứa không phải là cho ngày hôm qua mà là cho ngày mai. Chúng ta có thể đầu hàng cơn cám dỗ thu mình lại, cô lập chính mình để bảo vệ cách chúng ta nhìn sự việc, vốn rốt cuộc sẽ trở thành không gì khác hơn là độc thoại. Chúng ta có thể bị cám dỗ nghĩ rằng mọi thứ đều sai, và thay vì loan “tin vui”, chúng ta lại chỉ loan báo sự thờ ơ và thất vọng. Kết quả là, chúng ta nhắm mắt lại trước những thách đố mục vụ, tưởng rằng Chúa Thánh Thần không có gì để nói. Như thế, chúng ta quên rằng Tin Mừng là một hành trình hoán cải, không chỉ cho “những người khác” mà còn cho chính chúng ta nữa.
Dù thích hay không, chúng ta cũng được kêu gọi đối mặt với thực tại như nó là – thực tại của cá nhân chúng ta và thực tại của các cộng đoàn và xã hội của chúng ta. Lưới trống trơn – các môn đệ nói thế – và chúng ta có thể hiểu được cảm xúc của họ. Họ trở về nhà mà chẳng có chuyện gì để kể; họ trở về tay không; họ trở về trong nỗi chán chường.
Điều gì đã xảy ra với những môn đệ mạnh mẽ, nhiệt tình và dễ mến ấy, những người cảm nhận rằng mình đã được chọn và đã bỏ mọi sự để đi theo Chúa Giêsu (x. Mt 1,16-20)? Điều gì đã xảy ra với những môn đệ quả quyết rằng mình sẽ vào tù và thậm chí hy sinh tính mạng vì Thầy (x. Lc 22,33), những người muốn xin Chúa cho lửa từ trời xuống để bảo vệ Thầy (x. Lc 9,54), và sẵn sàng rút gươm để chiến đấu vì Thầy (x. Lc 22,49-51)? Điều gì đã xảy ra với Phêrô, kẻ đã trách cứ Thầy về đường lối của Thầy (x. Mc 8,31-33)?
2. Phêrô được thương xót, cộng đoàn được thương xót
Đó là giờ của sự thật trong đời sống của cộng đoàn đầu tiên. Đó là lúc Phêrô phải đối diện với chính mình. Một góc trong con người của ông mà nhiều lần ông không muốn thấy. Ông đã nghiệm ra những giới hạn, yếu đuối và tội lỗi của mình. Phêrô, nhà lãnh đạo và vị cứu tinh tính khí thất thường và bốc đồng, tự mãn và quá tự phụ với khả năng của mình, đã phải nhìn nhận mình là kẻ yếu đuối và tội lỗi. Ông cũng là một tội nhân như mọi người khác, thiếu sót như những người khác, yếu đuối như những người khác. Phêrô đã làm cho Đấng mà ông hứa bảo vệ phải thất vọng. Đó là một thời khắc quyết định trong cuộc đời của Phêrô.
Là các môn đệ, là Giáo hội, chúng ta có thể có cùng một kinh nghiệm: có những lúc chúng ta phải đối diện với không phải là thành công mà là yếu đuối của mình. Đó là thời khắc quyết định trong cuộc đời của một môn đệ, nhưng chính lúc ấy một tông đồ lại được sinh ra. Chúng ta hãy để cho bản văn hướng dẫn.
“Khi các môn đệ ăn xong, Chúa Giêsu hỏi ông Simon Phêrô: ‘Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?’”(Ga 21,15).
Khi họ ăn xong, Chúa Giêsu dẫn Phêrô sang một bên và chỉ hỏi ông một câu, một câu hỏi về tình yêu: Con có yêu mến Thầy không? Chúa Giêsu không trách mắng hay lên án. Điều duy nhất Người muốn làm là cứu Phêrô. Người muốn cứu ông khỏi mối nguy khép kín trong tội, để “gặm nhấm” nỗi buồn vì yếu đuối của mình; cứu ông khỏi mối nguy vì yếu đuối ấy mà xoá sạch những gì tốt đẹp ông đã sống với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu muốn cứu ông khỏi thái độ thu mình và cô lập. Người muốn cứu ông khỏi thái độ huỷ diệt ấy – thái độ làm cho người ta trở thành nạn nhân hay trái lại, rơi vào suy nghĩ “cũng thế thôi”, vốn coi nhẹ mọi dấn thân để rồi kết cuộc lại dẫn đến cái tương đối tồi tệ nhất. Chúa Giêsu muốn giải thoát ông khỏi thái độ nhìn những người chống đối mình như kẻ thù và bực tức vì những chống đối và chỉ trích. Người muốn giải thoát ông khỏi bị suy sụp và nhất là khỏi tiêu cực. Với câu hỏi đặt ra, Chúa Giêsu muốn Phêrô lắng nghe con tim và học cách phân định. Vì “bảo vệ sự thật mà phải hy sinh bác ái, hay bảo vệ bác ái mà phải hy sinh sự thật, hoặc giải quyết được mọi chuyện mà phải hy sinh cả hai, đó không phải là  đường lối của Thiên Chúa. Chúa Giêsu muốn tránh biến Phêrô thành một người gây tổn thương người khác khi mình nói thật, hoặc nói dối để làm vui lòng người khác, hoặc đơn giản thành một người đờ đẫn vì thiếu quả quyết”,[2] như có thể xảy ra với chúng ta trong những hoàn cảnh này.
Chúa Giêsu chất vấn Phêrô về tình yêu và cứ hỏi mãi cho đến khi Phêrô có câu trả lời thực tế: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,17). Thế là Chúa Giêsu xác nhận sứ mạng của ông. Thế là giờ đây Người làm cho ông trở thành tông đồ của Người cách dứt khoát.
Điều gì xác nhận Phêrô là một tông đồ? Điều gì xác nhận chúng ta là những tông đồ? Chỉ có một điều: đó là chúng ta “đã lãnh nhận lòng thương xót” (1 Tim 1,12-16). “Vì tất cả những tội lỗi của chúng ta, những giới hạn của chúng ta, những thất bại của chúng ta, vì tất cả những lần chúng ta sa ngã, Chúa Giêsu đã đoái nhìn chúng ta và đến gần chúng ta. Người đã chìa bàn tay cho chúng ta và tỏ lòng thương xót chúng ta. Tất cả chúng ta có thể nhớ lại nhiều lần Chúa đã nhìn đến chúng ta, lại gần và tỏ lòng thương xót chúng ta”[3]. Chúng ta ở đây không phải vì chúng ta tốt lành hơn những người khác; chúng ta không phải là những siêu anh hùng đứng trên đỉnh cao cúi xuống gặp gỡ người phàm. Nhưng chúng ta được sai đi như những người ý thức rằng mình đã được tha thứ. Đó là nguồn vui của chúng ta. Chúng ta được thánh hiến, là những mục tử rập theo khuôn mẫu Giêsu, Đấng đã chết và đã sống lại. Một người nam hay người nữ sống đời thánh hiến sẽ nhìn những vết thương của mình như dấu chỉ của phục sinh; nhìn thấy thấy sức mạnh của phục sinh nơi các vết thương của thế giới này; và cũng như Chúa Giêsu, không gặp anh chị em mình để trách móc và lên án.
Chúa Giêsu Kitô không hiện ra với các môn đệ mà không có các vết thương; chính những vết thương ấy làm cho Tôma tuyên xưng niềm tin của ông. Chúng ta không được kêu gọi lờ đi hay che giấu những vết thương của mình. Một Giáo hội mang thương tích mới hiểu được những vết thương của thế giới ngày nay và lấy những thương đau ấy làm của mình, bằng cách đau khổ với họ, đồng hành với họ và tìm cách chữa lành họ. Một Giáo hội bị thương tích không làm cho mình trở thành trung tâm của mọi sự, không tin rằng mình hoàn hảo, nhưng đặt ở nơi trung tâm Đấng có thể chữa lành những vết thương này, và tên của Đấng ấy là Giêsu Kitô.
Biết được mình đang mang  thương tích sẽ làm cho chúng ta tự do. Phải, điều đó giải thoát chúng ta không trở thành người quy ngã và nghĩ rằng mình hơn người khác. Điều đó giải thoát chúng ta khỏi xu hướng kiêu hãnh của “những người chủ yếu chỉ tin vào sức riêng mình và thấy mình đứng trên người khác vì đã tuân giữ các lề luật hoặc luôn trung thành với một cung cách sống đạo của quá khứ”[4].
Trong Chúa Giêsu, các vết thương của chúng ta được phục sinh. Chúng khơi lên tình liên đới; chúng giúp cho chúng ta phá đổ những bức tường nhốt kín chúng ta trong chủ nghĩa tinh hoa và thúc đẩy chúng ta xây dựng những cây cầu và gặp gỡ tất cả những ai đang khao khát tình yêu thương xót ấy mà chỉ có Chúa Kitô mới có thể trao ban. “Rất thường khi chúng ta mơ ước những chương trình tông đồ lớn lao, được lập kế hoạch tỉ mỉ, giống như các vị tướng thất trận! Nhưng như thế là phủ nhận lịch sử của chúng ta trong tư cách một Giáo hội, vốn thực sự vinh quang vì đó là một lịch sử của những hy sinh, hy vọng và đấu tranh hằng ngày, của những cuộc đời phục vụ và trung tín với công việc, có thể là mệt mỏi, vì mọi công việc đều phải đổ ‘mồ hôi trán’ mới hoàn thành”[5]. Tôi lo ngại khi thấy nhiều cộng đoàn cứ lo cho hình ảnh của mình, lo khuếch trương, lo cho vẻ bên ngoài để phô trương, hơn là đi ra ngoài để chạm vào nỗi đau thương của đoàn dân tín hữu.
Những lời sau đây của một vị thánh Chilê thật sâu sắc biết bao: “Tất cả những phương pháp sẽ thất bại là những phương pháp bị tính đồng nhất áp đặt, những phương pháp cố đưa chúng ta đến với Chúa bằng cách làm cho chúng ta quên đi những người anh chị em của mình, làm cho chúng ta nhắm mắt lại trước vũ trụ thay vì dạy chúng ta mở mắt ra và dâng mọi sự lên Đấng Sáng Tạo, những phương pháp làm cho chúng ta trở nên ích kỷ và khép kín trong chính mình”.[6]
Dân Chúa không mong đợi cũng chẳng cần chúng ta làm những siêu anh hùng. Họ mong đợi những mục tử, những người sống đời tận hiến, là những người biết xót thương, biết chìa bàn tay để giúp đỡ, biết dành thời gian cho những ai quỵ ngã và, cũng như Chúa Giêsu, giúp họ thoát khỏi nỗi dày vò khôn nguôi đang đầu độc tâm hồn họ.
3. Phêrô được biến đổi, cộng đoàn được biến đổi
Chúa Giêsu mời gọi Phêrô phân định, và thế là các biến cố trong cuộc đời của Phêrô trở nên có ý nghĩa, như cử chỉ ngôn sứ của việc rửa chân. Phêrô, người không muốn được rửa chân, nay bắt đầu hiểu ra rằng sự cao cả thực sự xuất phát từ việc trở nên thấp hèn và trở nên người tôi tớ.[7]
Chúa chúng ta là một vị thầy tài giỏi biết bao! Cử chỉ mang tính ngôn sứ của Chúa Giêsu chỉ cho thấy Giáo hội ngôn sứ, được rửa sạch tội lỗi, không sợ đi ra ngoài để phục vụ một nhân loại bị thương tích.
Phêrô đã kinh nghiệm trong thân xác mình thương tích của tội lỗi, và cả những giới hạn và yếu đuối của mình. Nhưng ông đã học được từ Chúa Giêsu rằng những thương tích ấy có thể là một con đường phục sinh. Cảm nghiệm cả Phêrô ngã lòng lẫn Phêrô được biến đổi, chúng ta được mời gọi đi từ một Giáo hội của người bất hạnh và nản chí đến một Giáo hội phục vụ tất cả những ai bất hạnh và nản chí ở giữa chúng ta. Một Giáo hội có khả năng phục vụ Chúa của mình nơi những người đói khát, lâm cảnh tù đày, không nhà, không áo mặc và đau yếu... (Mt 25,35). Một sự phục vụ không đồng hoá với não trạng cứu trợ hay thái độ gia trưởng, nhưng nhằm hoán cải các tâm hồn. Vấn đề không phải là cho người nghèo cái ăn, cho người trần trụi áo mặc và thăm viếng người đau yếu, mà là nhìn nhận rằng người nghèo, người trần trụi, người đau yếu, người ở tù và người không nhà cũng có phẩm giá để ngồi cùng bàn với chúng ta, cảm thấy như “ở nhà” giữa chúng ta, cảm thấy thuộc về một gia đình. Đây là dấu chỉ cho thấy Nước Trời đang ở giữa chúng ta. Đây là dấu chỉ cho thấy một Giáo hội bị thương tích bởi tội lỗi, được Chúa tỏ lòng thương xót, và được Ngài mời gọi trở thành ngôn sứ.
Canh tân sứ vụ ngôn sứ là canh tân sự dấn thân của chúng ta để đừng chờ mong một thế giới lý tưởng, một cộng đoàn lý tưởng, hay một người môn đệ lý tưởng để sống và loan báo Tin Mừng, nhưng là làm sao cho mọi người ngã lòng gặp được Chúa Giêsu. Người ta không yêu thích những hoàn cảnh lý tưởng hay những cộng đoàn lý tưởng, nhưng yêu thương con người.
Thẳng thắn nhìn nhận những giới hạn của chúng ta trong đau buồn và tâm tình cầu nguyện không làm cho chúng ta xa Chúa, nhưng giúp chúng ta trở về với Chúa Giêsu bởi biết rằng “nhờ sự mới mẻ của Người, Người luôn có thể canh tân đời sống và cộng đoàn chúng ta, và nếu như sứ điệp Kitô giáo đã trải qua những thời kỳ đen tối và sự yếu đuối của Giáo hội, sứ điệp ấy cũng chẳng bao giờ già cỗi ... Bất cứ khi nào chúng ta nỗ lực trở về nguồn cội và khôi phục nét tươi mới nguyên thuỷ của Phúc âm, sẽ xuất hiện những lối đi mới, những phương pháp sáng tạo, những hình thức diễn tả khác, những dấu chỉ có sức thuyết phục hơn, những lời nói mang ý nghĩa mới cho thế giới ngày nay”.[8] Thật tốt đẹp biết bao khi tất cả chúng ta để cho Chúa Giêsu canh tân tâm hồn chúng ta.
Lúc đầu, tôi đã nói với anh chị em rằng chúng ta đến đây để canh tân lời thưa “xin vâng” của chúng ta, với lòng hăng hái, với niềm say mê. Chúng ta muốn canh tân lời thưa “xin vâng” của chúng ta, nhưng như một lời “xin vâng” thực tế, được ánh mắt của Chúa Giêsu nâng đỡ. Khi anh chị em trở về nhà, tôi xin anh chị em hãy viết vào con tim mình bản di chúc thiêng liêng, theo lời của Đức hồng y Raúl Silva Henríquez. Lời cầu nguyện tuyệt đẹp ấy của ngài bắt đầu như sau:
“Giáo hội mà tôi yêu mến là Giáo hội thánh thiện mỗi ngày ... Của anh, của tôi, Giáo hội thánh thiện mỗi ngày ...
“Chúa Giêsu Kitô, Phúc Âm, bánh, Thánh Thể, Thân mình khiêm tốn của Chúa Kitô mỗi ngày. Với khuôn mặt của người nghèo, khuôn mặt của những người nam và người nữ đang ca hát, đấu tranh, đau khổ. Giáo hội thánh thiện mỗi ngày”.
Tôi xin hỏi anh chị em: Anh chị em yêu mến Giáo hội nào? Anh chị em có yêu mến Giáo hội bị thương tích này, một Giáo hội gặp được sự sống nơi những thương tích của Chúa Giêsu hay không?
Xin cảm ơn anh chị em về cuộc gặp gỡ này. Cảm ơn anh chị em đã cho tôi cơ hội để nói lời “xin vâng” cùng với anh chị em một lần nữa. Nguyện xin Đức Mẹ Núi Carmel lấy áo choàng của Mẹ bao bọc anh chị em. Xin anh chị em cũng đừng quên cầu nguyện cho tôi.
–––––––––––––––––
[1] Jorge M. Bergoglio, Las Cartas de la tribulación, 9, ed. Diego de Torres, Buenos Aires, 1987.
[2] Nt.
[3] Sứ điệp truyền hình gửi CELAM trong Năm Thánh Lòng Thương Xót tại châu Mỹ, ngày 27 tháng Tám 2016.
[4] Tông huấn Evangelii Gaudium, 94.
[5] Nt., 96.
[6] THÁNH ALBERTO HURTADO, Bài nói chuyện với Giới trẻ Công giáo Tiến hành, 1943.
[7] “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm đầy tớ của mọi người” (Mc 9,35).
[8] Tông huấn Evangelii Gaudium, 11.
 
(Nguồn: Libreria Editrice Vaticana, bản tiếng Anh;
tham khảo bản tiếng Pháp)
 
Minh Đức chuyển ngữ

Đức Thánh Cha Phanxicô tông du Chilê: Thánh lễ tại phi trường Maquehue
“Trở nên những người kiến tạo sự hiệp nhất”

WHĐ (19.01.2018) – Sáng 17-01, theo chương trình tông du Chilê, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đến phi trường Maquehue, thuộc thành phố Temuco, miền nam Chilê.
Thành phố Temuco là thủ phủ tỉnh Cautín, thuộc vùng Araucanía, cách thủ đô Santiago 683 km về phía nam.
Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi mọi người tham dự Thánh lễ hãy cùng ngài: “cầu nguyện cho những người đã chịu đau khổ đến chết, và cho những ai đang hằng ngày gánh chịu nhiều loại bất công”.
Sau đây là toàn văn bài giảng trong Thánh lễ của Đức Thánh Cha.
*
 
“Mari, Mari” [Chào tất cả anh chị em!]
“Küme tünngün ta niemün” [“Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em!” (Lc 24,36)]
Tôi cảm tạ Chúa đã cho tôi được đến thăm vùng Araucanía tuyệt đẹp này của châu lục chúng ta. Vùng đất này được Đấng Tạo hóa ban cho những cánh đồng bao la bát ngát, xanh tốt phì nhiêu, những cánh rừng cây bách tán araucaria đầy ấn tượng – gợi hứng cho nữ sĩ Gabriela Mistral viết bài “tụng ca” thứ năm về miền đất này của Chilê [1] – cùng những ngọn núi lửa tuyết phủ hùng vĩ, những sông hồ đầy sức sống. Phong cảnh này nâng lòng chúng ta lên với Chúa, và dễ dàng nhận ra bàn tay của Ngài nơi mỗi thụ tạo. Nhiều thế hệ nam nữ đã đem lòng tri ân nồng thắm mến yêu mảnh đất này. Đến đây tôi muốn dừng lại để đặc biệt chào thăm anh chị em thuộc sắc dân Mapuche, cũng như các sắc dân bản địa khác cư ngụ trên miền đất phương nam này: các anh chị em Rapanui (thuộc Đảo Đông), Aymara, Quechua và Atacameños, và nhiều sắc dân khác.
Dưới mắt của người đi du lịch, miền đất này sẽ khiến chúng ta ngây ngất khi đi qua, còn nếu áp tai xuống đất, chúng ta sẽ nghe đất hát rằng: “Arauco mang nỗi buồn không thể cứ lặng thinh, những bất công lưu cữu bao đời ai ai cũng thấy”.[2]
Trong niềm tri ân mảnh đất và con người ở đây, đồng thời thấm thía nỗi buồn đau thống khổ, chúng ta cùng dâng Thánh lễ này. Chúng ta cử hành ngay tại phi trường Maquehue này, là nơi từng diễn ra những vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Chúng ta dâng Thánh lễ này cầu nguyện cho những ai đã chịu đau khổ đến chết, và những ai đang hằng ngày gánh nguyện cho những ai đã chịu đau khổ đến chết, những aira những vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Chúng ta dâng thánh lễ n chịu nhiều loại bất công.
Trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu thưa với Chúa Cha “xin cho họ tất cả được nên một” (Ga 17,21). Trong giây phút quan trọng của đời mình, Người dừng lại để nài xin ơn hiệp nhất. Từ đáy lòng, Người biết một trong những mối đe doạ lớn nhất đối với các môn đệ và tất cả nhân loại là sự chia rẽ, đối đầu, và áp bức. Sẽ còn phải rơi biết bao nước mắt! Hôm nay chúng ta muốn dựa vào lời cầu nguyện này của Chúa Giêsu, cùng Người bước vào khu vườn buồn thảm này với những nỗi buồn phiền của chúng ta, để cùng với Chúa Giêsu nài xin Chúa Cha cho chúng ta cũng được nên một. Mong sao chúng ta đừng rơi vào cảnh đối đầu và chia rẽ.
Sự hiệp nhất Chúa Giêsu khẩn cầu là ơn chúng ta không ngừng nài xin Chúa ban, để đất nước và thế hệ con cháu trên mảnh đất này sống trong an lành. Chúng ta cần đề phòng những cám dỗ có thể xảy đến và “làm hỏng gốc rễ” của hồng ân Chúa muốn ban cho chúng ta, và qua đó Chúa mời gọi chúng ta hãy đảm nhận vai trò đích thực trong lịch sử.
1. Những đồng nghĩa sai lạc
Một trong những cám dỗ chính chúng ta cần chống lại là nhầm lẫn giữa hiệp nhất và đồng nhất. Chúa Giêsu không xin Chúa Cha ban cho tất cả được nên bằng nhau, giống nhau, vì hiệp nhất không có nghĩa là vô hiệu hóa hoặc phớt lờ những khác biệt. Hiệp nhất không phải là đồng hóa hoặc bắt phải hòa nhập; không phải là mua lấy sự hài hòa với cái giá là gạt một số người ra ngoài lề. Đất nước được giàu có là nhờ mỗi thành viên biết chia sẻ sự khôn ngoan của mình cho các thành viên khác. Hiệp nhất không phải là sự đồng dạng cứng nhắc do kẻ mạnh áp đặt, hoặc kỳ thị không nhìn thấy cái tốt nơi người khác. Sự hiệp nhất Chúa Giêsu muốn mang lại chính là biết nhận ra mỗi dân tộc và mỗi nền văn hóa đều được mời gọi đóng góp vào mảnh đất hồng ân này. Hiệp nhất là hòa giải những khác biệt, nên không được phép nhân danh hiệp nhất để hợp pháp hóa những bất công của mọi cá nhân hoặc cộng đồng. Chúng ta cần sự giàu có do mỗi sắc dân mang lại, và phải gạt qua một bên thứ lý luận phân biệt thấp cao giữa những nền văn hóa. Để làm ra tấm áo choàng “chamal” tuyệt đẹp, người thợ dệt phải biết nghệ thuật pha trộn các chất liệu và màu sắc, tốn nhiều giờ cho từng yếu tố và từng công đoạn. Máy móc cũng dệt được “chamal”, nhưng ai cũng có thể nhận ra ngay tấm vải ấy được dệt bằng máy. Nghệ thuật xây dựng sự hiệp nhất đòi phải có những người thợ đích thực, biết cách làm thế nào hài hòa những dị biệt khi ‘thiết kế” những thành phố, đường sá, quảng trường và cảnh quan thiên nhiên. Nó không phải là “nghệ thuật bàn giấy”, hoặc giấy tờ hành chánh; mà là một tác phẩm đòi hỏi sự lắng nghe và thấu hiểu. Đó là nguồn sinh ra vẻ đẹp của sự hiệp nhất, có thể chống chọi với thời gian đang bào mòn và bão tố ập đến.
Sự hiệp nhất mà người dân chúng ta đang cần đòi chúng ta phải biết lắng nghe nhau, nhưng quan trọng hơn cả là biết tôn trọng nhau. “Không chỉ là nói tốt về người khác, mà còn phải biết gặt hái những gì đã đựơc Thần Khí gieo nơi họ”.[3] Như thế sẽ mở đường cho chúng ta đi tới tình liên đới, chất liệu dệt nên sự hiệp nhất, chất liệu xây dựng lịch sử. Với tình liên đới này, chúng ta có thể nói lên rằng: chúng tôi cần có nhau, và cần có những khác biệt của nhau, để đất nước này mãi mãi xinh đẹp! Đó không chỉ là khí giới của chúng ta chống lại “sự phá trụi rừng” hy vọng, mà là lý do khiến chúng ta cầu nguyện: Lạy Chúa, xin làm cho chúng con trở nên những người kiến tạo sự hiệp nhất.
2. Khí giới của hiệp nhất
Nếu hiệp nhất đựơc xây trên nền của lòng tự trọng và tình liên đới, thì chúng ta không thể chấp nhận bất kỳ cách thức nào để đạt đến hiệp nhất. Có hai thứ bạo lực, thay vì đưa đến hiệp nhất và hòa giải, thì lại đe dọa chúng. Thứ nhất, chúng ta phải lưu ý đến những hiệp ước “đẹp đẽ” mà chẳng bao giờ thực hiện. Lời lẽ hay ho, kế hoạch tỉ mỉ – kể ra thì cũng cần – nhưng nếu không đưa ra thực hiện, thì kết cục giống như “bàn tay viết, khuỷu tay xóa”. Đó là một thứ bạo lực, vì nó làm thui chột niềm hy vọng.
Thứ hai, chúng ta phải nhấn mạnh rằng nền văn hóa tôn trọng nhau không thể dựa trên hành động bạo lực và hủy diệt, đưa đến lấy đi mạng sống con người. Người ta không thể kêu gọi người khác nhìn nhận mình bằng cách chính mình lại đi tiêu diệt người khác, như vậy chỉ đưa đến bạo lực và chia rẽ. Bạo lực sinh ra bạo lực, hủy diệt càng làm tan rã và chia rẽ thêm. Cuối cùng bạo lực khiến cho động cơ đúng đắn nhất trở thành sự dối trá. Đó là lý do khiến chúng ta phải “nói không với bạo lực hủy diệt” dù với hình thức nào đi nữa.
Hai cách tiếp cận này tựa như dung nham núi lửa tràn ra đốt cháy mọi thứ, chỉ để lại cằn cỗi hoang vu. Như vậy chúng ta hãy tìm kiếm con đường bất bạo động tích cực, “như một phong cách chính trị kiến tạo hòa bình”.[4] Chúng ta hãy tìm kiếm, và đừng bao giờ mệt mỏi kiếm tìm, đối thoại vì sự hiệp nhất. Đó là lý do khiến chúng ta thốt lên: Lạy Chúa, xin làm cho chúng con trở nên những người kiến tạo sự hiệp nhất của Chúa.
Tất cả chúng ta, trong một mức độ nhất định, đều là người của đất (x. St 2,7). Tất cả chúng ta đều được mời gọi “sống tốt lành” (Küme Mongen), như minh triết của tổ tiên người Mapuche nhắc chúng ta nhớ. Đường đi còn xa biết bao, và còn biết bao điều chúng ta phải học! Küme Mongen, một niềm khao khát sâu xa không những trào vọt từ trái tim chúng ta, mà con vang lên như một tên kêu, như một khúc hát trong mọi thụ tạo. Chính vì thế, thưa anh chị em, vì con cái của trái đất này, chúng ta hãy cùng với Chúa Giêsu nài xin Chúa Cha: Xin cho cả chúng nữa cũng được nên một; xin làm cho chúng con trở nên những người kiến tạo sự hiệp nhất.
 
 
 
 
___________________
[1] GABRIELA MISTRAL, Elogios de la tierra de Chile
[2] VIOLETA PARRA, Arauco tiena una pena
[3] Tông huấn Evangelii Gaudium, 246
[4] Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2017
(Nguồn: Libreria Editrice Vaticana)
 
Thành Thi chuyển ngữ
 
 Tags: n/a

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

dcgiuseminh
logonamthanh
   
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập133
  • Máy chủ tìm kiếm22
  • Khách viếng thăm111
  • Hôm nay21,922
  • Tháng hiện tại414,405
  • Tổng lượt truy cập5,619,143

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây