Giám Mục - Thừa Tác Viên của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, phục vụ niềm hy vọng thế giới: Bài 3, 4 và 5.

Chủ nhật - 11/10/2020 22:17  137
BÀI 3:
CÔNG TÁC MỤC VỤ CỦA NGƯỜI GIÁM MỤC TẠI GIÁO PHẬN CỦA MÌNH
dKhi kêu gọi các Tông Đồ, Chúa Giêsu đã sai họ đi, trước hết đến với con cái nhà Israel, rồi với tất cả mọi dân tộc, như Công Đồng đã nhắc lại khi tóm tắt các dữ kiện lấy ra từ Tin Mừng, để "với quyền năng của Người, họ sẽ làm cho mọi dân tộc trở thành môn đệ Người, thánh hóa và cai quản các dân tộc ấy".[1] Khi gọi một số tín hữu làm những Người Kế Vị các Tông Đồ trong Giáo Hội, tức là các giám mục, Đức Kitô cũng ban cho các ngài một tác vụ với ba việc ("triplex munus") là giảng dạy, thánh hóa và cai quản.
Sau khi tiếp nhận qua việc truyền chức giám mục, các giám mục sẽ thi hành ba nhiệm vụ ấy thay mặt và nhân danh Đức Kitô, nghĩa là đảm trách một cách ưu tiên và trông thấy được ba vai trò của Đức Kitô Tôn Sư, Đức Kitô Thượng Tế và Đức Kitô Mục Tử.[2] Như vậy, chính nhờ tác vụ hết sức cao cả của các giám mục, Đức Kitô đã hiện diện trở lại giữa các tín hữu. Nhờ các giám mục, Đức Kitô có dịp rao giảng Lời Chúa, cử hành các bí tích đức tin, điều khiển và cai quản dân Tân Ước trên đường tiến về cõi phúc vĩnh cửu.[3] Ba nhiệm vụ ấy, đem lại cho sứ mạng của các giám mục một khuôn mặt riêng, cũng như tạo thành nền cho cuộc sống thường nhật của các giám mục, thật ra chỉ là ba bộ mặt khác nhau của một sứ mạng duy nhất là làm Trung Gian hay chỉ là ba khía cạnh khác nhau của một hoạt động duy nhất là cứu độ, như nơi Đức Kitô vậy. Vì thế, ta phải nhìn ba nhiệm vụ trên đây trong tác vụ của người giám mục một cách thống nhất, đến nỗi khi giảng dạy, ngài cũng đồng thời thánh hoá và hướng dẫn phần dân Chúa được giao cho mình coi sóc ân cần như người mục tử; khi thánh hoá, ngài cũng đồng thời giảng dạy và hướng dẫn, và khi chăn dắt cai quản, ngài cũng đồng thời giảng dạy và thánh hoá. "Nền tảng để ngài dựa vào mà thi hành ba nhiệm vụ giảng dạy, thánh hoá và cai quản hay làm công việc cao cả ấy, tới mức hiến trọn bản thân mình và cho đi tất cả những gì mình có (x. 2Cr 12,15), chính là tâm hồn người mục tử, lấy gương sáng và giáo lý của Đức Giêsu Mục Tử nhân hậu làm quy luật tối thượng",[4] vì Người chính là Đường dẫn tới Chúa Cha, là Sự Thật và là Sự Sống.
Dù phải nhìn ba nhiệm vụ ấy một cách thống nhất, ta cũng cần phải nắm bắt ý hướng của Công Đồng: khi nói tới ba nhiệm vụ ấy (tria munera) của người giám mục và linh mục, Công Đồng muốn đặt việc giảng dạy trên hai việc kia. Qua đó, Vatican II muốn lấy lại cách tuyệt vời thứ tự trong câu nói của Chúa Phục Sinh với các môn đệ: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28,19-20). Nhìn vào sự ưu tiên dành cho công việc rao giảng Tin Mừng, cũng là nét đặc biệt của khoa Giáo Hội học trong Công Đồng, mỗi giám mục có thể khám phá lại ý nghĩa của việc làm cha thiêng liêng mà thánh Phaolô đã giải thích: "Cho dầu anh em có ngàn vạn giám thị trong Đức Kitô, anh em cũng không có nhiều cha đâu, bởi vĩ trong Đức Kitô Giêsu, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em" (1Cr 4,15).
1. GIÁM MỤC ĐƯỢC SAI ĐI GIẢNG DẠY

Nhiệm vụ xác định danh tánh người giám mục rõ hơn bất cứ nhiệm vụ nào và tóm tắt toàn bộ tác vụ của người giám mục một cách nào đó chính là làm người đại diện và sứ giả của Đức Kitô tại Giáo Hội địa phương đã được giao cho mình.[5] Thế mà, nhiệm vụ mang tính bí tích này hay nhiệm vụ làm biểu hiện sống động của Đức Kitô ấy, các giám mục sẽ thể hiện chính khi thi hành tác vụ Lời Chúa. Khi làm tác viên Lời Chúa dựa vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần và đoàn sủng là ơn phục vụ của người giám mục, ngài sẽ bày tỏ Đức Kitô cho thế giới, làm cho Người hiện diện trong cộng đoàn và thông ban Người cho tất cả những ai sẵn sàng dành cho Người một chỗ trong cuộc đời mình.
Như vậy, loan báo Tin Mừng là một bổn phận đứng đầu trong các bổn phận của các giám mục, vì các ngài là "những phát ngôn viên đức tin(...) những vị tiến sĩ chính hiệu, được ban cho quyền năng của chính Đức Kitô, để giảng dạy cho những người được giao cho các ngài chăm sóc những chân lý đức tin để họ tin và áp dụng vào đời sống".[6] Từ đó, ta có thể nói, tất cả mọi hoạt động của giám mục đều phải nhắm mục đích là làm sao công bố Tin Mừng, "là sức mạnh của Chúa dành cho bất cứ ai biết tin" (Rm 1,16), hay là làm sao hướng dẫn và giúp đỡ dân Chúa biết tỏ thái độ vâng phục của đức tin (x. Rm 1,5) đối với Lời Chúa và biết đón nhận toàn vẹn giáo huấn của Đức Kitô.
Thế nhưng, nói giám mục là "thầy dạy đức tin" ("magister fidei") và "tiến sĩ chân lý" ("doctor veritatis") như thế không có nghĩa: qua dấu chỉ ngài là chủ nhân của sự thật. Qua dấu chỉ đặt sách Phúc Âm lên trên đầu người giám mục trong lúc đọc lời nguyện truyền chức, ta có thể suy ra rằng giám mục phải là người phục vụ sự thật. Chính vì thế, thay vì lèo lái và công bố sự thật thế nào tuỳ thích, ngài phải truyền đạt nó một cách hết sức trung thành và phải giới thiệu cho mọi người, khi thuận lợi cũng như khi bất lợi, không cưỡng ép, nhưng, với lòng khiêm tốn, can đảm và bền chí, luôn đặt hy vọng vào Lời Chúa (x. Tv 119, 114).
Nội dung quyền Giáo Huấn của các giám mục đã được Công Đồng Vatican II trình bày rất sáng sủa khi nhất trí đồng hoá nó với đức tin phải tin và phải thực hành trong đời sống.[7] Vì trung tâm điểm sống động của việc rao giảng là chính Đức Kitô chịu đóng đinh và sống lại, nên Người chính là đối tượng mà các giám mục phải loan báo: Đức Kitô, đấng cứu tinh duy nhất của loài người, Đức Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một (x. Dt 13,8), là trung tâm điểm của lịch sử và của toàn bộ đời sống người tín hữu.
Từ trung tâm điểm này, tức là từ mầu nhiệm của Đức Kitô, Con đời đời của Chúa Cha đã nhờ Thánh Thần nhập thể nơi Đức Trinh Nữ Maria, đã chết và đã sống lại để cứu độ chúng ta, mà rút ra mọi chân lý đức tin khác, cũng như phát ra niềm hy vọng cho mỗi một người. Đức Kitô là ánh sáng soi chiếu mọi người và tất cả những ai đã được tái sinh trong Người đều sẽ nhận được những hoa quả đầu mùa của Chúa Thánh Thần, giúp họ có khả năng thi hành luật mới của tình yêu.[8]
Nói tới công việc loan báo đức tin trung thành gìn giữ kho tàng đức tin, mà các giám mục thi hành trong sự liên kết với Đức Thánh Cha và các anh em giám mục khác, là nói tới bổn phận bảo vệ Lời Chúa, bằng những phương cách thích hợp nhất, khỏi bất cứ điều gì có thể làm cho Lời Chúa mất đi sự nguyên tuyền và trọn vẹn, dù vẫn nhìn nhận sự tự do chính đáng trong công việc đào sâu đức tin.[9]
Không giám mục nào được thiếu sót trong bổn phận này, dù phải trả giá bằng những hy sinh và hiểu lầm. Như thánh tông đồ Phaolô, người giám mục cũng ý thức rằng mình được sai đi để công bố Tin Mừng "không phải bằng miệng lưỡi khôn ngoan, kẻo vì thế mà thập giá Đức Kitô bị hoá thành hư vô" (1Cr 1,17). Như thánh Phaolô, người giám mục cũng loan báo "tiếng nói của Thánh Giá" (1Cr 1,18), không phải như một kết quả đồng tình của nhân loại, mà như một sự mặc khải của Thiên Chúa. Giám mục phải quan tâm tới sự hiệp nhất trong đức ái không thua kém sự hiệp nhất trong sự thật. Thật vậy, Tin Mừng mà ngài được đặt làm thừa tác viên để phục vụ là ngôn ngữ của chân lý.
Giám mục phải thi hành công việc bênh vực Lời Chúa với một tinh thần thực tế thật điềm tĩnh, không phóng đại cũng chẳng giảm thiểu những sai lầm và lệch lạc, mà với trách nhiệm mục tử ngài có bổn phận phải nhận ra, cũng chẳng ngạc nhiên khi nhận ra trong thế hệ hôm nay của Giáo Hội, cũng như trong quá khứ, không phải chỉ có tội lỗi mà có thể nói, còn có sai lầm và lệch lạc nữa. Điều sắp nói sau đây vẫn luôn còn giá trị: chuyên cần lắng nghe và học hỏi Lời Chúa, cũng như bảo vệ kho tàng mặc khải và giữ gìn đức tin cho nguyên vẹn và thuần khiết, đó là những kiểu nói đồng nghĩa với nhau diễn tả đức ái của người mục tử.[10]
Là thầy dạy đức tin, giám mục cũng là nhà giáo dục đức tin dựa vào Lời Chúa và Huấn quyền của Giáo Hội. Việc tham gia giáo dục đức tin gắn liền với việc nuôi dưỡng đức tin của dân Chúa qua công tác huấn giáo đích thực. Đó chính là thời điểm then chốt của toàn bộ công việc phúc âm hoá, xứng đáng được sự quan tâm của các giám mục, vừa là các mục tử và thầy dạy, vừa là các "giảng viên giáo lý đúng nghĩa nhất". Chính vì những tư cách ấy mà các giám mục sẽ cộng tác với Chúa Thánh Thần đào tạo một dân có khả năng truyền bá Tin Mừng và giảng dạy giáo lý, vừa nhiệt tình vừa năng nổ do đã tuyên xưng đức tin một cách trung thành và đã sống đức tin một cách hân hoan.
Giám mục phục vụ Lời Chúa dưới các hình thức vừa nhiều vừa đa dạng, về vấn đề này, bản Kim chỉ nam Ecclesiae imago đã lưu ý hình thức đặc biệt nhất để giảng dạy cho những cộng đoàn đã được nghe Tin Mừng là "giảng lễ", phải là hình thức vượt trội mọi hình thức khác do nội dung phụng vụ của nó cũng như do nó được móc nối với việc công bố Lời Chúa bằng cách đọc Thánh Kinh. Một hình thức khác để rao giảng Lời Chúa là các thư mục vụ của các giám mục.[11] Mỗi giám mục phải tự xét lại các văn kiện mà mình dùng để thi hành bổn phận giảng dạy.
Khi rao giảng Lời Chúa, giám mục phải cảm thấy và phải tỏ ra mình đang dấn thân vào con đường đối thoại đại kết, mà Công Đồng Vatican II đã mở ra để đẩy mạnh hơn cuộc đối thoại này, nhằm tái tạo lại sự hiệp nhất hưu hình của các Kitô hữu.
Giám mục là người đầu tiên phải rao giảng Tin Mừng theo chiều hướng chú ý giới thiệu mầu nhiệm hiệp nhất của Giáo Hội, theo đúng những nguyên tắc Công Giáo về đại kết như đã được vạch ra trong sắc Lệnh Công Đồng Unitatis redintegratio và đã được Đức Gioan Phaolô II xác nhận trong Tông thư Ut unum sint.
Đoàn sủng làm thầy mà các giám mục đảm trách chỉ có một, nên không thể uỷ lại cho ai. Thế nhưng, giám mục không hề bị cô lập trong Giáo Hội. Mỗi giám mục đều thi hành công tác mục vụ này trong một Giáo Hội nhất định. Tại đó, các ngài có các linh mục, kết hợp chặt chẽ với tác vụ của các ngài và đặt mình dưới quyền của các ngài, làm cộng sự viên trước hết, rồi tới các phó tế. Các ngài cũng tìm được sự giúp đỡ rất có giá trị của các nam nữ tu sĩ và số giáo dân ngày càng đông cộng tác bằng cách loan báo và thi hành Lời Chúa.
Nhờ các giám mục, đức tin Công Giáo được truyền đạt cho các bậc cha mẹ, rồi đến lượt mình, họ truyền lại cho con cái. Cũng nhờ các giám mục, các người giảng dạy và các nhà giáo dục thuộc mọi trình độ mới nhận được sự xác nhận cho đức tin của họ. Tất cả các giáo dân đều chứng tỏ đức tin của họ rất nguyên tuyền, một sự nguyên tuyền mà các giám mục đang ra sức giữ gìn. Mỗi giám mục cần phải luôn luôn tỏ ra mình không bao giờ thiếu sự nâng đỡ giáo dân, cũng như thông qua các trung tâm thích hợp, cung cấp cho giáo dân những phương tiện cần thiết để họ được đào tạo một cách thích đáng và thường xuyên.

Muốn thực hiện công việc rao giảng này, thật là hết sức hữu ích khi được sự cộng tác của các nhà thần học, những người theo phương pháp riêng của mình cố gắng đào sâu mầu nhiệm phong phú vô tận của Đức Kitô. Mặc dù mang những chức năng khác nhau, huấn quyền của các vị mục tử cũng như công tác của các nhà thần học đều phải lệ thuộc một mình Lời Chúa thôi, và đều cùng theo đuổi một mục tiêu là gìn giữ dân Chúa trong chân lý vốn có sức giải thoát chúng ta. Từ đó, cũng nảy sinh ra tương quan giữa huấn quyền và thần học: các giám mục có nhiệm vụ phải khuyến khích và nâng đỡ các nhà thần học tiến hành các hoạt động của họ, nhưng vẫn trung thành với truyền thống và đồng thời quan tâm tới các sự việc cấp bách trong lịch sử.[12]
Khi đối thoại với mọi tín hữu của mình, các giám mục sẽ tập nhìn nhận đức tin của họ, tiếp nhận các trực giác của họ, củng cố đức tin của họ, giải gỡ đức tin ấy khỏi mọi thứ thêm thắt hời hợt và cho nó có một nội dung giáo lý thích hợp. Trong mục tiêu ấy, nếu muốn soạn thảo các sách giáo lý địa phương phù hợp với các hoàn cảnh và nền văn hoá khác nhau, ta sẽ lấy sách giáo lý của Hội Thánh Công giáo làm điểm tham chiếu giúp tạo sự thống nhất trong đức tin và sự trung thành với giáo lý Công giáo.[13]
Giám mục được kêu gọi công bố ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô, nên qua việc công bố ấy, ngài phải trở thành dấu hiệu của sự chắc chắn trong đức tin giữa lòng dân Chúa. Cũng như Giáo Hội, nếu ngài không có sẵn giải pháp nào để giải quyết các vấn đề của con người, ít ra ngài vẫn là thừa tác viên giới thiệu một chân lý có sức soi sáng đường đi nước bước của con người.[14] Tuy không có kiến thức chuyên môn trong việc thăng tiến trật tự trần thế, nhưng khi thi hành tác vụ và dạy dỗ những con người và những cộng đoàn sống đức tin, các giám mục cũng đã góp phần chuẩn bị người giáo dân, để một khi được biến đổi trong tâm hồn, các giáo dân sẽ thay đổi thế giới bằng những giải pháp mà họ có bổn phận phải đưa ra, phù hợp với khả năng chuyên môn của mình.
Làm cho thế giới thấy được sức mạnh của Lời cứu độ, đó chính là hành vi bác ái mục tử cao cả mà người giám mục có thể cống hiến cho loài người. Theo gương của vị Mục Tử tốt lành mà mình có bổn phận phải giới thiệu bằng chính con người của mình, bận tâm của người giám mục sẽ là làm sao cho Lời Chúa đến với mọi tín hữu, kể cả những người đã từ bỏ đức tin Kitô giáo, trên lý thuyết hay trong thực tế. Đó là lý do trên hết khiến ngài được kêu gọi làm giám mục và được sai đến với một bộ phận dân Chúa, vì Lời Chúa mạnh đến nỗi có thể tạo ra nơi các tín hữu chứng cứ mạnh mẽ nhất cho phép họ nuôi hy vọng.
2. GIÁM MỤC ĐƯỢC SAI ĐI ĐỂ THÁNH HÓA

Khi dân Chúa được tụ tập lại trong Giáo Hội, nghĩa là quy tụ thành một cuộc tập hợp thánh thiện (Ekklesia), ta đã thấy Lời Chúa được công bố. Nhưng Lời Chúa chỉ đạt được đúng tầm vóc của nó trong Bí Tích. Thật vậy, Lời Chúa và Bí Tích là một thực thể thống nhất, cái này không thể tách rời cái kia, mà chỉ là hai bộ mặt hay hai giai đoạn của một công trình cứu độ. Cả hai đều giúp ta thấy được trong hiện tại này, một cách sống động, ơn cứu độ do Đức Kitô thực hiện, cũng như thầy được ơn cứu độ ấy với tất cả hiệu năng của nó. Chính Đức Kitô, Ngôi Lời Vĩnh Cửu đã nhập thể, là nguồn gốc tạo ra sự liên kết mật thiết giữa Lời Chúa và Bí Tích; ta thấy dây liên kết này tạo nên sự hoà hợp và bổ túc cho cả hai bên được biểu lộ trong cuộc sống con người, như giữa lời nói với việc làm vậy. Điều này đúng cho hết mọi bí tích, nhưng một cách đặc biệt và ưu việt là với bí tích Thánh Thể, nguồn gốc và đỉnh cao của toàn bộ công cuộc phúc âm hoá.[15]
Từ sự kiện Lời Chúa và bí tích hiệp nhất với nhau như thế, các Tông Đồ được Đấng Phục Sinh sai đi để làm cho muôn dân trở thành môn đệ và rửa tội cho họ thế nào (x. Mt 28,19), thì mỗi giám mục, kế vị các Tông Đồ, do bí tích truyền chức đã nhận được một cách sung mãn, cũng tiếp nhận sứ mạng "làm người quản lý ơn tư tế tối cao", bên cạnh sứ mạng rao giảng Tin Mừng.[16] Thật vậy, công tác loan báo Tin Mừng "có mục đích là để phục vụ cho công tác ban phát các ơn bí tích của Giáo Hội. Là thừa tác viên của ơn thánh, khi cử hành các bí tích, người giám mục chu toàn nhiệm vụ thánh hoá (“munus sanctificandi”) mà ngài luôn nhắm tới khi giảng dạy (“munus docendi”) giữa đoàn dân Chúa đã giao cho ngài”.[17]
Nhiệm vụ thánh hoá này nằm trong chính sứ mạng của giám mục. Chính vì thế, khi liên tưởng tới các bí tích (có bí tích dành để hoàn thiện các cá nhân, có bí tích dành để hoàn thiện tập thể), thánh Tôma Aquinô đã gọi giám mục là người giúp hoàn thiện người khác (“perfector”).[18] Thật vậy, trong Giáo Hội địa phương của mình, giám mục là người chính yếu ban phát các mầu nhiệm của Chúa: trước hết là bí tích Thánh Thể, trung tâm của công tác bí tích mà người giám mục phải thi hành. Khi chủ sự bí tích Thánh Thể, giám mục sẽ được toàn dân coi là người của nền tế tự mới mẻ và vĩnh cửu dâng lên Thiên Chúa, nền tế tự đã được Đức Giêsu Kitô thiết lập qua hy tế của Người trên thập giá. Sau đó, ngài ban phát bí tích Thánh Tẩy, nhờ đó, các tín hữu được tham dự vào chức tư tế vương đế của Đức Kitô. Giám mục còn là người thường xuyên ban phát bí tích Thêm Sức, ban phát bí tích Truyền Chức và thi hành kỷ luật sám hối.[19]
Công Đồng Vatican II cũng nhắc lại rằng các giám mục là những người giúp hoàn thiện người khác, nhưng Công Đồng không chỉ giới hạn vai trò này cho tác vụ cử hành bí tích, mà mở rộng ra cho hết toàn bộ sứ mạng của người giám mục. Bởi vì do đức ái mục tử, các giám mục đã trở nên những dấu chỉ sống động của sự thánh thiện; thế mà sự thánh thiện này chính là điều kiện ta chuẩn bị đón nhận Tin Mừng. Thế nên, Công Đồng yêu cầu các giám mục phải làm sao giúp mọi tín hữu tiến bộ trên con đường nên thánh tuỳ theo ơn gọi riêng của mỗi người, bằng cách chính các giám mục nêu gương trước tiên về sự thánh thiện trong đức ái, trong đức khiêm nhường và trong việc sống đơn sơ giản dị, cũng như các giám mục phải là những ngươi đầu tiên lo thánh hoá "các Giáo Hội đã được giao phó cho mình, để nơi các Giáo Hội ấy, ta thấy rõ ràng những tâm tình của Giáo Hội Đức Kitô trên hoàn cầu".[20]
Giám mục chính là vị thượng tế của Giáo Hội địa phương, nhất là khi ngài chủ sự Tiệc Thánh Thể.[21] Tại đó, khi giây phút cao cả nhất của đời sống Giáo Hội diễn ra thì đó cũng là lúc nhiệm vụ thánh hoá mà người giám mục thi hành thay mặt Đức Kitô Thượng Tế đời đời lên tới cao điểm. Chính vì bí tích Thánh Thể là trung tâm công tác bí tích của người giám mục và chính vì khi chủ sự việc cử hành Thánh Thể, người giám mục đã thể hiện rõ nhất vai trò thừa tác viên của một nền phụng tự mới mẻ và vĩnh cửu, nên giám mục sẽ ưa thích cử hành các mầu nhiệm thánh ấy với các tín hữu của mình một cách hết sức thường xuyên và dù có phải làm việc ấy ở những nơi khác trong giáo phận, ngài cũng sẽ đặc biệt ưa thích cử hành Thánh Thể ngay tại nhà thờ chính toà của mình.
Thật vậy, nhà thờ chính toà, nơi có đặt Ngai Giám Mục, trên đó, giám mục sẽ ngồi dạy dỗ dân chúng bằng việc giảng dạy Lời Chúa một cách nghiêm túc, chính là nhà thờ mẹ và là trung tâm điểm của giáo phận. Nhà thờ chính toà ấy, dưới sự cai quản của giám mục, sẽ được các nhà thờ địa phương coi là dấu chỉ của sự hiệp nhất, của sức sống siêu nhiên và của việc họ tham gia vào Giáo Hội Công giáo duy nhất, nhất là khi cử hành Thánh Thể.
Một trong các bổn phận chính yếu của giám mục là lo sao cho tín hữu có điều kiện tham dự bàn tiệc của Chúa tại các cộng đoàn của Giáo Hội mình, nhất là vào ngày chủ nhật, ngày Giáo Hội cử hành mầu nhiệm Vượt Qua và là ngày các tín hữu tạ ơn Chúa trong niềm hân hoan vui vẻ và trong sự nghỉ ngơi, vì Chúa "đã tái sinh họ nhờ Đức Giêsu Kitô đã sống lại từ cõi chết để họ theo đuổi một niềm hy vọng thật sống động" (1Pr 1,3).[22]
Tại nhiều miền, không những ở các Giáo Hội mới thành lập và còn non trẻ, mà ngay cả ở các vùng có truyền thống Kitô giáo lâu đời, do thiếu linh mục hay vì những lý do nghiêm trọng khác mà càng ngày càng khó bảo đảm có cử hành Thánh Thể. Sự việc ấy càng làm tăng bổn phận của người giám mục, bổn phận trở thành "người quản lý ơn sủng", bằng cách luôn theo dõi để nhận ra các nhu cầu thật, mức nghiêm trọng của các tình huống, bằng cách khôn khéo phân phối các linh mục, sao cho cả trong những trường hợp khẩn cấp, các tín hữu không bị thiếu thốn bí tích Thánh Thể quá lâu. Đây cũng là trường hợp của các tín hữu do bệnh tật, tuổi già và vì những lý do hợp tình hợp lý khác, chỉ có thể tiếp nhận bí tích Thánh Thể tại nhà hay tại nơi họ sinh sống.
Phụng vụ là hình thức quý nhất để ca ngợi Thiên Chúa Ba Ngôi. Qua phụng vụ, và cách riêng, qua việc cử hành các bí tích, dân Chúa tụ tập lại có thể diễn tả và thực hiện bản chất thánh thiện và sống động của mình là làm một cộng đoàn tư tế.[23] Khi thi hành nhiệm vụ thánh hoá, giám mục cũng hành động sao cho toàn thể Giáo Hội địa phương của mình trở thành một cộng đoàn những người cầu nguyện, một cộng đoàn các tín hữu kiên trì và hiệp nhất với nhau trong việc cầu nguyện (x. Cv 1,14).
Một khi chính mình là người đầu tiên đã được thấm nhuần tinh thần và sức mạnh của Phụng Vụ, cùng với linh mục đoàn của mình, giám mục sẽ quan tâm cổ võ và đẩy mạnh trong giáo phận mình một chương trình giáo dục sâu đậm, nhằm phát hiện ra trong Phụng Vụ những kho tàng phong phú, khi được cử hành theo những bản văn đã được phê chuẩn và khi được mọi người thực hành trước tiên như một biến cố thiêng liêng. Với tư cách là người chịu trách nhiệm về việc phụng tự trong Giáo Hội địa phương của mình, khi điều khiển và bảo vệ đời sống phụng vụ của giáo phận, trong sự phối hợp nhịp nhàng với các giám mục của Hội Đồng Giám Mục và trong sự trung thành với đức tin chung, giám mục sẽ nâng đỡ những nỗ lực làm cho phụng vụ được ăn sâu trong các nền văn hoá theo những yêu cầu của lịch sử và địa dư, bằng cách phân biệt những gì là bất di dịch trong phụng vụ vì do Chúa thiết lập, và những gì có thể thay đổi.[24]
Cũng trong bối cảnh tương tự như thế, giám mục chú ý tới các hình thức đạo đức bình dân của Kitô giáo và tương quan giữa chúng với đời sống phụng vụ. Vì chúng diễn tả thái độ tôn giáo của con người, nên không thể bỏ qua, lãnh đạm hay khinh thị lòng đạo đức bình dân ấy vì, như Đức Phaolô VI đã ghi nhận, chúng rất có nhiều giá trị.[25] Tuy nhiên, chúng luôn luôn cần được phúc âm hoá, để lòng tin mà các hình thức đạo đức bình dân ấy diễn tả ngày càng trở nên chín chắn hơn. Một chương trình mục vụ về phụng vụ đúng đắn, có nền tảng Kinh Thánh, sẽ biết khai thác các kho tàng phong phú của lòng đạo đức bình dân, thanh lọc lại và hướng chúng tới phụng vụ, coi đó như những lễ vật của các dân tộc.[26]
Dù mang nhiều hình thức khác nhau, cầu nguyện vẫn là nơi diễn tả niềm hy vọng của Giáo Hội. Mỗi lời cầu của Hiền Thê Đức Kitô, khao khát được kết hợp trọn vẹn với Hôn Phu của mình, đều được tóm tắt trong lời thỉnh nguyện sau đây, do chính Chúa Thánh Thần khơi gợi: "Xin hãy đến" (Kh 22,17).[27] Chúa Thánh Thần thốt lên lời này cùng với Giáo Hội và trong Giáo Hội. Đó là lời cầu nguyện diễn tả niềm hy vọng cánh chung, niềm hy vọng vào sự hoàn thành chung cuộc nơi Thiên Chúa, niềm hy vọng vào Nước Trời vĩnh cửu, được thực hiện bằng cách cho tham dự vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Thánh Thần được ban cho làm Đấng an ủi các tông đồ, sẽ chính là người đóng vai trò giữ gìn và làm linh hoạt niềm hy vọng ấy trong lòng Giáo Hội. "Nhìn tới ngàn năm thứ ba sau Đức Kitô", Thánh Thần và Hiền Thê Chúa Giêsu sẽ cùng nhau thưa lên với Chúa Giêsu: “Xin hãy đến”. Như xưa nay, lời cầu nguyện này vẫn luôn luôn mang tầm vóc cánh chung, có mục đích làm cho việc cử hành năm Đại Xá 2000 được trọn vẹn ý nghĩa. Đó là một lời cầu nguyện hướng tới ơn cứu độ sắp đến, mà Thánh Thần đang mở rộng các tâm hồn con người đón lấy qua những gì Người đã làm suốt dòng lịch sử của nhân loại trên trần gian này.[28]
Ý thức được tất cả những điều đó, các giám mục sẽ cam kết mỗi ngày thông ban cho các tín hữu một cách sung mãn sự sống trong Đức Kitô, bằng đời sống chứng tá của mình, bằng lời nói, sự cầu nguyện và các bí tích.
3. GIÁM MỤC ĐƯỢC SAI ĐI ĐỂ QUẢN TRỊ VÀ HƯỚNG DẪN DÂN CHÚA

Vai trò thừa tác viên của giám mục được bổ sung thêm bằng bổn phận hướng dẫn phần dân Chúa đã được giao phó cho mình. Truyền Thống Giáo Hội luôn luôn đồng hoá công việc này với công việc của hai khuôn mặt, mà Đức Giêsu đã tự gán cho mình, đó là làm Mục Tử Tốt Lành và làm Tôi Tớ như các sách Tin Mừng đã chứng tỏ. Thế nên, Công Đồng đã mô tả bổn phận riêng của các giám mục, tức là quản trị các tín hữu như sau: "Các giám mục quản trị các Giáo Hội địa phương đã được giao cho mình, trong tư cách là những người đại diện và đại sứ của Đức Kitô; các ngài làm việc này bằng những ý kiến, những lời thuyết phục, những gương sáng, và cả bằng những quyết định có thẩm quyền và bằng quyền thánh chức. Tuy nhiên, các ngài chỉ sử dụng quyền này để nâng đoàn chiên lên trong đường chân lý và thánh thiện, vì nhớ rằng ai làm lớn thì phải làm người nhỏ nhất và ai làm thủ lãnh thì phải làm tôi tớ" (x. Lc 22,26-27).[29]
Đức Gioan Phaolô II giải thích: "Chúng ta phải nhấn mạnh tới khái niệm phục vụ, có giá trị cho bất cứ thừa tác vụ nào trong Giáo Hội, bắt đầu bằng thừa tác vụ của các giám mục. Phải, làm giám mục chính là một sự phục vụ hơn là một vinh dự. Mà nếu có là vinh dự thì chỉ khi nào các giám mục, người kế vị các Tông Đồ, phục vụ trong tinh thần khiêm tốn của Tin Mừng, theo gương Con Người (...) Phải hiểu quyền bính mà giám mục có một cách đặc biệt, dù phải lệ thuộc quyền bính của Đức Giáo Hoàng, như một sự phục vụ trong tư cách của những người mục tử tốt lành"[30] Chính vì thế, hoàn toàn hợp lý khi bộ Giáo Luật gọi bổn phận ấy là nhiệm vụ mục tử ("munus pastoris") và nói thêm đó là một nhiệm vụ sẽ được thi hành với sự quan tâm lo lắng ("sollicitudo").[31]
Vả lại, đó chẳng qua chỉ là đức ái mục tử ("caritas pastoralis"). Với nhân đức này, ta sẽ noi gương Đức Kitô, vị Mục Tử "tốt lành" vì đã hiến dâng mạng sống mình. Nhân đức này được thể hiện không những khi ta thi hành các công việc của thừa tác vụ, mà nhiều hơn khi ta hiến dâng thân mình, để chứng tỏ tình yêu của Đức Kitô đối với đàn chiên của Người.
Một trong các cách biểu hiện đức ái mục tử là thông cảm, theo gương Đức Kitô, vị Thượng Tế có khả năng thông cảm nỗi yếu đuối của con người vì chính Ngài đã từng bị thử thách mọi bề như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi (x. Dt 4,15). Tuy nhiên, không thể tách rời sự thông cảm mà giám mục coi là dấu chỉ sự thông cảm của Đức Kitô với vai trò làm dấu chỉ nói lên sự thật của Đức Kitô. Thật vậy, một cách biểu hiện khác của đức ái mục tử là dám chịu trách nhiệm trước mặt Chúa và Giáo Hội. Trong khi quản trị giáo phận, giám mục cũng phải chú ý làm sao cho giáo luật của Giáo Hội được mọi người công nhận; và mục tiêu của giáo luật là ích lợi của con người và của cộng đoàn Giáo Hội.[32]
Đức ái mục tử sẽ khiến các giám mục biết lo lắng phục vụ công ích của giáo phận mình. Công ích này lệ thuộc ích chung của toàn thể Giáo Hội và là điều mà các cộng đoàn nhỏ của giáo phận phải phục vụ. Về vấn đề này, Kim chỉ nam "Ecclesiae imago” đã nêu ra các nguyên tắc căn bản hướng dẫn sự hiệp nhất, sự cộng tác một cách có trách nhiệm và sự phối hợp.[33]
Nhờ đức ái mục tử, là nguyên lý nội tại thống nhất toàn bộ hoạt động của thừa tác viên, mà ta mới "có thể thực hiện một đòi hỏi cơ bản và thường xuyên là thống nhất đời sống nội tâm với vô số các hành động và trách nhiệm của thừa tác viên. Đòi hỏi này càng cấp thiết hơn bao giờ hết, khi sống trong một bối cảnh văn hoá xã hội và Giáo Hội mang đậm nét phức tạp, xé mảnh và phân tán như hiện nay".[34] Đức ái mục tử sẽ phải xác định những cách suy tư và hành động cho người giám mục, cũng như những quan hệ của ngài với những người mà ngài gặp gỡ.
Bởi vậy, đức ái mục tử sẽ đòi các giám mục phải có những phong cách và những hình thức sống thế nào giúp các ngài noi gương Đức Kitô khó nghèo và khiêm tôn để gần gũi với hết mọi thành phần trong đoàn chiên, từ người cao cả nhất tới người thấp hèn nhất, sẵn sàng chia vui sẻ buồn với họ không những trong tư tưởng và kinh nguyện mà còn thật sự gắn bó với họ, để nhờ sự có mặt và phục vụ của các giám mục, những vị dám đến gần họ mà không xấu hổ, cũng không làm họ thẹn thùng, họ có thể cảm nghiệm được thế nào là tình thương của Thiên Chúa dành cho con người.[35]
Truyền thống Giáo Hội đã nêu ra nhiều hình thức đặc biệt để giám mục thi hành tác vụ mục tử tại Giáo Hội địa phương. Chúng ta sẽ chỉ nhắc lại hai hình thức: một mang hình thức dấn thân cá nhân và một, trái lại, mang hình thức tập thể.
Việc kinh lược mục vụ của giám mục không phải chỉ là một định chế mang tính pháp lý, do luật Giáo Hội yêu cầu giám mục thi hành, cũng không phải là một hình thức điều tra.[36] Trong khi kinh lược, giám mục sẽ xuất hiện như một nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hiệp nhất trong Giáo Hội địa phương; cuộc kinh lược của giám mục sẽ diễn tả lại "cuộc viếng thăm duy nhất và vô cùng tuyệt diệu mà vị Thủ Lãnh các mục tử (1Pr 5,4) hay vị Giám Mục của linh hồn chúng ta (x. 1Pr 2,25), tức là Đức Kitô Giêsu đã làm cho nhân loại khi đến cứu chuộc dân Người” (x. Lc 1,68).[37] Ngoài ra, trước khi là một lãnh thổ, giáo phận chính là một phần dân Chúa được giao cho mỗi vị giám mục coi sóc. Thế nên, Kim chỉ nam "Ecclesiae imago" đã viết rất chí lý rằng trong cuộc kinh lược mục vụ ấy, giám mục phải dành ưu tiên cho con người. Để có thể phục vụ những con người tại chỗ tốt đẹp hơn, giám mục nên uỷ thác cho những người khác công việc xem xét các vấn đề mang tính hành chánh nhiều hơn.
Việc tổ chức Hội Đồng giáo phận, đã được Bộ Giáo Luật xác định khá rõ ràng về mặt tổ chức,[38] chắc hẳn phải chiếm một vị trí quan trọng trong số các công tác mục vụ của giám mục. Thật vậy, Hội Đồng giáo phận là tổ chức trước hết được chính Luật Giáo ấn định, và qua đó, đời sống của một Giáo Hội địa phương được thể hiện và phát triển. Cũng giống với các tổ chức "tham chính", cơ cấu của Hội Đồng sẽ đáp ứng các đòi hỏi căn bản về Giáo Hội học và sẽ diễn tả một cách cơ chế các thực tại thần học như sự cộng tác cần thiết của linh mục đoàn với giám mục, sự tham gia của mọi người đã chịu phép rửa vào nghĩa vụ ngôn sứ của Đức Kitô, bổn phận của các mục tử là nhìn nhận và thăng tiến phẩm giá các giáo dân, bằng cách sẵn sàng lắng nghe những ý kiến khôn ngoan của họ.[39] Trong thực tế, Hội Đồng giáo phận được lồng vào một khuôn khổ rộng lớn hơn là mọi Kitô hữu trong giáo phận đều có trách nhiệm kết hợp với giám mục đem lại ích lợi cho giáo phận và, xét theo cách kết cấu Hội Đồng giáo phận như bộ Giáo Luật hiện hành đã quy định, Hội Đồng giáo phận đúng là nơi ưu tiên thể hiện sự hiệp thông trong một Giáo Hội địa phương. Sau cùng, trong Hội Đồng ấy, người ta cần lắng nghe những gì Chúa Thánh Thần sẽ nói với Giáo Hội địa phương này, bằng cách cố gắng gìn giữ một niềm tin vững chắc, trung thành với Chúa trong tinh thần hiệp thông, mở lòng nghĩ đến sứ mạng, sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu tâm linh của thế giới và luôn tràn trề hy vọng dù đứng trước những thách đố của thế giới.
Do trách nhiệm mục vụ của mình, giám mục chính là người chủ sự và thừa hành các công cuộc bác ái trong Giáo Hội địa phương của mình. Khi dùng Lời Chúa và bí tích Thánh Thể xây dựng Giáo Hội, giám mục cũng mở ra cho Giáo Hội ấy những con đường đặc biệt mà người ta không thể nào khước từ bước vào, để sống và làm chứng cho Tin Mừng bác ái. Ngay trong Giáo Hội thời Các Tông Đồ, Nhóm Mười Hai đã chọn "bảy người có tiếng tốt, đầy ơn Thánh Thần và khôn ngoan" để giao cho "công tác phục vụ bàn ăn" (x. Cv 6,2-3). Chính thánh Phaolô cũng đã chọn việc lo lắng cho người nghèo làm tâm điểm việc tông đồ của mình, coi đó như một dấu chỉ căn bản nói lên sự hiệp thông giữa các Kitô hữu. Ngày nay cũng vậy, giám mục được mời gọi hãy đích thân đảm nhận lấy công việc bác ái và tổ chức công việc ấy trong giáo phận của mình, bên trong những cơ chế thích hợp.
Bằng cách đó, ngài làm chứng rằng những buồn lo của con người, nhất là của những người nghèo và những người đau khổ, cũng là những nỗi đau dày vò các môn đệ Đức Kitô.[40] Chắc chắn, có rất nhiều hình thức nghèo khổ; bên cạnh những hình thức cũ lại có thêm những hình thức mới. Trước tình hình đó, giám mục sẽ luôn ở hàng đầu trong việc tìm ra những hình thức tông đồ và bác ái mới để đáp ứng những hình thức nghèo khổ mới. Phục vụ, cổ võ, dạy dỗ người khác biết dấn thân để liên đới và gần gũi với con người, bằng cách mỗi ngày sống lại theo câu chuyện người Samari cũ xưa kia, tự chúng đã là một tín hiệu hy vọng cho thế giới hôm nay.

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 1 (Tháng 12 năm 1998)

 
[1] "Lumen gentium", 19.
[2] Xem như trên, 23.
[3] Xem như trên, 21.
[4] "Ecclesiae imago”, kết luận.
[5] Xem "Lumen gentium", 27.
[6] Xem như trên, 25 ; xem "Christus Dominus", 12-14 ; "Ecclesiae imago", 55-56.
[7] Xem GL 386.
[8] Xem "Gaudium et spes", 22.
[9] Xem GL 386 @ 2.
[10] Xem Đức Gioan Phaolô II, Huấn từ với các giám mục Hoa Kỳ nhân dịp viếng thăm ad limina (22-10-1983), 4-5 : AAS 76 (1984) 380-381.
[11] Xem "Ecclesiae imago", 59-60.
[12] Xem Thánh Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị "Donum veritatis” về ơn gọi của nhà thần học trong Giáo Hội (24-5-1990), 21 : AAS 82 (1990) 1559.
[13] Xem Đức Gioan Phaolô II, Tông hiến "Fidei depositum" (11- 10-1992), 4 : AAS 86 (1994) 113-118.
[14] Xem "Gaudium et spes", 33.
[15] Xem "Presbyterorum ordinis", 5.
[16] "Lumen gentium", 26.
[17] Đức Gioan Phaolô II, Bài giáo lý ngày 11-11-1992, 1 : L'Osservatore Romano, bản pháp ngữ, số 46, 17-11-1992, tr. 12.
[18] Xem thánh Tôma Aquinô, "Summa Theoligica” III, q. 65, a. 2, II-II, q. 185, a. 1.
[19] Xem "Lumen gentium", 26.
[20] "Christus Dominus", 15 ; GL 387.
[21] Xem thánh Ignatiô Antiokhia, "Ạd magn." 7 : FUNK F., "Opera Patrum Apostolicorum", quyển I, Tubingae 1897, tr.194-196 ; "Sacrosanctum concilium", 41 ; "Lumen gentium", 26 ; "Unitatis redintegratio", 15.
[22] Xem "Saprosanctum concilium”, 106.
[23] Xem "Lumen gentium", 11.
[24] Xem "Sacrosanctum concilium", 21.
[25] Xem Đức Phaolô VI, "Evangelii nuntiandi”. 4:8 : AAS 58 (1976) 37-38.
[26] Xem Đức Gioan Phaolô II, Huấn từ cho các giám mục của Hội Đồng Giám Mục vùng Abruzes và Molise viếng thăm ad limina (24-4-1986), 3-7 : AAS 78 (1986) 1140-43.
[27] Xem "Lumen gentium", 4.
[28] Đức Gioan Phạolô II, Tông thư "Dommum et vivificantem” (18-5-1986), 66 : AAS 78 (1986) 897.
[29] "Lumen gentium", 27 ; Xem "Christus Dominus", 16.
[30] Đức Gioan Phaolô II, bài giáo lý ngày 18-11-1992, 2.4 : L'Osservatore Romano, bản Pháo ngữ, số 4:7, 24-11-1992, tr.12.
[31] Xem GL 383 @ 1 ; 384.
[32] Xem Đức Gioan Phaolô II, Huân từ cho các giám mục Hội Đồng Giám Mục vùng Bắc Braxin đến viếng thăm ad limina (28.10.1995), 5 : L’Osservatore Romano, bản Pháp ngữ, số 52, 26-12-1995. tr. 4.
[33] Xem "Ecclesiae imago”, 93-98.
[34] Đức Gioan Phaolô II, "Pastores dabo vobis" (25-3-1992), 23 : AAS 84 (1992) 694.
[35] Xem "Presbyterorum ordinis", 17.
[36] Xem GL 396 @ 1 ; Xem GL 398.
[37] "Ecclesiae imago", 166 ; Xem 166-170.
[38] Xem GL 460-468. Xem "Ecclesiae imago", 163-165.
[39] Xem GL 212 @ 2 và 3.
[40] Xem "Gaudium et spes", 1.
BÀI 4:
GIÁM MỤC, THỪA TÁC VIÊN TIN MỪNG PHỤC VỤ HẾT MỌI NGƯỜI
Đời sống và công tác mục vụ của giám mục phải thấm nhuần niềm hy vọng như đã gói ghém trong việc loan báo Tin Mừng, và đây cũng là việc mà giám mục phải chịu trách nhiệm đầu tiên trong Giáo Hội. Tuy nhiên, việc phục vụ của người giám mục không chỉ liên quan tới các tín hữu thuộc về Giáo Hội địa phương của mình và Giáo Hội toàn cầu cũng không phải là đối tượng duy nhất mà giám mục phải quan tâm. Đúng hơn, chính vị thế của giám mục trong Giáo Hội và chính sứ mạng mà ngài được Chúa mời gọi thi hành đã làm cho ngài trở thành người đầu tiên phải chịu trách nhiệm về lệnh truyền mà Giáo Hội đã nhận được nơi Chúa, là mang Tin Mừng đến cho những người chưa biết Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc loài người.
 
d
Đức Cha Jean Cassaigne - Nhà truyền giáo cho anh chị em Kơho
 
Trong chương này, ta sẽ xem xét sứ mạng của giám mục trong một tương quan mang tính ngôn sứ với thực tế, mà trong đó, cộng đoàn do giám mục chủ sự nhân danh Đức Kitô Mục Tử, đang tiến bước trên đường về thành đô Thiên Quốc. Nói cách khác, ta sẽ chú ý tới lệnh truyền giáo mà Chúa đã ban cho Giáo Hội của Người và một số lãnh vực khác trong công cuộc phúc âm hoá như: đối thoại với các tôn giáo không phải Kitô giáo, trách nhiệm của giám mục đối với thế giới về những vấn đề như đời sống chính trị, xã hội, kinh tế và hoà bình. Thật vậy, trong những lãnh vực ấy, giám mục cũng được Chúa kêu gọi hãy tìm cách khơi dậy niềm hy vọng về các thực tại siêu việt và các thực tại cánh chung.
1. BỔN PHẬN TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁM MỤC

Lệnh truyền mà Chúa Phục Sinh trao cho các Tông Đồ có liên quan tới mọi quốc gia. Còn hơn thế nữa, chính nơi bản thân các Tông Đồ, "Giáo Hội tiếp nhận một sứ mạng phổ quát, không biên giới, có liên quan tới sự cứu độ với tất cả sự phong phú của nó phù hợp với sự sống sung mãn mà Đức Kitô đã mang đến cho chúng ta” (x. Ga 10,10).[1]
Đối với những người kế vị các Tông Đồ cũng vậy, bổn phận loan báo Tin Mừng không bị giới hạn trong phạm vi Giáo Hội. Tin Mừng luôn luôn là dành cho hết mọi người. Chính Giáo Hội cũng là bí tích của ơn cứu độ dành cho hết mọi người; hoạt động của Giáo Hội không giới hạn với những người đã chấp nhận sứ điệp của Giáo Hội. Nhưng Giáo Hội là "lực thúc đẩy con người trên đường tiến về Nước Trời thời cánh chung, Giáo Hội là dấu chỉ và người xúc tiến các giá trị Tin Mừng giữa lòng nhân loại".[2] Vì thế, những đấng kế vị các Tông Đồ phải luôn luôn chịu trách nhiệm mở rộng Nước Trời ấy trên toàn thế giới. Thế nên, tuy là dấu chỉ cá vị của Đức Kitô tại Giáo Hội địa phương mình, các giám mục cũng được mời gọi làm dấu chỉ trên toàn thế giới về một Giáo Hội đang có mặt trong lịch, sử nhân loại. Các ngài được tấn phong không phải chỉ cho một giáo phận, mà cho toàn thế giới được cứu độ.[3] Cùng với giám mục Rôma, trong tư cách là thành viên của Giám Mục Đoàn và trong tư cách là mục tử của các Giáo Hội địa phương, các ngài phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc truyền giảng Tin Mừng cho những người chưa nhìn nhận Đức Kitô là Đấng Cứu Tinh duy nhất và chưa đặt niềm hy vọng nơi Người.
Trong bối cảnh ấy, chúng ta không thể quên các giám mục truyền giáo, hiện nay cũng như trước đây, luôn làm rạng rỡ Giáo Hội nhờ lòng quảng đại và sự thánh thiện của các ngài. Một số vị, trong đó còn là những nhà sáng lập các tu hội truyền giáo.
Trong tư cách là mục tử của một Giáo Hội địa phương, giám mục có bổn phận đẩy mạnh, điều khiển và phối hợp hoạt động truyền giáo của Giáo Hội ấy. Giám mục chu toàn bổn phận đẩy mạnh cao trào truyền giáo của Giáo Hội ấy bằng cách khơi dậy, xúc tiến và hướng dẫn hoạt động truyền giáo trong giáo phận mình. Nhờ đó, "ngài làm cho người ta trông thấy được ngay trong hiện tại này tinh thần và nhiệt tâm truyền giáo của Dân Chúa, đến nỗi toàn thể giáo phận của ngài đều trở thành người truyền giáo".[4] Nhiệt tâm lo việc truyền giáo, giám mục cũng sẽ tỏ ra mình là người tôi tớ phục vụ niềm hy vọng và là người làm chứng về niềm hy vọng. Thật vậy, việc truyền giáo đẩy mạnh được là nhờ đức tin và đó "chính là thước đo lòng tin của ta vào Đức Giêsu Kitô và vào tình yêu Người đã dành cho ta".[5] Tuy nhiên, vì tin mừng dành cho con người mọi thời chính là một sự sống mới, mà ai ai cũng được mời đến hưởng, nên việc truyền giáo cũng phải được đức cậy thúc đẩy và bản thân việc truyền giáo cũng chính là kết quả của đức cậy Kitô giáo.
Khi loan báo Đức Kitô Phục Sinh, các Kitô hữu loan báo Người là đấng đã khai mở kỷ nguyên mới của lịch sử. Họ công bố cho thế giới biết Tin Mừng về ơn cứu độ toàn diện và phổ quát, với những bảo chứng về một thế giới mới, trong đó, khổ đau, bất công sẽ có ngày phải nhường bước cho vui tươi, đẹp đẽ. Thế nên, các Kitô hữu sẽ cầu xin như Đức Giêsu đã dạy: "Xin cho Nước Cha trị đến" (Mt 6,10). Sau cùng, với mục đích tối hậu là trao cho mọi người hưởng dùng ơn cứu độ mà Đức Kitô đã vĩnh viễn tặng ban, hoạt động truyền giáo tự nó cũng hướng tới ngày thành toàn viên mãn. Nhờ hoạt động truyền giáo, dân Chúa được tăng số, Thân Thể Đức Kitô được phát triển, Đền thờ Thánh Thần được mở rộng cho tới ngày tận thế.[6]
2. ĐỐI THOẠI GIỮA CÁC TÔN GIÁO
Với tư cách là thầy dạy đức tin, các giám mục cũng phải dành một chỗ đúng đắn cho việc đối thoại giữa các tôn giáo. Thật vậy, ai cũng thấy rõ trong hoàn cảnh lịch sử hiện nay, việc đối thoại này là một yêu cầu mới mẻ và hết sức cấp thiết. Thật ra, đối với nhiều cộng đoàn Kitô giáo, tại châu Phi và châu Á chẳng hạn, việc đối thoại giữa các tôn giáo có thể nói đã trở thành một phần trong đời sống hằng ngày của các gia đình, các cộng đoàn địa phương, các môi trường lao động và các dịch vụ công cộng. Ngược lại, đối với những cộng đoàn khác như ở châu Âu và tại các nước có truyền thống Kitô giáo lâu đời hơn, đó lại là một hiện tượng mới mẻ. Nhưng kể cả ở những nơi ấy, càng ngày ta càng thấy tín đồ các tôn giáo và các tín ngưỡng khác nhau thường lui tới và sống chung với nhau khi di cư, du lịch, thông tin xã hội và lựa chọn riêng.
Vì thế, cần xây dựng một chương trình mục vụ thúc đẩy sự tiếp đón và làm chứng, bằng cách nhắc lại những nguyên tắc đã được Công Đồng nêu ra trong sắc Lệnh "Nostra aetate": tôn trọng các tín ngưỡng không phải là Kitô giáo và, vì chúng cũng chứa đựng nhiều yếu tố tích cực, nên phải cùng với các tín đồ ấy tìm cách bảo vệ những giá trị căn bản của cuộc sống; sau cùng, tìm cách gặp gỡ những con người ấy, nam cũng như nữ, để cùng nhau đi tìm chân lý.

Như Đức Gioan Phaolô II đã nhắc nhở, việc đối thoại giữa các tôn giáo là một phần trong sứ mạng phúc âm hoá của Giáo Hội và nằm trong viễn cảnh của năm Toàn Xá 2000.[7] Trong số các lý do chính yếu thúc đẩy việc này, sắc Lệnh "Nostra aetate" có nêu ra những lý do xuất phát từ việc tuyên xưng niềm hy vọng Kitô giáo. Thật vậy, tất cả mọi người đều có một nguồn gốc chung là Thiên Chúa, vì là những thụ tạo được Người yêu thương và muốn cho có mặt, và đều có chung một định mệnh là tình yêu đời đời của Thiên Chúa. Cùng đích tối hậu của mỗi người là Thiên Chúa.
Trong cuộc đối thoại liên tôn giáo ấy, các Kitô hữu phải chứng tỏ mình đặt niềm hy vọng vào Đức Kitô, vị Cứu Tinh độc nhất của loài người; nhưng mình cũng còn phải học tập nhiều điều. Dẫu vậy, không phải vì thế mà có thể, hay không phải vì thế mà được phép, làm giảm nhẹ bổn phận và ý chí cương quyết của chúng ta, đó là không ngần ngại công bố Đức Kitô là vị Cứu Chuộc duy nhất và tuyệt đối. Thật vậy, các Kitô hữu không đặt niềm hy vọng của mình vào ai khác, Đức Kitô chính là đấng thoả mãn hết mọi hy vọng của mình. Người là "nỗi chờ mong của tất cả mọi người, trong mỗi dân tộc, đang chờ mong Chúa tỏ lòng nhân hậu của Người".[8] Các tín hữu Công Giáo phải tổ chức và tiến hành cuộc đối thoại ấy với niềm xác tín rằng tôn giáo duy nhất chân thật tồn tại "trong Hội Thánh Công giáo và tông truyền, đã được Chúa Giêsu uỷ thác sứ mạng làm cho mọi người nhận biết tôn giáo ấy".[9]
Mọi tín hữu và mọi cộng đoàn Kitô giáo đều được mời gọi tiến hành công việc đối thoại giữa các tôn giáo, cho dù không phải lúc nào cũng khẩn trương và trên cùng một cấp độ như nhau. Tuy nhiên, chỗ nào hoàn cảnh yêu cầu hay cho phép, giám mục cũng có bổn phận giảng dạy và hoạt động mục vụ để giúp các tín hữu trong giáo phận của mình tôn trọng và quý chuộng các giá trị, các truyền thống và các niềm tin của các tín đồ ấy. Ngài cũng phải đẩy mạnh việc đào tạo các Kitô hữu một cách vững chãi và thích đáng, cho họ biết làm chứng một cách xác tín về ơn đức tin Kitô giáo mà họ đã nhận được.
Giám mục cũng phải quan tâm tới chiều kích thần học của việc đối thoại giữa các tôn giáo, bất cứ khi nào có cuộc đối thoại ấy trong Giáo Hội địa phương của mình, sao cho ta đừng bao giờ bỏ qua hay không xác nhận tính cách phổ quát và độc đáo trong công trình cứu chuộc của Đức Kitô là Đấng Cứu Tinh duy nhất của loài người và là Đấng Mặc Khải duy nhất mầu nhiệm Thiên Chúa.[10] Thật vậy, ta chỉ có thế chia sẻ, đối chứng, làm giàu thêm cho những kinh nghiệm tâm linh và những hình thức cầu nguyện hay những con đường gặp Chúa, trong mức độ chúng phù hợp với đức tin của mình.
Tuy nhiên, việc đối thoại liên tôn không phải chỉ đụng chạm đến lãnh vực giáo lý, mà còn phát triển thành nhiều mối quan hệ đa phương giữa các tín đồ trong đời sống thường ngày, để mọi người tôn trọng nhau và hiểu biết nhau. Đó là cái mà nhiều người gọi là "đối thoại bằng đời sống”: tín đồ của các tôn giáo khác nhau làm chứng cho nhau thấy các giá trị nhân bản và tâm linh của mình, giúp nhau sống chung trong hoà bình và cộng tác với nhau xây dựng một xã hội công bằng hơn và huynh đệ hơn. Khi cổ võ và khi chăm chú theo dõi những cuộc đối thoại như thế, giám mục sẽ không quên nhắc nhở các tín hữu của mình rằng nếu chúng ta có dấn thân làm việc đó, ấy là bởi chúng ta sống các nhân đức đối thần như tin, cậy, mến, và càng tiến bộ trong các nhân đức ấy thì cuộc dấn thân của chúng ta trong công việc ấy sẽ càng được phát triển.
3. TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI THẾ GIỚI

Các Kitô hữu chu toàn sứ mạng ngôn sứ của Đức Kitô bằng cách làm cho sự có mặt của mình trong thế giới luôn mang theo niềm hy vọng. Bởi thế, Công Đồng nhắc lại "Giáo Hội đồng hành với toàn thể nhân loại và chia sẻ số phận trần gian của thế giới; Giáo Hội tựa như men hay có thể nói, như linh hồn của xã hội loài người, một xã hội được mời gọi phải canh tân lại trong Đức Kitô và phải biến đổi thành gia đình của Thiên Chúa".[11]
Đảm nhận những trách nhiệm đối với toàn thể thế giới, đối với những vấn đề, những yêu cầu và những sự chờ đợi của thế giới, cũng là một cách dấn thân cho công cuộc phúc âm hoá mà Chúa đã mời gọi Giáo Hội thi hành. Sự dấn thân ấy liên hệ trước tiên tới mỗi giám mục, khiến ngài chăm chú đọc các "dấu chỉ của thời đại”, để qua đó, khơi dậy niềm hy vọng mới nơi con người. Làm thế là ngài đã hành động như một thừa tác viên của Chúa Thánh Thần, Đấng không ngừng tạo ra nhiều điều quan trọng để canh tân bộ mặt trái đất, cả trong hiện tại này, trước thềm ngàn năm thứ ba. Theo gương vị Mục Tử tốt lành, mỗi giám mục sẽ chỉ cho loài người thấy con đường phải theo và, theo gương người Samari nhân hậu, ngài cũng sẽ nghiêng mình trên nhân loại để chữa trị các vết thương. Con người tự bản tính cũng là một "hữu thể biết hy vọng". Quả thật, có nhiều biến cố, xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, khiến người ta rơi vào chủ nghĩa hoài nghi và thất vọng; chúng chính là những sự thách thức niềm hy vọng của con người hôm nay. Nhưng Giáo Hội đã nhận ra mầu nhiệm thập giá và phục sinh của Chúa chính là nền tảng của niềm "hy vọng thánh thiện”. Chính trong mầu nhiệm ấy, Giáo Hội múc được sức mạnh để phục vụ và kiên trì phục vụ con người và mỗi người.
Tin Mừng, mà Giáo Hội phục vụ, vốn là một sứ điệp đem lại tự do và là một sức mạnh giải thoát, bằng cách vừa vạch trần và phê phán các niềm hy vọng giả tạo và dối gạt, vừa đưa những khát vọng chân chính nhất của con người tới chỗ hoàn thành. Hơn thế nữa, trọng tâm của Tin Mừng ấy chính là Đức Kitô đã dùng thập giá và sự sống lại của mình, cũng như đã nhờ Thánh Thần mà Người ban tặng, mở ra cho nhân loại những con đường mới vừa tự do vừa có sức giải thoát. Có rất nhiều lãnh vực mà các giám mục được mời gọi hướng dẫn cộng đoàn mình dấn thân cũng như tỏ thái độ để đưa sức mạnh canh tân của Tin Mừng vào và chỉ cho người ta thấy trong đó đâu là những dấu chỉ thật sự đem lại hy vọng cho con người. Trong số các lãnh vực ấy, ta có thể kể những lãnh vực mà học thuyết xã hội Giáo Hội đả động tới. Thật vậy, học thuyết này chẳng những không xa lạ với sứ điệp Kitô giáo, mà còn là một phần thiết yếu của sứ điệp ấy, vì nó giới thiệu những hệ luận trực tiếp rút ra từ Tin Mừng để áp dụng trong đời sống xã hội. Đàng khác, Huấn quyền đã nhiều lần dừng lại với học thuyết ấy để làm rạng rỡ học thuyết ấy dựa vào chính mầu nhiệm Vượt Qua, là mầu nhiệm mà Hội Thánh không ngừng tìm về để kín múc những chân lý liên quan đến lịch sử và con người, cũng như để nhắc mỗi Giáo Hội địa phương có trách nhiệm cùng với Toà Thánh và cùng với nhau biến học thuyết ấy thành những hành vi cụ thể.

Một lãnh vực ưu tiên là quan hệ giữa Giáo Hội với xã hội dân sự và chính trị. Về việc này, đã hẳn sứ mạng của Giáo Hội là một sứ mạng tôn giáo và mục tiêu ưu tiên mà hoạt động của Giáo Hội nhắm tới là loan báo Đức Giêsu Kitô cho hết mọi người, loan báo Danh Xưng duy nhất "đã được ban cho con người trên trần gian này để nhờ đó mà được cứu độ" (Cv 4,12). Thế nên, một trong những điều đã được Công Đồng nhấn mạnh đặc biệt là có sự phân biệt rõ ràng giữa cộng đồng chính trị và Giáo Hội. Tuy nhiên, dù có độc lập và tự trị trong phạm vi riêng của mình đến đâu, cả hai bên đều có một điểm chung là phục vụ ơn gọi của cùng những con người, một ơn gọi vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội.[12]
Chính vì thế, một khi đã được lệnh Chúa mỏ rộng ra đón hết mọi người thiện chí, Giáo Hội sẽ không và không bao giờ cạnh tranh với cộng đồng chính trị, nhưng cũng không tỏ ra xa lạ với các vấn đề của xã hội. Như thê, dù dừng lại trong khả năng chuyên môn của mình là giúp thăng tiến con người cách toàn diện, nhưng Giáo Hội vẫn có thể tìm kiếm những giải pháp cho các vấn đề thuộc trật tự trần thế, nhất là khi phẩm giá con người bị thương tổn và khi các quyền căn bản của con người bị chà đạp.
Trong khuôn khổ ấy, giám mục cũng một đàng nhìn nhận sự tự trị của quốc gia và vì thế tránh mọi sự pha trộn nhập nhằng giữa đức tin và chính trị, đàng khác vẫn phục vụ sự tự do cho hết mọi người. Ngài từ chối những hình thức có thể giản lược đức tin thành một cách biểu hiện chính trị nào đó và tập trung lo tìm kiếm Nước Chúa. Chẳng hạn như với một tình yêu mãnh liệt và thuần khiết hơn, ngài tìm cách giúp đỡ các anh em mình và được đức ái thúc đẩy, ngài xúc tiến các công việc phát huy công lý; được thế, ngài chứng tỏ mình là người bảo vệ tính cách siêu việt của con người và trở thành dấu cho mọi người thêm hy vọng.[13] Những đóng góp đặc biệt của giám mục trong lãnh vực này cũng chính là sự đóng góp của Giáo Hội, tức là giới thiệu "quan niệm của Giáo Hội về phẩm giá con người, đã được bày tỏ một cách trọn vẹn trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể".[14]
Thật vậy, nhìn nhận sự tự trị của cộng đồng chính trị không có nghĩa là bảo rằng cộng đồng ấy được miễn thi hành các nguyên tắc luân lý. Ngược lại, một nền chính trị mà không tham chiếu luân lý, sớm hay muộn chắc chắn sẽ đưa xã hội tới chỗ suy đồi, vi phạm phẩm giá và quyền lợi của con người. Chính vì thế, Giáo Hội ước mong được nhìn thấy cộng đồng chính trị tiếp tục duy trì hay khôi phục lại hình ảnh của những người phục vụ con người và xã hội. Chính vì bổn phận của các tín hữu là dấn thân trực tiếp vào trong lãnh vực chính trị, nên các giám mục phải quan tâm giúp họ suy nghĩ về các vấn đề của họ và gánh lấy những quyết định dựa vào Lời Chân Lý. Các giám mục phải lưu tâm hỗ trợ việc đào tạo họ, sao cho trong các lựa chọn của mình, họ luôn làm với động cơ là thành thật lo cho ích chung của xã hội mà họ đang sống, tức là ích lợi của hết mọi người và toàn diện con người. Sau cùng, các giám mục phải lưu ý sao cho giữa đời sống luân lý công cộng và đời sống luân lý cá nhân có sự ăn khớp hài hoà.
Lo lắng cho người nghèo là một việc chiếm một chỗ đứng đặc biệt trong công cuộc phúc âm hoá và là một phương thế đặc biệt để loan báo niềm hy vọng. Ở đây, người ta sẽ đụng chạm tới đời sống kinh tế và xã hội, mà theo lời Công Đồng, phải đặt con người làm tác giả, trung tâm cũng như mục tiêu.[15] Chính vì thế, Giáo Hội sẽ lo sao cho người ta đừng hiểu sự phát triển chỉ theo nghĩa kinh tế, mà theo một nghĩa nhân bản toàn vẹn.
Chắc hẳn, niềm hy vọng của Kitô giáo hướng tới Nước Trời và đời sống vĩnh cửu. Tuy nhiên, đích điểm cánh chung ấy không làm ta coi nhẹ việc dấn thân giúp đô thị trần gian này tiến bộ. Trái lại, nó còn mang lại cho công việc dấn thân này ý nghĩa và sức mạnh. Thậm chí, "nhờ có niềm hy vọng ấy mà ta tránh được tinh thần ích kỷ và có được niềm hạnh phúc của lòng bác ái".[16] Thật vậy, phân biệt sự tiến bộ trần gian và sự tăng trưởng của Nước Trời không có nghĩa là tách biệt chúng ra, vì ơn gọi hưởng dùng sự sống đời đời chẳng những không loại bỏ, mà còn thúc đẩy con người đưa các năng lực do Tạo Hoá ban cho vào cuộc để phát triển cuộc sống trần gian của mình.
Giáo Hội không có bổn phận chuyên trách là cung cấp các giải pháp cho các vấn đề kinh tế và xã hội, nhưng học thuyết xã hội của Giáo Hội có chứa đựng cả một tổng hợp các nguyên tắc thiết yếu giúp xây dựng một hệ thống kinh tế và xã hội công bằng. Cả ở đây, Giáo Hội cũng đã có một "tin mừng" để loan báo và mỗi giám mục phải trở thành người loan "tin mừng" ấy ngay trong Giáo Hội địa phương của mình, chỉ cho mọi người thấy trọng tâm của "tin mừng" ấy chính là các Mối Phúc của Tin Mừng.[17]
Sau cùng, vì giới răn yêu thương tha nhân vốn là một giới răn hết sức cụ thể, nên thật là thích đáng khi các giám mục xúc tiến ngay trong giáo phận mình những sáng kiến thích hợp, kêu gọi mọi người vượt qua những thái độ lãnh đạm, thụ động, ích kỷ cá nhân và phe nhóm. Các giám mục cũng cần phải dùng việc giảng dạy của mình để đánh thức lương tâm Kitô giáo của mỗi công dân, bằng cách thôi thúc họ hành động, liên đới với người khác và bằng những phương tiện có sẵn, bênh vực anh em mình chống lại mọi sự lạm dụng có thể xâm phạm tới nhân phẩm của họ. Về việc này, các ngài phải luôn luôn nhắc các tín hữu nhớ rằng Đức Kitô đang hiện diện trong mỗi người nghèo và trong bất cứ ai đang túng thiếu (x. Mt 25,31-46). Chính hình ảnh Chúa ngồi xét xử mọi người trong ngày cánh chung là một sự hứa hẹn rồi đây sẽ có sự công bằng trọn vẹn cho người sống lẫn người chết, cho con người mọi thời và mọi nơi.[18]
Công bằng đối với tha nhân và yêu thương tha nhân tự nhiên dẫn tới việc xây dựng hoà bình: "với những ai xây dựng hoà bình thi hoa trái công bằng sẽ được gieo trong hoà bình" (Gc 3,18). Hoà bình mà Giáo Hội loan báo là hòa bình của Đức Kitô - "Vua Hoà Bình", Người đã tuyên bố phúc cho những ai "xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con cái Chúa" (Mt 5,9). Đó không những là những người đã từ chối việc sử dụng bạo lực làm phương cách hành động thường xuyên, mà cả những người đã can đảm tìm cách dẹp bỏ mọi trở ngại cho việc xây dựng hòa bình. Những chiến sĩ hoà bình này biết rõ hoà bình luôn bắt đầu từ trong tâm hồn con người. Vì thế, họ ra sức chống lại thói ích kỷ, khiến họ không nhìn ra người khác như anh chị em của mình trong một gia đình duy nhất; để làm việc này, họ dựa vào niềm hy vọng mà họ đã đặt nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc vô tội đã dùng đau khổ của mình làm tín hiệu cho nhân loại nuôi hy vọng. Đức Kitô là sự hòa bình (x. Ep 2,14) và ai không gặp Người thì sẽ không tìm được bình an.
Hoà bình là trách nhiệm của hết mọi người, được thực hiện qua vô vàn cử chỉ nhỏ nhặt trong cuộc sống hằng ngày. Qua lối sống thường ngày của mình với người khác, con người đã lựa chọn xây dựng hay chống lại hoà bình. Hoà bình luôn chờ đợi những người loan báo về nó và các người kiến tạo ra nó.[19] Phải làm sao cho những nhà kiến tạo hòa bình này có mặt trước hết trong những cộng đoàn của Giáo Hội, do các giám mục chăn dắt.
Vì thế, không nên để lỡ cơ hội nào mà không đẩy mạnh khát vọng được đồng tâm nhất trí, cũng như cổ võ sự hoà thuận giữa loài người với nhau khi xả thân cho công lý và hoà bình. Đó là một bổn phận cam go, đòi phải xả thân, nỗ lực luôn, và góp tay giáo dục không ngừng, nhất là cho những thế hệ mới, để họ được phấn khởi lại trong niềm vui và hy vọng của Kitô giáo hầu dấn thân xây dựng một thế giới hoà bình và huynh đệ hơn. Hoạt động cho hoà bình cũng là một trong các nhiệm vụ ưu tiên của việc phúc âm hoá. Vì thế, phát huy một nền văn hoá đối thoại và hòa bình cũng chính là một công tác căn bản trong chương trình mục vụ của giám mục.
Là tiếng nói của một Giáo Hội hằng kêu gọi và triệu tập mọi người qua công cuộc phúc âm hoá, giám mục không quên có những hành động cụ thể và lên tiếng một cách khôn ngoan, quân bình, cho các người chịu trách nhiệm về đời sống chính trị, xã hội và kinh tế, cố gắng tìm ra những giải pháp hết sức công bằng để giải quyết các vấn đề trong đời sống chung của đô thị trần gian.
Hoàn cảnh mà trong đó các mục tử được mời gọi thi hành sứ mạng của mình thường rất khó khăn, không những đối với việc phúc âm hoá mà cả đối với việc thăng tiến con người nữa. Đó chính là lý do giám mục phải cho thấy thái độ sẵn sàng đón nhận khổ đau là một phần trong tác vụ giám mục của mình. Không có thái độ ấy, các giám mục không thể nào hiến thân thật sự cho sứ mạng. Vì vậy, niềm tin của các ngài đối với Thánh Thần Chúa Phục Sinh phải hết sức mạnh mẽ và tâm hồn các ngài phải luôn luôn chan chứa một "niềm hy vọng không bao giờ thất vọng " (Rm 5,5).


Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 1 (Tháng 12 năm 1998)


 
[1] Đức Gioan Phaolô II, Tông thư "Redemptoris missio” (7-12- 1990), 63 : AAS 83 (1991) 276.
[2] Như trên, 20 : AAS 83 (1991) 267-68.
[3] Xem "Ad gentes", 38.
[4] Như trên. Xem "Redemptoris missio" (7-12-1990), 63 : AAS 83 (1991) 311.
[5] "Redemptoris missio", 11.
[6] Xem "Ad gentes", 9.
[7] Xem "Redemptoris missio", 55 ; Tông thư 'Tertio millennio adveniente" (10-11-1994), 53 : AAS 87 (1995) 37;
[8] Thánh Justinô, "Đối thoại với Tryphonê", 11 : PG 6, 499.
[9] Vatican II, tuyên ngôn về tự do tôn giáo "Dignitatis humanae”, 1.
[10] Xem, "Redemptoris missio", 5.
[11] "Gaudium et spes", 40.
[12] Như trên, 76.
[13] Xem như trên, 72.
[14] Đức Gioan Phaolô II, Tông thư "Centesimus annus" (1-5- 1991), 47 : AAS 83 (1991) 852.
[15] Xem "Gaudium et spes", 63.
[16] Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, 1818.
[17] Xem Thánh Bộ giáo lý đức tin, Huấn thị về tự do Kitô giáo và sự giải phóng, 62 : AAS 79 (1987) 580-581.
[18] Xem như trên, 60 : AAS 79 (1987) 579.
[19] Xem Đức Gioan Phaolô II, Diễn văn tại Assise (27-10-1986), 7 : AAS 79 (1987) 868-869.
BÀI 5:
HÀNH TRÌNH TÂM LINH CỦA CÁC GIÁM MỤC
dCác chương trước đã mô tả những nét khái quát của bối cảnh mà trong đó các giám mục hôm nay được mời gọi thi hành sứ mạng trong Giáo Hội, sứ mạng của một thầy dạy đức tin chân chính, không luồn cúi cũng chẳng thoả hiệp, luôn loan báo, dạy dỗ, bênh vực sự thật; thứ đến là sứ mạng của người thánh hoá và trung thành quản lý các ơn của Thiên Chúa; và sau cùng là sứ mạng của một người cha, gần gũi những ai mà Cha Trên Trời đã đoái thương giao cho chăm sóc, trong những nhu cầu căn bản của họ, và nhất là trong nỗi khát khao Thiên Chúa. Sống giữa dân mình, các giám mục chính là hình ảnh sống động của Đức Giêsu Mục Tử Tốt Lành, đang cùng bước với đoàn chiên của Người.
Giám mục cũng đã được nhắc nhở để thấy sứ mạng làm mục tử của ngài, mỗi khi kết hợp với Giám Mục Đoàn, nghĩa là kết hợp với đức giám mục Rôma và các anh em giám mục, thông qua các tổ chức của Giáo Hội, giúp giám mục thi hành công tác mà Chúa Giêsu và Giáo Hội đã uỷ thác cho. Sau cùng, ta đã lưu ý rằng sứ mạng của giám mục cũng rộng rãi to lớn như sứ mạng của chính Giáo Hội trên thế giới này.
1. NHỮNG ĐÒI HỎI NÊN THÁNH TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI GIÁM MỤC
Tác vụ của giám mục đúng là một tác vụ rất cao cả và rất đòi hỏi; đó là một lý tưởng mà đứng trước đó ai được gọi cũng cảm thấy lo sợ một cách dễ hiểu, nhất là khi cảm nhận sự yếu đuối và bất tương xứng của mình. Chính vì thế, giám mục phải sống bằng niềm hy vọng đã từng thúc đẩy ngài chấp nhận làm tôi tớ trong Giáo Hội và thế giới. Ngài sẽ nhắc lại như thánh tông đồ Phaolô: "Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng làm cho tôi nên mạnh mẽ" (P1 4,13), và cũng như thánh nhân, ngài tin chắc rằng "hy vọng như thế, sẽ không phải thất vọng, vì tình yêu của Chúa đã đổ vào tâm hồn chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta" (Rm 5,5).

Kế đó, để mình không sống dưới mức đòi hỏi của tác vụ với trách nhiệm quá nặng nề, giám mục phải biết nhìn ra trong đức ái mục tử bí quyết làm cho mình trở nên hoàn thiện vừa là kết quả của ân sủng, vừa là đặc tính của bí tích truyền chức mà ngài đã lãnh nhận. Vì thế, ngài phải luôn luôn uốn nắn mình sao cho giống một cách đặc biệt với Đức Kitô Mục Tử Nhân Lành trong đời sống cá nhân cũng như trong khi thi hành tác vụ tông đồ, sao cho trong mọi việc cũng như đối với mọi việc, tư duy, tình cảm, những lựa chọn và hành vi của ngài đều thâm nhuần tình cảm của Đức Kitô (x. 1Cr 2,16).[1] Nhân kỷ niệm 20 năm bế mạc Công Đồng, Đại Hội Bất Thường của THĐGM năm 1985 đã nhóm họp và ghi nhận rằng "các nam nữ thánh nhân luôn luôn là nguồn canh tân Giáo Hội, trong những lúc khó khăn nhất của Giáo Hội".[2] Chắc một điều là Giáo Hội luôn luôn cần các mục tử sáng chói, không phải chỉ vì những phẩm chất nhân bản của các ngài, mà còn vì sự thánh thiện của các ngài. Chính các mục tử ấy đã giúp làm sống dậy được nơi người trẻ hôm nay dự phóng làm linh mục.
Thế nên, trong chương này, chúng ta sẽ nêu lên một vài đường nét trong hành trình tâm linh của người giám mục, cũng là hành trình phúc âm hoá và thánh hoá dân Chúa, vì có một mối liên hệ mật thiết giữa sự thánh thiện cá nhân của người giám mục và việc thi hành tác vụ. Vả lại, chính tác vụ giám mục, nếu được thi hành cách trung thành và can đảm theo sự chỉ dạy của Chúa Thánh Thần, cũng là nguồn mang lại sự thánh thiện cho giám mục và là nguồn giúp ngài thánh hoá các tín hữu được giao cho ngài chăm sóc, với điều kiện ngài biết đánh giá các con đường nên thánh khác nhau tùy theo những đoàn sủng khác nhau.
2. CÁC CHIỀU KÍCH LÀM NÊN LINH ĐẠO CỦA NGƯỜI GIÁM MỤC

Dĩ nhiên, hành trình tâm linh của người giám mục bắt nguồn sâu xa trong ơn bí tích Rửa Tội và Thêm Sức: như mọi tín hữu khác, chính nhờ các bí tích này mà giám mục trở nên có khả năng tin Chúa, cậy Chúa và mến Chúa bằng các nhân đức đối thần, cũng như có khả năng sống và hoạt động dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần thông qua các ơn rất thánh thiện mà Người đã ban cho. Xét theo khía cạnh này, ngài phải sống một linh đạo không khác với linh đạo của các môn đệ khác, vì họ cũng được sáp nhập vào Đức Kitô và đã trở thành đền thờ Chúa Thánh Thần. Giám mục sống linh đạo của người đã chịu rửa tội và thêm sức, được bí tích Thánh Thể nuôi dưỡng và cũng cần sự thứ tha của Chúa Cha do bản tính loài người yếu đuối của mình. Giám mục phải cùng với các linh mục trong linh mục đoàn của mình đi qua những nẻo đường tu đức dành cho những người đã được mời gọi nên thánh với một tư cách mới mẻ, do Chức Thánh đem lại.[3]
Tuy nhiên, giám mục còn phải sống một linh đạo "chuyên biệt" nữa do đã nhận được ơn đặc biệt của Chúa Thánh Thần ở mức sung mãn để làm cha và làm mục tử trong Giáo Hội. Đó là một nền linh đạo "riêng", nhằm giúp vị giám mục sống trong niềm tin tưởng, cậy trông và bác ái, phù hợp với tác vụ của người phúc âm hoá, của người làm thượng tế và dìu dắt cộng đoàn. Đó là một nền linh đạo đặt người giám mục vào trong mối tương quan với Chúa Cha mà ngài là hình ảnh của Người; mối tương quan với Chúa Con như khuôn mẫu mà ngài cần phải noi theo để thi hành sứ mạng làm mục tử; tương quan với Chúa Thánh Thần, là đấng đang dẫn dắt Giáo Hội với những ân huệ phong phú mang tính phẩm trật hay mang tính đặc sủng.
Đó cũng là một nền linh đạo mang tính Giáo Hội, vì mỗi giám mục phải trở nên giống Đức Kitô Mục Tử, yêu Giáo Hội bằng chính tình yêu của Đức Kitô Lang Quân, phục vụ Giáo Hội và làm thầy, làm người thánh hoá và hướng dẫn trong Giáo Hội. Có thế, ngài mới trở thành mẫu gương và thành người đẩy mạnh một nền linh đạo hiệp thông trong Giáo Hội, trên hết mọi cấp độ.

Không thể yêu Đức Kitô và sống thân mật với Người, mà không đồng thời yêu Giáo Hội như Đức Kitô đã yêu. Thật vậy, càng yêu mến Thánh Thần Thiên Chúa, ta càng yêu mến Giáo Hội, "là một trong tất cả mọi người và là tất cả trong từng người; là đơn thuần trong đa dạng vì chỉ có một đức tin và là đa dạng trong mỗi người do đức ái nối kết và do các đoàn sủng đa dạng".[4] Chỉ có từ lòng yêu mến Giáo Hội, đã được Đức Kitô yêu tới mức hiến mạng mình (x. Ep 5,25) và làm cho trở nên bí tích phổ quát của ơn cứu độ, ta mới có được một linh đạo truyền giáo và một lòng nhiệt thành truyền giáo, cũng như mới cống hiến được một bằng chứng rằng: Chúa Giêsu yêu thương con người bằng hết cho tình yêu, nghĩa là cho tới mức chết trên thập giá.
3. THỪA TÁC VIÊN CỦA TIN MỪNG HY VỌNG
Giám mục sẽ xuất hiện trong Giáo Hội như thế đó, theo đúng lời thánh tông đồ Phaolô: "Nhờ Đức Giêsu là con người bằng xương bằng thịt đã chịu chết, Thiên Chúa cho anh em được hoà giải với Người, để anh em trở nên thánh thiện tinh tuyền và không có gì đáng trách trước mặt Người. Anh em chỉ cần giữ vững đức tin, cần được xây dựng vững chắc, kiên quyết và đừng vì nao núng mà lìa bỏ niềm hy vọng anh em đã nhận được khi nghe loan báo Tin Mừng (...), và tôi, Phaolô, tôi đã được trở nên người phục vụ Tin Mừng ấy" (C1 1,22-23; 1,5).

Kim Chỉ Nam "Ecclesiae imago" đã dành cả một chương khá chi tiết để nói tới các nhân đức cần thiết cho người giám mục.[5] Trong bối cảnh ấy, ngoài những nhân đức siêu nhiên như vâng phục, tiết dục trọn vẹn vì Nước Trời, khó nghèo, khôn ngoan của người mục tử và dũng cảm, ta còn thấy nhắc tới một nhân đức đối thần là hy vọng. Chính nhờ có nhân đức này mà người giám mục cương quyết chỉ chờ đợi mọi điều tốt lành từ nơi Chúa và đặt hết tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa, "vì nhớ tới các thánh Tông Đồ và các giám mục đầu tiên, đã từng gặp những khó khăn to lớn và những trở ngại đa dạng, vẫn rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa với tất cả sự vững dạ".[6] Tuy nhiên, trong viễn tượng chuẩn bị Đại Hội Thường Lệ lần thứ 10 của THĐGM, chúng ta nên dừng lại lâu hơn với nhân đức hy vọng này, một nhân đức nằm trong chính tác vụ giám mục, là nguồn khơi gợi tinh thần sáng tạo mang lại sự lạc quan lành mạnh để giám mục đích thân cảm nghiệm và vui mừng thông chia cho những người khác.
Niềm hy vọng Kitô giáo xuất phát từ Đức Kitô và được nuôi sống nhờ Người. Đó là một cách tham gia vào mầu nhiệm Vượt Qua của Người và là bảo chứng cho ta được một số phận tương tự như của Đức Kitô, vì Chúa Cha đã "cho chúng ta sống lại và ngự trên trời" cùng với Đức Kitô (x. Ep 2,6).
Giám mục được đặt làm dấu chỉ là cho niềm hy vọng ấy và làm người phục vụ cũng chính niềm hy vọng ấy. Mỗi giám mục có thể lấy những lời của Đức Gioan Phaolô II sau đây làm những lời dành cho mình: "Nếu không có niềm hy vọng ấy thì chúng ta chỉ là những con người bất hạnh và đáng thương, toàn bộ hoạt động mục vụ của chúng ta sẽ bị cằn cỗi, và nhất là chúng ta chẳng còn dám tra tay vào việc gì. Nhưng bí quyết khiến ta có thể chu toàn sứ mạng của mình là nhờ niềm hy vọng không nao núng ấy. Niềm hy vọng ấy vượt lên trên tất cả những lần ta gặp phải thất vọng và nghi ngờ, vì niềm hy vọng ấy xuất phát từ một nguồn mà nếu ta có vô tâm hay hờ hững đến đâu đi nữa, ta cũng không bao giờ hết hy vọng. Nguồn cội cho phép ta hy vọng chính là Thiên Chúa, đấng đã chiến thắng thế gian một lần dứt khoát, thông qua Đức Kitô, và hiện nay Người cũng tiếp tục sứ mạng cứu độ của mình giữa nhân loại, thông qua chúng ta".[7]
4. NHÂN ĐỨC HY VỌNG TRONG HÀNH TRÌNH TÂM LINH CỦA NGƯỜI GIÁM MỤC
Giám mục là người phục vụ Chân Lý, một Chân Lý có sức cứu thoát không phải chỉ để dạy dỗ và giáo hoá con người mà còn để dẫn đưa con người tới chỗ biết sống hy vọng và từ đó, tiến bước trên đường hy vọng. Thế nên, nếu giám mục muốn xuất hiện trước mặt dân mình như một dấu chỉ, một chứng nhân và một người phục vụ cho niềm hy vọng, thì ngài chỉ còn cách là lấy Lời Chân Lý nuôi sống mình, với tất cả tâm tình gắn bó và thái độ sẵn sàng, như Mẹ Chí Thánh của Thiên Chúa là Đức Maria, người "đã tin rằng những lời Chúa phán với mình sẽ được thực hiện" (x. Lc 1,45).

Kế đó, vì Lời Chúa được chứa đựng và diễn tả trong Sách Thánh, nên giám mục phải thường xuyên nhờ đến Sách Thánh, siêng năng đọc và tìm hiểu kỹ càng. Không phải chỉ vì ngài sẽ hoài công giảng Lời Chúa cho người khác nếu chính ngài chưa lắng nghe Lời ấy trước,[8] mà còn vì ngài sẽ làm cho mình trở nên trống rỗng, không thể thi hành tác vụ xây dựng hy vọng nếu chính ngài chưa lắng nghe Lời ấy trước.
Chính trong Kinh Thánh mà giám mục nuôi dưỡng được nền linh đạo hy vọng của mình, từ đó có thể chu toàn tác vụ phúc âm hoá của mình một cách đúng nghĩa. Như thánh Phaolô đã nói, chỉ có như thế, giám mục mới có khả năng nói với các tín hữu của mình rằng "chính nhờ được Kinh Thánh an ủi và củng cố mà chúng ta mới vững lòng hy vọng" (Rm 15,4).
Cầu nguyện chính là giây phút ưu tiên để lắng nghe Lời Chúa. Ý thức rằng mình không thể nào dạy các tín hữu cầu nguyện nếu không thông qua chính đời sống cầu nguyện của mình, giám mục sẽ siêng năng hướng lòng về với Chúa để nhắc lại với Chúa lời của một tác giả Thánh vịnh: "Con cậy trông vào lời Ngài" (Tv 119, 114). Thật vậy, cầu nguyện là nơi ưu tiên diễn tả niềm hy vọng, hay như thánh Tôma nói, cầu nguyện là "người thuyết minh cho niềm hy vọng".[9]
Thế nhưng, nếu không ai chỉ cầu nguyện cho bản thân mình, thì huống nữa là giám mục. Chính trong khi cầu nguyện, ngài phải cưu mang Giáo Hội với mình, nhất là cưu mang dân Chúa đã được giao phó cho ngài. Noi gương Đức Giêsu khi lựa chọn các tông đồ (x. Lc 6,12-13), ngài cũng sẽ đệ trình Chúa Cha tất cả mọi sáng kiến Tông Đồ của mình và nhờ Đức Kitô, cũng như trong Thánh Thần, ngài sẽ trình lên Chúa những mối hy vọng của mình về linh mục đoàn giáo phận, những ưu tư của mình về các ơn gọi linh mục, các ơn gọi tu trì, các ơn gọi truyền giáo và các thừa tác vụ khác, những bận tâm của mình về những người tận hiến và hoạt động tông đồ của họ trong Giáo Hội địa phương, sau cùng những ước vọng của mình về các giáo dân, sao cho tất cả mọi người cũng như mỗi một người, tuỳ theo ơn gọi, tác vụ và đoàn sủng riêng của họ, dưới sự hướng dẫn của ngài, đều tập trung hướng tới việc xây dựng Thân Thể Đức Kitô. Và rồi, Chúa của mọi hy vọng sẽ cho ngài được vui tươi và bình an tràn trề, để nhờ Chúa Thánh Thần tâm hồn ngài chan chứa niềm hy vọng (x. Rm 15,13).
Giám mục cũng phải tìm những cơ hội để có thể sống việc lắng nghe Lời Chúa và cầu nguyện chung với linh mục đoàn, với các phó tế vĩnh viễn (nếu có), với các chủng sinh, với những người tận hiến đang có mặt trong Giáo Hội địa phương mình và cả với giáo dân, nhất là với những người đang làm tông đồ trong các hiệp hội, ở đâu và khi nào có thể được.

Nhờ đó, ngài cổ võ tinh thần hiệp thông và nâng đỡ đời sống tâm linh của mọi người, bằng cách tỏ rõ mình là "thầy của sự hoàn thiện" ngay tại Giáo Hội địa phương, cương quyết "thúc đẩy các linh mục, tu sĩ và giáo dân tiến lên trên con đường thánh thiện, mỗi người tuỳ theo ơn gọi riêng của mình".[10] Đồng thời, ngài cũng củng cố sự liên kết những tương quan trong Giáo Hội mà ngài đã được đặt lên làm trung tâm hữu hình để thống nhất các mối tương quan ấy.
Ngài cũng sẽ không bỏ qua những cơ hội để sống những giây phút gặp gỡ thiêng liêng tương tự với các anh em giám mục, nhất là với các giám mục gần gũi trong cùng một giáo tỉnh hay giáo miền. Trong những lần gặp gỡ ấy, các ngài có thể cảm nghiệm được niềm vui của những anh em được sống chung với nhau (x. Tv 133,1) và tình thân ái trong Giám Mục Đoàn ngày càng thấy rõ hơn và lớn mạnh hơn.
Giám mục cũng tìm được nguồn nuôi dưỡng niềm hy vọng của mình trong chính khi cử hành Phụng Vụ Thánh với toàn dân. Thật vậy, chính khi cử hành Phụng Vụ trên trần gian này, là Giáo Hội đã nếm trước, trong hy vọng, Phụng Vụ của Giêrusalem trên trời, nơi Giáo Hội đang tiến về trong cuộc lữ hành của mình, cũng là nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Chúa Cha để làm "thừa tác viên phục vụ Đền Thánh, phục vụ Lều Thánh, Lều đích thực do Chúa chứ không phải do loài người, dựng lên" (Dt 8,2).[11]
Tất cả các bí tích, cách riêng bí tích Thánh Thể, đều là những hành vi tưởng niệm những việc Chúa đã làm và những điều Chúa đã chịu (acta et passa), là những cách biểu hiện ơn cứu độ mà Đức Kitô đã thực hiện một lần dứt khoát, và là những cách có trước hồng ân mà ta sẽ có trọn vẹn trong ngày sau hết.[12] Từ đây cho đến lúc đó, Giáo Hội sẽ cử hành các bí tích như những dấu chỉ hữu hiệu nói lên sự chờ đợi, kêu xin và hy vọng của mình.
Trong một số cuộc cử hành phụng vụ, sự có mặt của giám mục mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt. Trước hết là trong thánh lễ Dầu khi giám mục làm phép dầu dự tòng, dầu xức bệnh nhân và thánh hiến dầu Thánh. Đó chính là lúc biểu lộ Giáo Hội địa phương rõ rệt nhất: Giáo Hội cử hành Hy Tế của Chúa Giêsu, vị Thượng Tế tối cao và hằng hữu. Đối với giám mục, đó cũng là lúc bày tỏ niềm hy vọng của ngài mãnh liệt nhất, vì trong thánh lễ ấy có cả linh mục đoàn giáo phận quy tụ chung quanh ngài; tất cả, trong niềm vui hướng về chân trời Vượt Qua, họ sẽ cùng nhau nhìn vào vị Thượng Tế và làm sống lại ơn bí tích Truyền Chức bằng cách lặp lại các lời hứa, mà từ ngày thụ phong linh mục, đó đã là nền tảng làm cho tác vụ của họ trong Giáo Hội mang một tính chất hết sức đặc biệt. Dân Chúa cũng nhìn thấy những mối dây hiệp thông Giáo Hội hết sức chặt chẽ trong nghi lễ ấy, mà một năm chỉ có một lần, đúng là một tiếng thốt lên chứa chan hy vọng, dù phải trải qua bao nỗi dày vò day dứt.
Bên cạnh nghi lễ ấy, còn có một nghi lễ rất trang trọng là truyền chức cho các tân linh mục và tân phó tế. Khi tiếp nhận từ tay Chúa những cộng sự viên mới cho hàng giám mục và những người cộng tác mới cho thừa tác vụ của mình, các giám mục sẽ coi đó như một câu trả lời của Chúa Thánh Thần, đấng "vừa là quà tặng của Thiên Chúa vừa là người ban tặng các chức vụ" ("Donum Dei et dator munerum"), trước lời cầu xin của mình mong có thêm các ơn gọi, cũng là để làm cho Giáo Hội mình trở nên sáng sủa hơn với bộ mặt các thừa tác viên ấy.

Ta cũng có thể nói tương tự như thế, dựa vào phép loại suy, về bí tích Thêm Sức, mà thừa tác viên cử hành nguyên thuỷ là giám mục và riêng trong nghi lễ La Tinh, thừa tác viên thông thường cũng là giám mục. Tại đây, "nguyên việc bí tích này phải do các giám mục cử hành đã nói lên rằng bí tích này có công dụng là nối kết một cách chặt chẽ hơn những người tiếp nhận bí tích ấy với Giáo Hội, với nguồn gốc tông đồ của Giáo Hội và với sứ mạng của Giáo Hội là minh chứng về Đức Kitô ".[13]
Bản thân người hướng dẫn mục vụ, tức là giám mục, và lời chứng của ngài về Đức Kitô có hiệu quả hay không là tuỳ phần lớn vào cung cách ngài bước theo Đức Kitô và "sống thân mật với Đức Giêsu Kitô" có chính hiệu hay không. Chỉ có sự thánh thiện mới loan báo được sự canh tân đúng đắn, nên giám mục không thể bỏ vai trò của người ngôn sứ phục vụ sự thánh thiện: qua đời sống thánh thiện của mình, các ngài thực hiện trước nơi mình mục tiêu mà các ngài đang cố gắng dẫn các tín hữu đến. Tuy nhiên, trong hành trình tâm linh ấy, các ngài cũng cảm nghiệm như mọi Kitô hữu khác rằng cần phải hoán cải luôn vì các ngài không quên những yếu đuối, những thất vọng và tội lỗi của mình. Nhưng, như thánh Augustinô đã dạy, vì ta không thể nào hết hy vọng về những người chưa loại bỏ hết tội lỗi nơi mình,[14] nên giám mục sẽ chạy tới bí tích sám hối và hoà giải, và chân thành thưa lên với Chúa: "Lạy Chúa, con hy vọng nơi Ngài, xin cứu thoát con" (x. Tv 7,2; 31,2; 38,16). Bất cứ ai hy vọng mình được làm con Chúa và hy vọng có thể nhìn thấy Người đúng với sự thật của Người, đều phải thanh tẩy mình như Cha Trên Trời là Đấng thanh sạch (x. 1Ga 3,3).
Dân Chúa chắc chắn sẽ coi đó là một dấu chỉ hy vọng cho mình, khi nhìn thấy giám mục của mình tiến tới lãnh nhận bí tích chữa trị, như trong các dịp đặc biệt, khi ngài chủ sự một nghi lễ cộng đoàn. Hoặc khi nhìn thấy giám mục đang đau ốm của mình lãnh nhận bí tích xức dầu bệnh nhân và của ăn đường thánh thiện, cùng với các linh mục và giáo dân.[15]
Qua bằng chứng cuối cùng ấy nơi đời sống thế trần, giám mục có thêm dịp dạy các tín hữu của mình không bao giờ được hết hy vọng, và đau khổ nào trong hiện tại này cũng được dịu bớt do biết hy vọng vào thực tại tương lai.[16] Chính trong chuyến ra đi cuối cùng của mình từ thế gian này về với Chúa Cha, giám mục đã nói lên được cách tóm tắt, cũng như đã nhắc lại được mục tiêu của tác vụ mà lâu nay mình thi hành trong Giáo Hội là gì: đó là chỉ cho con cái Giáo Hội biết đâu là cứu cánh cuối cùng, như Môsê đã từng chỉ cho con cái Israel thây miền đất hứa.
5. NHƯ ĐỨC TRINH NỮ MARIA, CÁC GIÁM MỤC LUÔN HÂN HOAN TRONG HY VỌNG
Như thế, các giám mục đã có thể tự hào “khi hy vọng được hưởng vinh quang Thiên Chúa", như thánh tông đồ Phaolô đã nói: "Và không phải chỉ có thế, chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng ai gặp gian truân thì quen chịu đựng, ai quen chịu đựng thì được kể là người trung kiên, ai được công nhận là trung kiên thì có quyền hy vọng" (Rm 5,2-4). Từ chỗ hy vọng như thế, ta sẽ có được niềm vui. Thật vậy, niềm vui Kitô giáo, một niềm vui phát sinh từ hy vọng (x. Rm 12,12), cũng là mục tiêu của hy vọng. Người Kitô hữu không những chỉ nói tới niềm vui, mà còn "hy vọng sẽ được vui".[17]
Để làm chứng và làm mẫu cho sự liên kết thiêng liêng giữa niềm vui và hy vọng, Giáo Hội chúng ta có Đức Maria như người tiên phong. Bài ca "Magnificat" của Mẹ nói lên niềm vui của tất cả mọi người nghèo đã biết dựa vào Lời Chúa để cậy trông hy vọng nơi Người. Không phải vì được vui như thế mà Đức Maria không gặp đau khổ. Trái lại, Mẹ đã liên kết cách xuất sắc với sự hy sinh của Con mình khi đứng dưới chân thập giá để làm "mẹ của đau khổ" thế nào, thì Mẹ cũng mở rộng lòng mình hết sức để đón lấy niềm vui của Chúa Phục Sinh như vậy.
Và hiện nay, bên cạnh Con mình, đang hiển ngự bên hữu Chúa Cha, sau khi Mẹ được đưa lên trời với con người nguyên vẹn, cả xác lẫn hồn, Đức Maria đang tiếp nhận vào mình tất cả mọi niềm vui và đang nếm cảm niềm vui trọn vẹn đã từng hứa cho Giáo Hội. Giáo Hội, hay những người còn lữ hành trên trần gian, nhìn lên Ngài như một "dấu chỉ sáng rực của một niềm hy vọng và của một niềm an ủi đã được bảo đảm, trong lúc chờ ngày Chúa đến",[18] và sẽ cầu xin với Ngài như với "một Người Mẹ của hy vọng, một Người Mẹ đầy tràn niềm vui thánh thiện và là nguyên cớ cho ta được vui" ("mater spei, mater plena sanctae laetitiae et causa nostrae laetitiae").
Bất cứ giám mục nào, cũng như bất cứ Kitô hữu nào, cũng đều đầy lòng con thảo cậy trông Đức Maria theo gương người môn đệ được yêu, sau khi tiếp nhận Mẹ Chúa trên đồi Canvê, đã đưa Ngài vào trong mọi ngõ ngách của đời sống nội tâm mình.[19]
Giáo Hội thường kêu cầu Đức Maria là "Nữ vương các thánh Tông Đồ" ("Regina Apostolorum”) - "Xin Đức Trinh Nữ Rất Thánh chuyển cầu cho mọi vị mục tử của Giáo Hội được ngày càng trở nên giống vị Mục Tử nhân hậu khi thi hành thừa tác vụ khó khăn của mình".[20]
Câu hỏi suy tư:
1. Đâu là mối thống nhất linh đạo của giám mục, cũng như cách sống cụ thể của giám mục trong quan hệ với Thiên Chúa và với thực tại chung quanh?
2. Những sáng kiến nào tạo điều kiện cụ thể để giám mục kết hợp thiêng liêng trước hết với các linh mục và phó tế, rồi với những người tận hiến và giáo dân, nhất là những giáo dân tham gia các hiệp hội và các tổ chức của Giáo Hội?
3. Những đề nghị nào có thể đưa ra để giúp giám mục tiến tới trong suốt cuộc hành trình thiêng liêng? Vào thời kỳ đầu của sứ vụ? Trong suốt những năm sau đó?
4. Những vị Thánh Giám Mục nào có thể được coi hay đã được coi là mẫu mực cho giám mục noi theo để nuôi dưỡng đời sống tâm linh của mình?

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 1 (Tháng 12 năm 1998)


 
[1] Xem "Ecclesiae imago" (22-2-1973), 21.
[2] “Ecclesia sub verbo Dei mysteria Christi celebrans pro salute mundi”, II, A, 4.
[3] Xem "Presbyterorum ordinis", chương III và "Pastores dabo vobis", chương III.
[4] Thánh Phêrô Đamiani, "Op. XI" ("Liber qui appellatur Dominus vobiscum"') 5 : PL 145, 235 ; Xem thánh Augustinô, "In Jo. tr. 32, 8" : PL 35, 1645.
[5] Xem "Ecclesiae imago", phần I, chương IV, số 21-31.
[6] Xem như trên, 25.
[7] Đức Gioan Phaolô II, Huấn từ cho các giám mục Áo quốc đến viếng thăm ad limina (6-7-1982), 2 : AAS 74 (1982) 1123.
[8] Xem thánh Augustinô, "Bài giảng 179, 1" : PL 38. 966.
[9] Thánh Tôma Aquinô, "Summa Theologica" II-II, q. 17. A. 2.
[10] "Christus Dominus", 15.
[11] Xem "Sacrosanctum concilium”, 8.
[12] Xem thánh Tôma Aquinô, "Summa theologica" II, q.60, a. 3.
[13] Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, 1313.
[14] Xem thánh Augustinô, "En in Ps. 50,5" : PL 36, 588.
[15] Xem "Ecclesiae imago", 89.
[16] Xem thánh Basiliô, "Bài giảng về việc tạ ơn" 7 : PG 31, 236.
[17] Đức Phaolô VI, Tông huấn "Gaudete in Domino” (9-5-1975), phần I : AAS 67 (1975) 293.
[18] "Lumen gentium”, 68.
[19] Xem Đức Gioan Phaolô II, Tông thư "Redemptoris Mater" (25-3-1987), 45 : AAS 79 ( 1987) 423.
[20] Đức Gioan Phaolô II, Kinh Truyền Tin ngày 19-11-1995, 3. "L'Osservatore Romano", bản Pháp ngữ, số 47, 21-11-1995.
Tác giả: Hội đồng Giám mục Việt Nam, năm 1998
Nguồn: hdgmvietnam.com

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

dcgiuseminh
logo nen vuong
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập85
  • Máy chủ tìm kiếm13
  • Khách viếng thăm72
  • Hôm nay18,128
  • Tháng hiện tại467,657
  • Tổng lượt truy cập16,090,502

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây