Giám Mục - Thừa Tác Viên của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, phục vụ niềm hy vọng thế giới: Bài 1 và 2.

Thứ sáu - 09/10/2020 22:29  235
GIÁM MỤC - THỪA TÁC VIÊN CỦA TIN MỪNG ĐỨC GIÊSU KITÔ, PHỤC VỤ NIỀM HY VỌNG THẾ GIỚI
BÀI 1:
BỐI CẢNH HIỆN NAY CỦA SỨ MẠNG GIÁM MỤC
Sau khi Công Đồng Vatican II kết thúc, các Nghị Phụ trở về với Giáo Hội địa phương của mình. Cùng với các văn bản giáo lý và mục vụ, các ngài còn mang về cho các linh mục - những cộng sự viên trước hết của các ngài - và cho mọi thành phần khác của dân Chúa, yêu cầu phải giới thiệu khuôn mặt mới của người giám mục, phù hợp với bộ mặt của một Giáo Hội hiệp thông, mà Công Đồng đã làm nổi bật khi nhắc lại nguồn gốc cuối cùng và khuôn mẫu siêu phàm của Giáo Hội chính là mầu nhiệm cộng đoàn Ba Ngôi Thiên Chúa.[1] Đồng thời, ngoài giáo lý về tính chất và bản chất tập thể của chức giám mục, các ngài còn đem về cho Giáo Hội địa phương của mình kinh nghiệm quý giá và phong phú của việc sống trong tinh thần tập thể. Từ đó, mọi người đã ngầm hiểu: sau các sự kiện vừa kể, chắc hẳn khuôn mặt của người giám mục không còn như trước nữa.
 
d
 
Hội đồng Giám mục Việt Nam, “ad limina” (24-11-1990) 
 
1. LÀM NỔI BẬT LẠI KHUÔN MẶT CỦA NGƯỜI GIÁM MỤC
Thật vậy, lúc ấy người ta đã thấy cần phải làm nổi rõ vai trò và thẩm quyền của người giám mục một cách khác. Không phải chỉ ở bộ mặt bên ngoài, một điều mà Toà Thánh đã mau chóng quan tâm qua Tự sắc "Pontificalia insignia" của Đức Phaolô VI (21-6-1968) hay trong Huấn Thị "Ut sive sollicite" (31-3-1969), muốn giản lược các biểu tượng và phẩm phục giám mục cho đơn sơ hơn và phù hợp hơn với tinh thần khiêm tốn và khó nghèo, một tinh thần phải luôn luôn sáng tỏ nơi những người đang nắm giữ một trọng trách hết sức đặc biệt để phục vụ các tín hữu.
Tuy nhiên, việc làm nổi bật lại khuôn mặt của người giám mục còn đụng chạm đặc biệt hơn tới vai trò thiêng liêng và luân lý của ngài, phản ảnh đoàn sủng trên hết là tính tông truyền. Giám mục là người quản lý ơn làm tư tế tối cao, là tôn sư chính hiệu có thể công bố Lời Chúa với thẩm quyền hẳn hoi, liên quan đến đức tin và đời sống luân lý.

Trong Tông Thư chuẩn bị Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã nhắc nhở rằng thật là chính đáng và tốt đẹp khi mời gọi con cái Giáo Hội bước qua Cửa Thánh bằng cách thanh tẩy tâm hồn mình khỏi những sai lầm, bất trung và hoài nghi của mình nhờ ơn sám hối. Hơn thế nữa, chính Giáo Hội còn đồng ý chịu trách nhiệm về tội lỗi của con cái mình.[2]
Vì thế, thật là thích đáng khi chuẩn bị kết thúc ngàn năm thứ hai, Đại Hội Thường Lệ lần thứ 10 của Thượng Hội Đồng Giám Mục (THĐGM) làm một cử chỉ ăn năn khiêm tốn là nhìn nhận rằng, qua những lần xuất hiện trong lịch sử, các giám mục đã để cho một số người hiểu lầm rằng làm giám mục là một hình thức nắm quyền và gây uy tín hơn là một cách để phục vụ.
Trong thẩm quyền của mình, Công Đồng Vatican II đã nhiều lần nhắc lại giáo lý của thánh Cyprianô, giám mục thành Carthage, bằng cách lặp lại ý tưởng Giáo Hội ở trong người giám mục và giám mục ở trong Giáo Hội: Giáo Hội là dân liên kết với chức tư tế của giám mục, là đàn chiên quy tụ chung quanh mục tử của mình.[3] Cũng chính tư tưởng này đã hướng dẫn Công Đồng biên soạn sắc Lệnh "Christus Dominus" , mô tả Giáo Hội địa phương là một phần của dân Chúa, đã được giao cho vị mục tử của Giáo Hội ấy; vị này được linh mục đoàn giúp đỡ, sẽ tụ tập dân Chúa lại trong Thánh Thần, dựa vào Tin Mừng và bí tích Thánh Thể.[4]
Hiện nay cũng có một vài sự kiện chắc chắn rất tích cực như nhiều tín hữu khao khát mãnh liệt và mới đây lại ngỏ ý muốn được sống hiệp thông với giám mục của mình, muốn có dịp gặp gỡ riêng ngài, trao đổi với ngài, đối chiếu các tư tưởng của hai bên khi phân tích và kiểm tra các tình huống tại chỗ và khi lên các chương trình mục vụ. Qua những yêu cầu cấp thiết của những người có tình cảm Giáo Hội sâu sắc, ta đã thấy gói ghém một nhu cầu là giám mục cần phải ngày càng trở nên dấu hiệu sáng tỏ về sự hiệp thông bác ái ấy[5]; mà chính Giáo Hội cũng là bí tích của sự hiệp thông ấy trong thế giới.
2. CÁC YÊU CẦU VÀ KHÓ KHĂN MỚI ĐẶT RA CHO VIỆC THI HÀNH TÁC VỤ GIÁM MỤC
Sự kiện trên đây, tuy đã được giải đáp về mặt cơ chế qua việc thành lập các cơ quan chuyên biệt giúp người ta tham gia vào sinh hoạt của Giáo Hội địa phương, như Hội Đồng Linh Mục, Hội Đồng Mục Vụ và các Công Nghị giáo phận, nhưng nó cũng đặt ra cho các giám mục, khi thi hành tác vụ của mình, nhiều khó khăn riêng ngoài những khó khăn chung. Chẳng hạn, có một mối nguy là một ngày sống của giám mục sẽ luôn luôn đầy ắp đủ mọi hình thức dấn thân, hết hình thức này đến hình thức kia. Ngài cũng có thể bị lôi kéo ra khỏi những bổn phận ưu tiên của mình do những hoàn cảnh đặc biệt, cũng xuất phát từ vai trò xã hội của người giám mục trong xã hội dân sự của một số nước hiện nay. Thế nên, giám mục hoàn toàn bị ngập đầu ngập cổ với đủ mọi thứ thỉnh nguyện, tới mức người ta phải coi nặng khía cạnh hành chánh và văn phòng hơn là những quan hệ cá nhân và thiêng liêng giữa người mục tử với đàn chiên của mình. Vì vậy, chính vai trò có tính cách công chúng của người giám mục bắt ngài phải phân định cách nghiêm túc.
Thêm vào đó còn có những khó khăn khác như do lãnh thổ giáo phận mà ngài coi sóc quá rộng lớn, số các tín hữu quá đông, hay do ở nhiều nơi người ta vẫn còn giữ quan niệm giám mục là nhân vật quan trọng và thần thế tới mức ta có thể tiếp xúc với ngài để được đặc ân này hay những thuận lợi kia.
Thật ra, sự khó khăn nói tới ở đây chính là làm sao cho mình thực sự trở nên "mọi sự cho mọi người" (1Cr 9,22). Tuy nhiên, trong bất kỳ tình huống nào, người giám mục trong những dấn thân hằng ngày của mình, cũng phải tìm cách tạo ra sự quân bình đúng đắn giữa việc cai quản nội bộ trong cộng đoàn mình với bổn phận truyền giáo để loan Tin Mừng cho con người. Ngài cũng cần tìm cho được sự quân bình giữa việc chiêm niệm và hoạt động.

Ngoài ra, vì danh dự của người giám mục thật sự đặt trên vai ngài một trọng trách nặng nề và mệt mỏi, nên cần phải lưu ý tới tầm quan trọng của việc mời gọi các linh mục cộng tác với ngài. Trong tình hình hiện nay, đây không phải chỉ là một sự tính toán thực tiễn, bởi vì sự cộng tác cần thiết của các linh mục phát xuất từ chính bí tích truyền chức mà họ đã lãnh nhận.[6] Đàng khác, mọi Kitô hữu đều có quyền và có bổn phận, tùy theo ơn gọi và đoàn sủng Thánh Thần ban cho mình, cộng tác vào sứ mạng của Giáo Hội cách cá nhân hay qua tập thể. Thế nên, bổn phận của giám mục là nhìn nhận và tôn trọng sự đa nguyên lành mạnh trong các chức vụ, sẵn sàng đón nhận, đề cao và tổ chức sự đa nguyên ấy dựa vào chính sự khôn ngoan của người mục tử, nhờ đó, tránh cho các năng lực của Giáo Hội không bị phân tán khắp nơi cách vô ích và tai hại.[7] Nếu làm được như thế, các giám mục sẽ có mặt trong Giáo Hội của mình không phải chỉ nhờ nhân cách mạnh mẽ của bản thân mà đúng hơn trong tư thế là một thừa tác viên, người thể hiện được sự hiệp thông.
3. NHỮNG ĐIỂM CẤP THIẾT TRONG CỘNG ĐOÀN KITÔ HỮU
Đối với Giáo Hội, Công Đồng Vatican II đúng là một ơn do Chúa ban và là một ân huệ to lớn của Chúa Thánh Thần. Công Đồng không những đã đem lại nhiều hoa trái thiêng liêng cho Giáo Hội hoàn cầu cũng như cho các Giáo Hội địa phương, mà còn cho mọi người trong thời đại này nữa. Đặc biệt, Công Đồng đã thực hiện một nghĩa cử yêu thương sâu xa đối với Chúa, với nhân loại và với Giáo Hội, khi trình bày bản chất và cơ cấu căn bản của Giáo Hội đúng như Chúa muốn, ơn gọi đại kết cũng như hoạt động tông đồ và truyền giáo của Giáo Hội.
Tại Đại Hội Bất Thường lần thứ 2 của THĐGM năm 1985, các nghị phụ đã hoan hỉ và phấn khởi ghi nhận rằng một bộ phận tín hữu đông đảo đã hưởng ứng các lời mời gọi của Chúa Thánh Thần và đã hăng hái tiếp nhận giáo lý của Công Đồng, tha thiết với giáo lý ấy tới mức cho thấy rõ ý thức Giáo Hội ("sensus Ecclesiae") ngày càng tăng. Ý thức ấy bao gồm sự hiểu biết sâu sắc hơn về Giáo Hội, lòng yêu mến đậm đà hơn đối với Giáo Hội và sự đồng cảm mãnh liệt hơn đối với Giáo Hội ("sentire in Ecclesia"). Nhờ ý thức ấy mà nỗ lực truyền giáo được tăng cường, việc đối thoại đại kết được đẩy mạnh, hy vọng có ngày sự hiệp nhất hữu hình giữa các Kitô hữu được tái lập.

Cách riêng đối với các Kitô hữu giáo dân, người ta thấy có sự gia tăng thật sự trong ý thức về việc đồng trách nhiệm và trong ước muốn tham gia vào đời sống và sứ mạng của Giáo Hội. Sau Công Đồng, bên cạnh các hiệp hội truyền thống, người ta có dịp chứng kiến sự khai sinh và phát triển của nhiều tập thể mới, dù mang những bộ mặt và theo đuổi những mục tiêu chuyên biệt khác nhau, nhưng đều tham gia vào sứ mạng của Giáo Hội là loan báo Tin Mừng như một nguồn hy vọng và đổi mới cho xã hội hôm nay.[8] Cộng đoàn các tín hữu cũng cảm nhận ngày càng rõ rệt hơn nhu cầu phải đề cao "thiên hướng" của người phụ nữ. Còn đời tu - từng được Đại Hội Thường Lệ vừa qua của Thượng Hội Đồng chọn làm đối tượng suy tư, sau đó được giới thiệu trong Tông Huấn "Vita consecrata" - cũng đang được phát triển trên thế giới, thậm chí một cách rất bất ngờ tại một số Giáo Hội. Đi đôi với những hiện tượng đáng phấn khởi ấy là có một cao trào mới của các tín hữu muốn gắn bó với Đức Kitô, là ánh sáng muôn dân và là niềm hy vọng của con người.
4. GIẢM SÚT LÒNG ĐẠO ĐỨC VÀ THÁI ĐỘ CHỦ QUAN TRONG ĐỨC TIN
Tuy nhiên, cách riêng trong các dân có truyền thống Kitô giáo lâu đời, người ta phải nhìn nhận sự tăng trưởng của Giáo Hội như vừa nói trên đây không đủ để chống đỡ ảnh hưởng của chủ nghĩa duy thế tục, lâu nay đã gặm nhấm những cội rễ tôn giáo nơi tâm hồn con người. Trong Giáo Hội, ta thấy có nhiều hiện tượng đáng lo ngại và tiêu cực, như tình trạng dốt nát về đạo, đã xuất hiện và thậm chí ngày càng tăng nơi nhiều tín hữu; hiệu quả rất yếu ớt của việc giảng dạy giáo lý, như bị chết ngạt trong những thông điệp được phát đi trên các phương tiện truyền thông xã hội một cách dồi dào và thuyết phục hơn nhiều; chủ nghĩa đa nguyên về thần học, văn hoá và mục vụ được hiểu một cách không đúng đắn, người ta giữ mãi lòng nghi ngờ và thiếu khoan dung đối với các vị nắm quyền giảng dạy trong Giáo Hội; việc triển khai sứ điệp Tin Mừng một cách phiến diện và giản lược.[9]
Trong số những hậu quả của các hiện tượng vừa kể, phải lưu ý tới sự xuất hiện của "một tình trạng thiếu hăng say đạo đức (...), và tình trạng ấy càng nghiêm trọng hơn khi xuất phát từ nội tâm mỗi người; tình trạng ấy được biểu lộ qua sự mệt mỏi và hết hứng thú, sự tẻ nhạt và hết quan tâm, nhất là thiếu niềm vui và hy vọng".[10] Thêm vào đó còn có tình trạng đoạn giao giữa đức tin và cuộc sống, giữa việc tiếp nhận Tin Mừng và việc diễn dịch nó ra trong những thái độ và lựa chọn hằng ngày, cũng như trong hàng ngũ các tín hữu đã thấy xuất hiện tình trạng chủ quan chủ nghĩa, đôi khi quá dáng, đặc biệt trong lãnh vực đạo đức và luân lý, nhưng cả trong các nội dung của đức tin nữa.
Rất tiếc, song song với sự phát triển chủ nghĩa cá nhân, ta đã thấy có hiện tượng chủ quan trong đức tin nơi đông đảo các Kitô hữu, dẫn tới việc bớt nhạy cảm với nội dung khách quan và chung của giáo lý đức tin. Ngược lại, người ta thấy phổ biến thái độ gắn bó một cách chủ quan với những gì mình thích và những gì hợp với "kinh nghiệm" riêng của mình. Đứng trước những khó khăn ấy, các giám mục, rồi các linh mục, phải gia tăng nỗ lực làm cho Lời Chúa đến tai người tín hữu một cách toàn vẹn, để họ có thể tiếp nhận được vẻ đẹp và tình yêu mãnh liệt, không bị biến dạng, đối với "chân lý đã từng cứu thoát họ" (2Tx 2,10).
Trong Tông Huấn "Veritatis splendor" (25-3-1995), qua đó Đức Gioan Phaolô II đã giới thiệu lại các nền tảng hành động của người Kitô hữu, cũng như tương quan thiết yếu giữa chân lý và tự do, ta lại có dịp thấy nhu cầu cần giới thiệu Tin Mừng cũng như giáo huấn uy tín của Giáo Hội về các nguyên tắc xây dựng, nâng đỡ đời sống luân lý.
Thật ra, phải nhìn nhận rằng các giám mục đã từng thi hành Quyền Giáo Huấn của mình một cách khá đơn giản khi đời sống Giáo Hội còn diễn ra trong những điều kiện khác, khi Giáo Hội còn có thể ảnh hưởng lên các nền văn hoá một cách dễ dàng và khi Giáo Hội còn có thể góp phần tìm ra những hình thức diễn đạt văn hoá. Nhưng trong cơn khủng hoảng hiện nay về ngôn ngữ và tư duy, chắc chắn mọi sự đã trở nên gay gắt hơn, khó khăn hơn. Thậm chí, chính trong khi công bố sự thật, các giám mục đã thấy rõ đức tin và lòng can đảm của mình đang bị thách đố và thử thách nặng nề.
Dẫu vậy, bổn phận không thể sang nhượng cho ai, tức là bổn phận làm người bảo vệ Chân Lý, vẫn là bổn phận của các giám mục, trong khi vẫn không quên rằng có rất nhiều vấn đề mà một tín hữu hôm nay sẽ gặp phải khi muốn tiến bộ trong sự hiểu biết đức tin. Thánh tông đồ Phaolô khuyến khích mỗi giám mục hãy luôn luôn múc lấy sinh lực từ ân sủng ở trong Đức Kitô (x. 2Tm 2,1), hãy loan báo Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh, bất kể thuận lợi hay không, hãy tỉnh táo đề phòng trong khi chịu đựng đau khổ, hãy chu toàn công việc của người loan báo Tin Mừng (x. 2Tm 4,1-5).

Để đạt được mục tiêu ấy, rất cần giữ sự hiệp thông phẩm trật với đức giám mục Rôma một cách linh hoạt và rõ ràng, cũng như gia tăng các liên hệ đồng đẳng với các giám mục khác, cách riêng trong những kỳ đại hội của các giám mục.[11]
5. ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Gia đình là một trong những "lộ trình" quan trọng nhất của Giáo Hội ở ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba này, như Đức Gioan Phaolô II đã tuyên bố trong Tông Thư vào ngày 2-2-1994. Nếu quan sát sinh hoạt của Giáo Hội hiện nay, ta sẽ thấy các Kitô hữu ngày càng xác tín vợ chồng và gia đình Kitô-giáo chính là nguồn đem lại ơn thánh hoá cho họ. Cách riêng các vợ chồng ngày càng ý thức về ơn gọi nên thánh của mình, về ý nghĩa tích cực, đậm tinh thần Kitô giáo của tính dục. Trong lãnh vực này, nhiều thập niên qua, Giáo Huấn của Công Đồng Vatican II đã đóng góp phần chính yếu, như được phản ánh qua Hiến chế mục vụ "Gaudium et spes" và sau đó là nhiều văn kiện khác của Toà Thánh cũng góp phần vào, từ Thông điệp "Humanae vitae" của Đức Phaolô VI đến Tông huấn "Familiaris consortio" của Đức Gioan Phaolô II.
Tuy nhiên, trong thời đại chúng ta, gia đình đang phải đương đầu với rất nhiều hiểm nguy, từ não trạng tiêu thụ tới chủ nghĩa hưởng lạc lan tràn khắp nơi, từ tinh thần cho phép dễ dãi trong luân lý tới sự quảng cáo nguy hiểm cho những hình thức lệch lạc tính dục. Không thiếu chi những lần các phương tiện truyền thông xã hội giới thiệu những cách sống làm hạ giá con người, và vì thế, đi ngược lại luân lý đã được Tin Mừng vạch ra và được giảng dạy trong Giáo Hội, như những kiểu sống xã hội lý tưởng. Thêm vào đó là huyền thoại về sự "bùng nổ dân số", cũng như những lo ngại về nạn nhân mãn có thể ngăn không cho loài người thỏa mãn các nhu cầu sinh tử của mình. Những hiện tượng và những lo ngại này đã mở đường cho một làn sóng phá thai và giết người êm ái, nhất là khi chúng lại được tiếp sức bởi một thứ "văn hoá chết chóc" có mặt khắp nơi và nhiều khi đang âm ỉ phá hoại, mà Đức Gioan Phaolô II đã lên tiếng chống đối trong Thông Điệp "Evangelium vitae" (25-3-1995).
Sau cùng, trong lãnh vực sự sống con người, người ta đang lái khoa sinh vật và khoa điều khiển sự sống về phía các sức lực ẩn khuất nhất của thiên nhiên, sử dụng các phương pháp táo bạo nhất để làm chủ, sử dụng các sức lực ấy và đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên, ai cũng rõ những nguy cơ trầm trọng xuất phát từ chỗ người ta đã vượt qua các giới hạn và đã có nhiều lạm dụng. Cũng không ai là không biết những vấn nạn sâu xa về luân lý và nhân học nảy sinh từ những việc làm, tuy nhắm tới sự sống và phẩm giá của con người, lại trở thành những hình thức không thể chấp nhận được, làm biến dạng và biến đổi chính sinh mạng và phẩm giá con người.
Tất cả những điều này không ngừng làm các giám mục trăn trở và lo âu, vì các ngài ý thức rằng gia đình chỉ vững mạnh được khi nó được tổ chức phù hợp với tiếng gọi của Cha Trên Trời, Ngài kêu gọi con cái mình hãy sống trung thành với dây ràng buộc vợ chồng, hãy sinh sản một cách có trách nhiệm và hãy dấn thân với tất cả tình yêu vào việc giáo dục con cái.

Trong một thời kỳ có nhiều người xem ra đã không còn biết liên kết giữa sự thật, sự thiện với tự do nữa, các giám mục càng cảm thấy cần phải nhắc lại lời thánh Irênê, giám mục Lyon một cách khẩn trương: "vinh quang của Thiên Chúa chính là con người được sống, và được sống chính là được nhìn thấy Chúa".[12] Thế nên, con người cần phải sống theo những gì mà phẩm giá làm thụ tạo của Chúa và làm con trong Ngôi Con - Đấng cứu chuộc loài người - đòi phải thi hành. Một trong những hình thức sống bác ái với tha nhân tuyệt vời nhất là không cắt xén giáo lý cứu độ của Đức Kitô, mỗi khi công bố chân lý, với tất cả sự nhẫn nại và nhân hậu như Chúa Giêsu đã nêu gương.
6. ƠN GỌI THI HÀNH TÁC VỤ LINH MỤC VÀ SỐNG ĐỜI TU TRÌ
Trong những lần thảo luận của các Đại Hội THĐGM, nhất là của Đại Hội năm 1990, ta luôn luôn thấy các giám mục tỏ ra quan tâm tới việc đào tạo các linh mục tương lai cũng như âu lo về tình trạng thiếu linh mục. Một đàng, trong nhiều Giáo Hội địa phương, người ta ghi nhận có một sự bừng tỉnh và gia tăng các ơn gọi linh mục một cách rất đáng khích lệ, mà ta phải cảm tạ Chúa; nhưng đàng khác, trong những Giáo Hội khác, cách riêng tại Tây Âu và Bắc Mỹ, vẫn có sự sút giảm thấy rõ trong ơn gọi linh mục, và điều này càng trở nên trầm trọng hơn khi các linh mục đang dấn thân thi hành mục vụ đã già nua.
Thậm chí, cả ở những nơi ai cũng cảm thấy rõ có sự gia tăng ơn gọi, luôn luôn có một quãng cách giữa số lượng ơn gọi gia tăng và những đòi hỏi của các tín hữu ngày một nhiều.
Những điều này tạo ra nhiều khó khăn rõ ràng cho việc thi hành tác vụ của các giám mục đối với một số các giám mục, còn gây ra nhiều ưu tư sâu xa. Thật vậy, cộng đoàn Kitô hữu nào cũng đều múc được sức sống liên tục từ bí tích Thánh Thể mà thừa tác viên cử hành bí tích là các linh mục. Đó là chưa kể: sự có mặt của người linh mục chính là tiền đề cần thiết giúp Giáo Hội tăng trưởng và là mấu chốt đem lại sức sống thiêng liêng cho Giáo Hội.
Một nhu cầu khác, cũng rất nghiêm trọng đối với Giáo Hội, là cần có nhiều ơn gọi sống đời tu trì, vì Giáo Hội luôn luôn cần có những người làm chứng cho "thời đại mai sau". Sự có mặt của những người này là điều kiện cần thiết để thực hiện công cuộc "tân phúc âm hoá". Chính vì lẽ đó, cổ võ ơn gọi thi hành tác vụ thánh và ơn gọi sống đời tu trì, cũng như đào tạo thế nào cho thích đáng, phải là một bổn phận của toàn thể dân Chúa. Đó phải là ưu tư trên hết của mọi giám mục. Có như thế thì mới bảo đảm mở ra một lộ trình đầy hy vọng để truyền bá Tin Mừng và xây dựng Thân Thể Đức Kitô, tức là Giáo Hội.
7. SỰ THÁCH ĐỐ DO CÁC GIÁO PHÁI VÀ CÁC PHONG TRÀO TÔN GIÁO MỚI ĐẶT RA

Sự chủ quan trong đức tin và việc cho phép quá dễ dãi trong luân lý, cũng như sự thiếu đào tạo trong tôn giáo và kinh nghiệm quá ít trong đời sống phụng vụ và Giáo Hội, tất cả những điều này đã khiến cho các tín hữu của rất nhiều cộng đoàn Kitô giáo tại châu Âu, châu Mỹ và châu Phi bị cám dỗ trước cảnh tượng các giáo phái được khai sinh - nhung nhúc hay các "hình thức mới của tâm tình tôn giáo" xuất hiện, như hiện nay người ta quen gọi. Đại Hội Bất Thường lần thứ hai của THĐGM năm 1985 đã dành thì giờ tìm hiểu các hình thức ấy, và nhân dịp đó, tự hỏi xem ý thức về sự linh thiêng có được biểu lộ đủ hay không trong các giới Công Giáo.[13] Sau đó, Toà Thánh đã lên tiếng về vấn đề này, qua một tài liệu hết sức đặc biệt do nhiều Thánh Bộ tại Rôma biên soạn.[14] Các Hội Đồng Giám Mục, nhất là các Hội đồng chung của các giám mục châu Mỹ Latin, cũng đã suy nghĩ về đề tài này. Đức Gioan Phaolô II thường đề cập tới vấn đề này mỗi khi tiếp đón các giám mục tới viếng thăm "ad limina"  hay trong các chuyến đi làm việc tông đồ của mình.
Những "phong trào tôn giáo mới" này chắc hẳn không giống với những công cuộc tìm kiếm Thiên Chúa đúng đắn, và chính vì thế, người ta thường coi chúng như là một sự khác biệt cả trong giáo lý lẫn trong phương pháp làm việc, đối chọi với Giáo Hội Công giáo và các Giáo Hội hay Cộng Đồng Giáo Hội khác.
Cần phải chống lại việc phổ biến các phong trào tôn giáo mới ấy bằng cách tổ chức các hoạt động mục vụ đặt con người làm trung tâm, không quên chiều kích cộng đoàn và khát vọng của con người là muốn được quan hệ một cách cá nhân thực sự với Chúa. Dù sao, chính sự có mặt của các phong trào ấy bắt ta phải tổ chức lại việc huấn giáo trên mọi cấp độ, thích nghi sao cho phù hợp với não trạng của các dân tộc và ngôn ngữ của họ, luôn luôn lấy Đức Kitô vô cùng phong phú, là vị Cứu tinh duy nhất của loài người, làm trung tâm. Các giám mục của các Giáo Hội địa phương có hiện tượng đó phải là những người trước hết có nhiệm vụ tổ chức hoạt động mục vụ của Giáo Hội mình theo đường hướng ấy và bảo vệ các giá trị nằm trong cách sống đạo của đại chúng. Có thế, ta mới hy vọng ngăn chặn được sự chiêu mộ nhiệt tình của các giáo phái, mà không phải mở những đợt công kích cá nhân hay đưa ra những lập trường ngược với tinh thần Tin Mừng, nhưng vẫn sống tinh thần bác ái Kitô giáo, sẵn sàng tiếp đón người khác để phúc âm hoá họ.
8. BỐI CẢNH CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

Những yêu cầu bức bách đang xuất hiện trong đời sống Giáo Hội, mà trên đây ta chỉ tóm tắt một số, có lẽ tiêu biểu nhất, hẳn có liên hệ với lịch sử nhân loại, trong đó Giáo Hội đang sống, và thậm chí có thể chịu ảnh hưởng của lịch sử nhân loại ấy. Thật vậy, Giáo Hội là dân Thiên Chúa, đang lữ hành trên đường tìm kiếm thành thánh vĩnh cửu của tương lai (x. Dt 13,14). Mặc dù do ơn gọi Giáo Hội vượt lên trên thời gian và mọi ranh giới của các quốc gia vì Giáo Hội phải mở rộng ra cho tới mọi miền trên địa Cầu, nhưng cũng theo giáo huấn của Công Đồng Vatican II, Giáo Hội cũng tham gia vào lịch sử loài người,[15] tham dự vào các biến cố của đời người, chia vui sẻ buồn với loài người, hy vọng và lo lắng với con người, nhất là với những người khó nghèo và đau khổ.[16]
Tuy nhiên, so với thời kỳ Công Đồng được tiến hành, sân khấu thế giới hiện nay có rất nhiều thay đổi lớn. Vả lại, các nghị phụ Công Đồng lúc ấy không thể nào tiên liệu rất nhiều biến chuyển mới xảy ra gần đây, hoặc ít ra không thể tiên liệu những biến chuyển ấy dưới hình thức mà chúng đã xuất hiện.
9. MỘT SÂN KHẤU THẾ GIỚI KHÁC BIỆT
Thật vậy, các quốc gia và các khu vực quốc tế hiện nay rất khác: những tiến bộ do khoa học và kỹ thuật thực hiện trong mọi lãnh vực đã đặt ra nhiều vấn đề mới; trong khoa điều khiển sinh học và trong lãnh vực truyền thông đã có nhiều cuộc cách mạng kỹ thuật thật sự, mở ra những khả năng mới cho phép ta kiểm soát thiên nhiên, các quy trình xã hội cũng như chính sự sống của con người. Tình trạng vô thần hiện nay cũng khác, không còn liên hệ với một hình thức của chủ nghĩa vô thần khoa học hay nhân bản, nhưng chính là một hình thức của chủ nghĩa vô thần thực tế và lãnh đạm với tôn giáo. Thật ra, hình thức vô thần này luôn luôn có mặt trong lịch sử, nhưng ngày nay, nó xâm lấn mạnh mẽ đặc biệt ở những miền có truyền thống Kitô giáo lâu đời.

Từ đó, bên cạnh những khả năng to lớn được mở ra, ta cũng thấy nhiều nguy cơ mới đặt ra cho đời sống con người. Những thách đố do các hành vi của con người bị biến động sâu xa đặt ra cho Giáo Hội thật là nhiều, không thể kể hết ra đây được. Chúng đụng chạm tới chính con người và đời sống con người, từ khi thụ thai đến khi kết thúc trong cái chết, đụng chạm cả đến môi trường sống khiến cho sự quân bình của môi trường ấy cũng bị đe dọa, khả năng sống chung của con người trong xã hội, sự phát triển của các dân tộc, cũng như sức mạnh bất ngờ của các phương tiện truyền thông mới mẻ trong việc tạo ra hay thay đổi một nền văn hoá, trong việc ảnh hưởng tới các tiến trình kinh tế và chính trị. Trong một tình huống như vậy, Tông thư "Centesimus annus" đã giới thiệu ba cấp môi sinh cần nghiên cứu là môi trường chung quanh, con người và xã hội.[17]
Trong hậu bán thế kỷ này, hoà bình thế giới cũng được nhắc tới dưới nhiều hình thức khác nhau. Vấn đề hoà bình thế giới được lồng vào một khuôn khổ mới là tình trạng "toàn cầu hoá". Cách riêng, nhờ sự đóng góp của thế giới truyền thông, thế giới đang trở nên ngày càng giống như một "ngôi làng toàn cầu". Nhưng, ngược lại, người ta cũng thấy xu hướng phân mảnh, mà rõ nhất là khẳng định thái quá và đôi khi có phần nào tưởng tượng về những bản sắc văn hoá, những bản sắc chính trị, xã hội và tôn giáo khác nhau.
Thế là trong khi các bức tường cũ bị sụp đổ, ta lại thấy nhiều hàng rào mới được dựng lên. Nêu hiện nay không có những cuộc xung đột rộng lớn thì vẫn còn những cuộc xung đột địa phương hay trong nội bộ, làm các lương tâm của mọi dân tộc trên khắp thế giới phải suy nghĩ. Số nhân mạng lớn lao bị giết hại, làn sóng khủng khiếp những người di cư, lưu đày và thoát nạn, bị thương tật trong thể xác và tâm hồn, chính là một hậu quả hết sức tiêu cực cản ngăn sự phát huy các quyền con người, khiến cho mọi tiến trình hoà bình lúc nào cũng bị rơi vào khủng hoảng và gây trở ngại lớn cho công ích của xã hội.
Thật là lệch lạc khi chủ trương lấy các lý do tôn giáo biện minh cho các cuộc đấu tranh và xung đột với người khác và điều này thường được lặp đi, lặp lại nhiều lần. Chắc chắn và rõ ràng là phải lên án chủ nghĩa bảo thủ cực đoan hay cuồng tín tôn giáo. Thế nhưng, ta cũng cần phải tìm hiểu cẩn thận các động cơ dẫn tới chủ nghĩa này vì thực tế mà nói, chủ nghĩa này không bao giờ chỉ mang tính tôn giáo. Nhiều khi, các tình cảm tôn giáo bị sử dụng làm phương tiện để đạt được các mục tiêu chính trị hay kinh tế. Nặng nề không kém hiện tượng trên đây là sự nghèo khổ và túng thiếu của nhiều dân tộc, trong khi đó, ý thức liên đới nhân loại tại các nước phát triển hơn về kinh tế lại ngày càng sút giảm. Ngày nay ranh giới giữa giàu nghèo không chỉ có giữa các nước giàu và các nước nghèo, hay nước đang phát triển, mà cả trong nội bộ của chính các nước đó nữa.
Ngày nay, vấn đề xã hội đã trở nên phức tạp hơn vì văn hoá giữa các nước quá khác nhau và vì hệ thống giá trị giữa các sắc dân không phải lúc nào cũng phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế của họ, thậm chí còn tạo ra những hố ngăn cách lớn hơn nữa. Thêm vào đó là làn sóng người mù chữ gia tăng, những hình thức mới mẻ để bóc lột hay đàn áp kinh tế, xã hội, chính trị và cả tôn giáo nữa đang xuất hiện xúc phạm đến con người và các quyền con người. Những sự kỳ thị đủ loại, cách riêng là sự kỳ thị ghê tởm nhất là sự kỳ thị dựa trên sự khác biệt về chủng tộc nổi lên khắp nơi. Trong số các hình thức nghèo khó mới, phải kể tới việc khó khăn hay hoàn toàn không có khả năng leo tới những trình độ cao hơn về giáo dục, hoặc bất lực tham dự vào việc kiến tạo chính quê hương của mình, phủ nhận hay hạn chế các quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo.
Ta còn có thể kéo dài danh sách này nhiều hơn nữa, bằng cách kể thêm những tác nhân khác đã khiến cho tâm hồn và tinh thần nhiều người phải mệt mỏi, làm cho họ mất hết hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Chẳng hạn, tình trạng tham nhũng trong đời sống công cộng đang có mặt tại nhiều nước; thị trường ma tuý và hình ảnh khiêu dâm đã ăn mòn ý thức luân lý, sức kháng cự và những ước mơ của các dân tộc; những khối lượng tiền bạc khổng lồ dùng để trang bị vũ khí, không phải chỉ để tự vệ mà còn để gây ra tử vong; cách cư xử thiếu đúng đắn trong các quan hệ quốc tế và trong các cuộc trao đổi thương mại làm hại cho những nước đang phát triển; những hạn chế đặt ra cho việc tự do tuyên xưng đức tin vẫn còn thấy áp dụng tại một số nước.
10. MỘT VÀI HƯỚNG MỞ RA CHO CON NGƯỜI HÔM NAY NUÔI HY VỌNG
Khi nêu lên cũng như khi tìm hiểu các sự bức bách trên đây, dù vẫn biết các vấn đề đặt ra thật nghiêm trọng và sâu sắc, Giáo Hội tuy đang chuẩn bị bước vào Ngàn năm thứ ba của Kitô giáo, vẫn tiếp tục lạc quan, một sự lạc quan xây dựng trên niềm hy vọng của Kitô giáo như đã được trình bày trong Hiến chế mục vụ "Gaudium et spes" của Công Đồng Vatican II. Thật vậy, nếu quan sát lịch sử nhân loại ở ngưỡng cửa Ngàn năm mới này một cách kỹ lưỡng hơn là không thể không nhìn ra những tín hiệu hy vọng; thậm chí, lịch sử dường như đang được sưởi ấm bởi một dòng nước tự do rất nóng, có thể làm rung động nhiều người trên khắp thế giới.

Trong diễn văn đọc tại tổ chức Liên Hiệp Quốc ngày 5-10-1995, Đức Gioan Phaolô II đã đặc biệt chú ý tới dòng lịch sử này và đã dựa vào những đòi hỏi tất yếu của luật luân lý phổ quát để làm sáng tỏ ý nghĩa của lịch sử ấy. Ngài đã kêu gọi các quốc gia hãy mạnh dạn đánh liều với sự tự do của mình, bằng cách tái khẳng định các quyền căn bản của con người, phẩm giá và giá trị của con người trong những bối cảnh mới của một xã hội đa chủng tộc và toàn cầu hoá kinh tế, nhằm tìm cách tạo lập một thế quân bình đúng đắn giữa cá biệt và phổ quát. Thật vậy, quyền lợi của quốc gia chẳng qua là quyền lợi con người được nhìn ở cấp độ cộng đoàn. Từ đó, ta mới thấy tôn trọng những sự "khác biệt" là đã hiểu mầu nhiệm con người cách sâu xa hơn.[18]
Khi bước từ Ngàn năm Kitô giáo thứ hai sang Ngàn năm Kitô giáo thứ ba, con người đã cho thấy mình tỏ ra quan tâm một cách thấy rõ, dù vẫn còn yếu ớt so với những lo âu và ưu tư của mình, tới các giá trị tinh thần, cũng như đang có nhu cầu âm ĩ là sống nội tâm nhiều hơn, chú ý hơn tới các trách nhiệm của mình đối với thiên nhiên, ý thức sâu sắc hơn tới các vận hội hiện tại nhắm xây dựng một nền văn minh mới, tốt đẹp hơn, và một thế giới trong đó mọi người đều được kéo vào cộng tác với nhau cách can trường và liên đới đề phát huy công lý và hoà bình, cũng như để đánh thức ý thức luân lý trở lại, hầu tôn trọng phẩm giá và quyền lợi con người trong thế giới.
Câu hỏi suy tư:
1. Giám mục đã coi việc dấn thân loan báo Tin Mừng quan trọng tới mức nào? Có coi việc dấn thân ấy là ưu tiên không? Có để cho các nhiệm vụ khác làm xao lãng nhiệm vụ ấy không? Những khía cạnh nào trong đời sống giáo phận gây khó khăn cho sứ mạng loan báo Tin Mừng của giám mục? Và những khía cạnh nào hỗ trợ ngài trong sứ mạng ấy?
2. Các tín hữu thường có cái nhìn nào về sứ mạng của giám mục? Cái nhìn của họ về sứ mạng của người giám mục có phù hợp với cái nhìn của chính giám mục không?
3. Các tín hữu thường phản ứng thế nào trước lời giảng dạy của giám mục về các vấn đề đức tin và luân lý? Họ có phân biệt lời giảng dạy của giám mục với lời giảng dạy của Đức Giáo Hoàng không?
4. Giám mục và các nhà thần học có quan hệ với nhau như thế nào: quý trọng, cộng tác với nhau để loan báo Tin Mừng hay nghi ngại nhau? Phản đối? Trong các lãnh vực nào?
5. Thừa tác vụ của giám mục đang phải đương đầu với những thách đố nào về mặt văn hoá và xã hội, nhất là khi loan báo Tin Mừng? Giám mục đối phó với các thách đố ấy thế nào? Đâu là những hoàn cảnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc loan báo Tin Mừng? Đâu là những hoàn cảnh cản trở việc ấy?

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 1 (Tháng 12 năm 1998)

[1] Xem "Lumen gentium”, 4 và Sắc lệnh về đại kết "Unitatis redintegratio", 2.
[2] Xem Đức Gioan Phaolô II, "Tertio millennio adveniente" (10-11-1994), 33 : AAS 87 (1995) 25-26.
[3] Xem thánh Cyprianô, Thư 69, 8 : PL 4, 419.
[4] Xem Sắc lệnh về chức vụ giám mục "Christus Dominus" ,11.
[5] "Lumen gentium", 23.
[6] Xem như trên, 28 ; "Christus Dominus", 7.
[7] Xem "Ecclesiae imago", 95-98.
[8] Xem Đức Gioan Phaolô II, "Christifideles laici" (30-12-1988). 29 : AAS 81 (1989) 443-445
[9] Xem Đức Gioan Phaolô II, Tông Huấn sau Thượng Hội Đồng "Pastores dabo vobis" (25-3-1992), 7 : AAS 84 (1992) 666- 668.
[10] Đức Gioan Phaolô VI, Tông Huấn "Evangelii nuntiandi" (8-12-1976), 80 : AAS 68 (1976)73.
[11] Xem "Christus Dominus'', 37.
[12] Thánh Irênê, "Chống lạc giáo" , IV, 20,7 : sc 100/2, tr.648, 1. 180-181.
[13] Xem THĐGM Bất Thường 1985, Tông thư kết thúc "Ecclesia sub verbo Deo mysteria Christi celebrans pro salute mundi” (7-12-1985), II, A.l.
[14] Xem Văn phòng chuyên lo sự hiệp nhất các Kitô hữu ; Văn phòng chuyên lo những người ngoài Kitô giáo ; Văn phòng chuyên lo những người không tin ; Hội Đồng Toà Thánh đặc trách văn hoá ; bản báo cáo "Le phénomène des sectes ou nouveaux mouvements religieux" (7-5-1986).
[15] Xem "Lumen gentium”, 9.
[16] Xem "Gaudium et spes", 1.
[17] Xem Đức Gioan Phaolô II, Tông thư "Centesimus annus" (1- 5-1991), 38 : AAS 83 (1991) 841.
[18] Xem Đức Gioan Phaolô II, Diễn văn đọc tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 50, New York, số 2-10, nhà xuất bản đa ngữ Vatican.
 
BÀI 2:
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM XÁC ĐỊNH TÁC VỤ GIÁM MỤC
Đại Hội Bất Thường Lần Thứ Hai của Thượng Hội Đồng Giám Mục (THĐGM) đã chỉ ra sự hiệp thông ("koinonia") sẽ là ý niệm trung tâm của khoa Giáo Hội học của Vatican II. Đã có mặt trong truyền thống sống động của Giáo Hội và nằm trong di sản chung của Giáo Hội Đông và Tây gần như hết cả Ngàn năm thứ nhất Kitô giáo, khoa Giáo Hội học này chính là đường đưa tới sự canh tân đời sống Giáo Hội, cũng như là nền tảng cho tất cả công tác mục vụ của Giáo Hội bao lâu còn lữ hành trong lịch sử nhân loại.[1]
Giáo Hội là một mầu nhiệm hiệp thông, khẳng định ấy không phải chỉ áp dụng đối với những cơ cấu bên ngoài của Giáo Hội, mà đúng hơn có liên hệ tới bản chất sâu xa và thực tại bên trong của Giáo Hội, đụng chạm tới tâm điểm của mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Thật vậy, như Công Đồng đã nhắc, Giáo Hội là một dân được liên kết với nhau phỏng theo sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần;[2] Giáo Hội xuất phát từ Ba Ngôi, tồn tại trong Ba Ngôi và đang đi về với Ba Ngôi. "Những gì làm nên và xác định bản chất cũng như sứ mạng của Giáo Hội, theo ý muốn của Đấng vừa sáng lập vừa là nền tảng của Giáo Hội, cũng chính là bản chất và sứ mạng của chức giám mục".[3]

 
d

1. QUAN HỆ CỦA TÁC VỤ GIÁM MỤC VỚI THIÊN CHÚA BA NGÔI
Mỗi Kitô hữu có bản sắc thế nào thì được mặc khải trong mầu nhiệm Giáo Hội, vốn được coi là mầu nhiệm hiệp thông của Thiên Chúa Ba Ngôi khi hướng ra ngoài để truyền giáo. Vì thế, tác vụ giám mục có ý nghĩa và mục tiêu thế nào, điều đó cũng phải nhìn vào trong Giáo Hội của Thiên Chúa Ba Ngôi mà tìm hiểu, vì Giáo Hội được sai đi là để chiêu mộ các môn đệ và rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần (x. Mt 28,18-20).

Thế nên, nhìn vào các tương quan giữa mỗi giám mục với các tín hữu thuộc về Giáo Hội địa phương được giao cho ngài, ta phải thấy phản ánh những quan hệ giữa các ngôi Thiên Chúa, ba mà là một: Chúa Cha là nguồn của hết mọi quyền bính; Chúa Con là nguồn của mọi sự phục vụ và Chúa Thánh Thần là nguồn của sự hiệp thông. Như vậy, "ý niệm hiệp thông đã đưa ta tới tận nguyên thuỷ của đời sống Ba Ngôi Thiên Chúa, mà ta sẽ gặp lại nơi ân sủng và tác vụ giám mục. Giám mục là hình ảnh của Chúa Cha, là người tái hiện lại khuôn mặt của Đức Kitô Mục Tử Tốt Lành và là người đã nhận được đầy đủ Chúa Thánh Thần, để từ đó đưa ra những giáo huấn cũng như những sáng kiến góp phần xây dựng Giáo Hội, trong đó Thiên Chúa sẽ tự hiến mình cho các tín hữu đã được giao cho ngài, theo gương mẫu của Thiên Chúa Ba Ngôi, và qua lời nói cũng như các bí tích”.[4]
2. QUAN HỆ CỦA TÁC VỤ GIÁM MỤC VỚI ĐỨC KITÔ VÀ CÁC TÔNG ĐỒ
Tác vụ giám mục xuất hiện trong Giáo Hội như một tác vụ của những người kế tục sự nghiệp của các Tông Đồ. Truyền thống không bao giờ bị gián đoạn của Giáo Hội xưa nay vẫn coi các giám mục là những người "thuộc về dòng dõi xuất phát từ các Tông Đồ",[5] kế vị các Tông Đồ để làm mục tử của Giáo Hội.
Đành rằng chứng kiến Ngôi Lời nhập thể, chịu đóng đinh và sống lại thì chỉ có nhóm Mười Hai Tông Đồ. Nhưng thời kỳ từ lúc Chúa Kitô sống lại cho đến khi Người ngự đến trong vinh quang, sau khi các Tông Đồ qua đời, các giám mục chính là những người thừa kế sứ mạng ấy. Dựa trên đặc ân chỉ được ban một lần ấy (eph’aphax) cho các Tông Đồ, các giám mục do bí tích truyền chức sẽ có quyền hành hẳn hoi, để khi thi hành trong sự hiệp thông với đấng kế vị thánh Phêrô, các ngài "giúp làm cho khuôn mặt của Chúa Kitô được sống mãi trong thời gian, một khuôn mặt mà phải toàn thể Giáo Hội mới diễn tả được, bằng cách lưu ý đặc biệt hơn là làm sao cho các nét cơ bản và các điểm đặc biệt của khuôn mặt ấy, từng làm cho khuôn mặt ấy không giống với bất cứ khuôn mặt nào trên trần gian này, được bảo toàn nguyên vẹn".[6]
Đã được đặt làm thừa tác viên làm chứng cho tính tông truyền của toàn thể Giáo Hội theo như Chúa muốn, lại được mặc lấy quyền năng của Thánh Thần Chúa Cha, được Thánh Thần nâng đỡ và hướng dẫn ("Spiritus principalis"), các giám mục sẽ kế vị các Tông Đồ không những trong khi thi hành quyền bính và trong "quyền thánh chức" ("sacra potestas"), mà còn kế vị các Tông Đồ trong lối sống tông đồ, trong những đau khổ của đời tông đồ khi loan báo và truyền bá Tin Mừng, trong khi yêu thương và nhân hậu chăm sóc các tín hữu được giao cho mình, trong khi bảo vệ những người yếu đuối, trong khi quan tâm không ngừng lo cho dân Chúa.
Đã được bí tích Truyền Chức sung mãn làm cho nên giống Đức Kitô một cách hết sức đặc biệt và được kêu gọi tham gia vào sứ mạng của Đức Kitô, hẳn các giám mục sẽ làm cho Đức Kitô hiện diện một cách bí tích. Chính vì thế, các ngài được gọi "làm các vị đại diện và làm các sứ giả của Đức Kitô"[7] tại Giáo Hội địa phương mà các ngài có nhiệm vụ nhân danh Chúa cai quản. Thật vậy, chính nhờ tác vụ của các giám mục mà Chúa Giêsu có thể tiếp tục loan báo Tin Mừng, tuôn đổ trên con người sự thánh thiện và ân sủng thông qua các bí tích đức tin, cũng như tiếp tục hướng dẫn dân Chúa trong cuộc hành trình tại thế này cho tới khi đạt tới hạnh phúc bất diệt.
3. QUAN HỆ CỦA TÁC VỤ GIÁM MỤC VỚI GIÁO HỘI
Như một món quà Thánh Thần ban cho Giáo Hội, các giám mục, cũng như mọi Kitô hữu khác, trước hết sẽ là con cái và phần tử của Giáo Hội. Chính từ Người Mẹ Thánh này, các giám mục đã tiếp nhận sự sống thần linh nơi bí tích Thánh Tẩy cũng như nhận những bài học đầu tiên về đức tin. Cùng với các tín hữu khác, các ngài được ban cho phẩm giá trác tuyệt là làm con cái Thiên Chúa, một phẩm giá mà các ngài phải sống trong sự hiệp thông, trong tinh thần huynh đệ và tri ân với các tín hữu khác. Nhưng mặt khác, song song với việc tiếp tục làm người tín hữu của Đức Kitô cùng với các tín hữu khác, do bí tích Truyền Chức sung mãn mà các ngài đã nhận được, các ngài còn là thầy dạy, người thánh hoá và mục tử của các tín hữu, nhân danh Đức Kitô và trong tư cách của Đức Kitô. Chắc chắn đây không phải là hai quan hệ đặt song song nhau, mà là một quan hệ hỗ tương rất thâm sâu: cả hai quan hệ đó đều nhằm giúp các ngài khai thác sự phong phú của một Đức Kitô duy nhất và chức tư tế duy nhất của Người.[8] Tuy nhiên, một giám mục sẽ trở thành "cha" chính là vì ngài đã làm "con" của Giáo Hội cách trọn vẹn.
Chính vì thế, như bản Kim chỉ nam "Ecclesiae imago" đã nhắc, các giám mục "phải kết hợp được nơi mình những đức tính của một người anh em lẫn một người cha, của một người môn đệ Đức Kitô lẫn một người làm thầy dạy đức tin, của một người con lẫn một người cha Giáo Hội, theo nghĩa nào đó, vì các ngài chính là thừa tác viên giúp cho các Kitô hữu được tái sinh một cách siêu nhiên".[9] Người ta thường mô tả quan hệ giữa giám mục với Giáo Hội như quan hệ chồng vợ thiêng liêng. Thật ra, chỉ có Đức Kitô là vị Hôn Phu duy nhất của Giáo Hội. Nhưng trong tư cách là dấu chỉ bí tích của Đức Kitô Thủ Lãnh, các giám mục cũng là dấu chỉ bí tích của Đức Kitô Hôn Phu. Khi phản ảnh hình tượng người Hôn Phu ấy một cách rõ ràng và đặc biệt, các giám mục cũng phải trở thành người làm chứng đáng tin cho Đức Kitô trong cộng đoàn Giáo Hội. Một khi đã được mang lấy tình yêu phu phụ của Đấng Cứu Thế, các ngài cũng phải tìm cách làm cho "tình yêu của Đức Kitô được nảy nở trong Giáo Hội cả về chiều rộng, chiều dài, lẫn chiều cao và chiều sâu", làm cho Giáo Hội ngập tràn "sự sung mãn của Thiên Chúa" (Ep 3,18 và tt).
Bằng cách này, các giám mục sẽ chu toàn nhiệm vụ chăn dắt đàn chiên của Chúa, như một lời đáp lại tình yêu hoặc như thi hành một "nhiệm vụ yêu thương" ("amoris officium").[10] Có thế, các ngài mới làm cho Giáo Hội địa phương của mình nuôi lớn niềm hy vọng, vì thông qua sự phục vụ của mình, các ngài giúp Giáo Hội ấy tiếp tục tin tưởng rằng tình yêu mục tử của Đức Giêsu Kitô không bao giờ mất cả, một tình yêu mà các giám mục đang chia sẻ.
4. QUAN HỆ GIỮA GIÁM MỤC VỚI CÁC LINH MỤC CỦA MÌNH
Tác vụ của giám mục được xác định qua các tương quan với các ơn gọi khác nhau của các thành phần trong dân Chúa, nhất là với các linh mục, kể cả các linh mục dòng, và với linh mục đoàn (presbyterium) do các linh mục ấy làm thành trong lòng Giáo Hội địa phương của vị giám mục.[11] Các văn kiện của Công Đồng Vatican II[12] đã cho chúng ta có một cái nhìn mới về thực tại cũ xưa ấy là tập thể các linh mục, một đoàn thể hữu cơ do các linh mục nhập tịch trong một Giáo Hội địa phương hay để phục vụ một Giáo Hội địa phương làm nên, quy tụ chung quanh vị giám mục – để cai quản Giáo Hội như những mục tử. Sự liên kết sâu xa này giữa các linh mục và giám mục được căn cứ trên việc các ngài cùng tham dự vào một chức tư tế duy nhất và đồng nhất là chức tư tế của Đức Kitô và vào một sứ mạng tông đồ do chức tư tế ấy trao cho, dù ở những cấp độ khác nhau. Dựa vào bản chất và sứ mạng riêng của mình, có thể nói rằng trong cơ chế Giáo Hội, chức tư tế thừa tác đúng là một ân huệ do Thánh Thần ban cho, như một đoàn sủng, như "dấu chỉ nói lên thế ưu việt tuyệt đối và tính cho không của ân sủng mà Đức Kitô Phục Sinh đã ban cho Giáo Hội."[13]
Công Đồng Vatican II đã mô tả các quan hệ hỗ tương giữa các giám mục và linh mục đoàn bằng những hình ảnh và thuật ngữ rất đa dạng. Công Đồng gọi giám mục là "cha" của linh mục đoàn[14] nhưng khi nói tới vai trò làm cha thiêng liêng ấy, Công Đồng lại thêm vào tư cách anh em, bạn hữu, cộng sự viên cần thiết, và cố vấn. Tuy nhiên, ta không thể quên rằng ơn bí tích có đến được với tập thể linh mục ấy là do qua tác vụ của giám mục, và ơn bí tích ấy được ban cho cũng là để các linh mục cộng tác trong thế tuỳ thuộc giám mục để thi hành sứ mạng tông đồ. Cũng chính nhờ ơn bí tích này mà linh mục đoàn được liên kết với các phận sự khác nhau của tác vụ giám mục. Nhờ dây liên kết vừa mang tính bí tích vừa có tính phẩm trật ấy, các linh mục sẽ đảm trách ở những mức độ khác nhau những bổn phận và trách nhiệm của giám mục, làm cho vị này hiện diện trong mỗi cộng đoàn, như những cộng sự viên và cố vấn cần thiết của giám mục, như người trợ thủ và khí cụ của giám mục.[15]
Quan hệ mang tính bí tích và phẩm trật giữa các thành viên của linh mục đoàn và giám mục được thấy qua một công việc mà lâu nay người ta hằng theo đuổi, đó là tìm cách xây dựng sự hiệp thông về mặt tình cảm lẫn hành động giữa giám mục và các thành viên linh mục đoàn, nhờ đó làm cho thái độ cả trong lẫn ngoài của giám mục đối với các linh mục của mình có được ý nghĩa và trọng lượng. "Được đặt làm gương sáng cho đoàn chiên" (Xem 1Pr 5,3), các giám mục sẽ làm gương sáng trước tiên cho các giáo sĩ của mình, gương sáng về đời sống cầu nguyện, về "cảm thức đối với Giáo Hội" ("sensus Ecclesiae"), về lòng nhiệt thành tông đồ, về sự tận tâm với công tác mục vụ nói chung và về thái độ cộng tác với mọi tín hữu. Ngoài ra, chính giám mục là người trước hết phải chịu mọi trách nhiệm về sự nên thánh của các linh mục cũng như về việc thường huấn cho các linh mục. Dựa vào những yêu cầu thiêng liêng này và thái độ của mỗi người, cũng như để đáp lại những đòi hỏi do tính hữu cơ của công tác mục vụ đặt ra và vì ích lợi của các tín hữu, các giám mục phải làm sao cho thừa tác vụ của các linh mục được thi hành một cách hết sức thích đáng.
Bên cạnh thái độ cần có đối với mỗi linh mục, các giám mục còn phải ý thức rằng mình đang có một linh mục đoàn giáo phận bên cạnh. Vì thế, giám mục không được quên – vun trồng tình huynh đệ nơi họ, nối kết họ với nhau từ trong bí tích và phát huy nơi họ tinh thần cộng tác để tiến hành công tác mục vụ chung cho hữu hiệu.

Thậm chí mỗi ngày giám mục phải dấn thân sao cho toàn thể linh mục đoàn ý thức và cảm nhận cách cụ thể là họ không bị gạt sang một bên hay bị bỏ rơi, nhưng luôn là chi thể và phần tử của "một tập thể linh mục duy nhất dù được phân bố cho những công việc khác nhau".[16] Theo chiều hướng này, giám mục sẽ trân trọng Hội Đồng Linh Mục cũng như quý trọng tất cả mọi phương thế, chính thức hay không chính thức, để đối thoại và cộng tác với các linh mục, vì "biết rằng sự hiệp thông trong tình cảm lẫn hành động giữa giám mục và linh mục sẽ là nguồn động viên rất hữu hiệu cho sự hiệp thông trong Giáo Hội địa phương ở mọi cấp độ. Trong sự hiệp thông theo thừa tác vụ và phẩm trật ấy, bên cạnh các linh mục còn có các phó tế, được truyền chức không phải để làm linh mục mà để thi hành tác vụ. Khi phục vụ các mầu nhiệm của Thiên Chúa và của Giáo Hội như phục vụ Lời Chúa, phục vụ phụng vụ và phục vụ công cuộc bác ái, theo mức độ tham gia vào chức thánh, các phó tế đã được đưa vào trong một liên hệ mật thiết với giám mục và linh mục đoàn.[17] Vì thê, có thể nói giám mục là người chịu trách nhiệm đầu tiên trong việc phân định ơn gọi của các ứng viên,[18] trong việc đào tạo các ứng viên về tu đức, thần học và mục vụ. Giám mục cũng là người đầu tiên phải cứu xét những nhu cầu mục vụ, hoàn cảnh gia đình và nghề nghiệp của các ứng viên ấy, để giao phó các nhiệm vụ, sao cho sự có mặt của họ ăn khớp với đời sống của Giáo Hội địa phương và việc thường huấn dành cho họ không bị bỏ qua.
5. QUAN HỆ GIỮA TÁC VỤ GIÁM MỤC VỚI NHỮNG NGƯỜI TẬN HIẾN
Đời thánh hiến là một biểu hiện hết sức đặc biệt của Giáo Hội trong thân phận Hiền Thê của Ngôi Lời, thậm chí còn là một bộ phận đầy đủ của Giáo Hội, được đặt "ngay chính trung tâm Giáo Hội như một yếu tố quyết định phục vụ cho sứ mạng của Giáo Hội"[19] như Tông huấn "Vita consecrata" đã nhắc lại ngay từ đầu. Xuyên qua đời sống thánh hiến, ta thấy được phần nào ngay trong thế giới này những nét điển hình của một Đức Giêsu trinh khiết, nghèo khó và vâng phục, những nét đó trở nên cụ thể một cách hết sức tiêu biểu và có mặt thường xuyên dưới nhiều hình thức khác nhau, và chúng được coi như một giá trị tuyệt đối, có tính cánh chung. Toàn thể Giáo Hội đều tỏ lòng tri ân đối với Thiên Chúa Ba Ngôi vì đã tặng ban đời thánh hiến. Nhờ sự có mặt của đời tu mà ta có thể thấy sức sống của Giáo Hội không bị cạn kiệt trong cơ chế phẩm trật, như thể Giáo Hội chỉ bao gồm các thừa tác viên thánh và các tín hữu giáo dân, nhưng Giáo Hội còn là một cơ chế căn bản được tổ chức một cách rộng rãi và phong phú hơn, một cơ chế vừa mang tính định chế vừa mang tính đoàn sủng, do chính Đức Kitô muốn và bao gồm cả đời sống tu trì.[20]
Như vậy, đời thánh hiến là một ơn do Chúa Thánh Thần ban cho, mà ta không thể chối từ, và là một yếu tố làm nên sức sống và sự thánh thiện của Giáo Hội. Đời tu nhất thiết phải được đặt trong quan hệ có phẩm trật hẳn hoi đối với thừa tác vụ thánh, cách riêng với thừa tác vụ của Đức Giáo Hoàng và của các đức giám mục. Trong Tông huấn sau THĐGM, Đức Gioan Phaolô II đã nhắc lại mối dây hiệp thông đặc biệt giữa các hình thức của đời sống thánh hiến, cũng như các tu đoàn tông đồ với Đấng Kế Vị thánh Phêrô; các hình thức tu trì này có được tính phổ quát và trổi vượt trên các giáo phận là do mối dây hiệp thông ấy. Chính vì đời thánh hiến có liên hệ mật thiết với mầu nhiệm Giáo Hội và với thừa tác vụ của các giám mục, là những người liên kết với nhau chặt chẽ và hiệp thông theo phẩm trật với Đấng Kế Vị thánh Phêrô, nên toàn thể giám mục đoàn đều có trách nhiệm đối với đời tu. Như các ghi chú hướng dẫn trong văn kiện "Mutuae relationes" đã cho biết, Đức Kitô Thủ Lãnh đã giao phó cho các giám mục có liên kết với Đức Giáo Hoàng nhiệm vụ "chăm sóc các đoàn sủng tu trì, nhất là khi công tác mục vụ của các ngài tự nó vốn không thể chia năm sẻ bảy được, các ngài càng có trách nhiệm đối với sự hoàn thiện của tất cả đoàn chiên. Đến nỗi chính khi cổ võ đời tu, bảo vệ đời tu theo đúng với đặc tính riêng của nó là các giám mục đã chu toàn một bổn phận mục vụ chính hiệu".[21]
Trong khuôn khổ của những chỉ dẫn nêu ra trong tài liệu này và trong khuôn khổ những điều đã được giới thiệu tại Đại Hội Thường Lệ lần thứ 9 của THĐGM và trong đường hướng giảng dạy của Đức Giáo Hoàng như đã được đề nghị trong Tông huấn "Vita consecrata", ta thấy có một điểm luôn luôn được nhấn mạnh, đó là hãy mở rộng các quan hệ hỗ tương giữa các Hội Đồng Giám Mục, các Bề Trên Thượng Cấp và Hội Đồng của các vị này, nhằm tạo điều kiện cho các đoàn sủng được trở nên phong phú và mọi người hoạt động vì ích lợi của Giáo Hội hoàn cầu cũng như của Giáo Hội địa phương. Dĩ nhiên, khi làm những việc này, chúng ta phải tôn trọng trách nhiệm của các bên hữu quan và phải có ý thức chung là sự hiệp thông trong Giáo Hội hoàn cầu được thực hiện thế nào là qua sự hiệp thông trong các Giáo Hội địa phương.
Như Công Đồng đã dạy, vì các Giáo Hội địa phương được tạo nên "theo hình ảnh của Giáo Hội hoàn cầu, và chính trong các Giáo Hội địa phương này cũng như nhờ các Giáo Hội địa phương ấy mà Giáo Hội Công giáo, duy nhất và độc nhất đã được thành lập”,[22] nên những người tận hiến, dù ở đâu, cũng hãy sống ơn gọi của mình cho Giáo Hội hoàn cầu ngay trong lòng một Giáo Hội địa phương nhất định. Chính trong Giáo Hội địa phương ấy các người tu trì sẽ giúp cho Giáo Hội hoàn cầu được hiện diện và bảo đảm các vai trò quan trọng của Giáo Hội ấy được thể hiện. Đặc biệt, vì tính ngôn sứ là một yếu tố gắn chặt với đời thánh hiến, nên trong mỗi Giáo Hội địa phương, các tu sĩ chính là người loan báo Tin Mừng hy vọng mà họ đã sống, làm chứng mạnh mẽ cho thế ưu việt của Thiên Chúa trong đời sống Kitô hữu và làm chứng cho sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa trong thân phận đòn mỏng của con người.[23] Từ đó, để phát triển công việc mục vụ giáo phận cho hài hoà, cần có sự cộng tác giữa mỗi giám mục với những người tận hiến.[24]
Giáo Hội vô cùng biết ơn các giám mục, rải rác suốt dòng lịch sử Giáo Hội mãi cho tới ngày hôm nay, đã trân trọng đời thánh hiến như một ơn đặc biệt của Chúa Thánh Thể ban cho dân Chúa, tới mức đã đích thân đứng ra thành lập các gia đình tu trì, trong số đó có nhiều gia đình tu trì đến nay vẫn còn đang tích cực phục vụ Giáo Hội hoàn cầu và các Giáo Hội địa phương. Thêm vào đó, chính việc các giám mục dốc sức tìm cách giúp các tu hội trung thành với đoàn sủng của họ là một nguồn hy vọng cho chính các tu hội ấy, đặc biệt những tu hội đang gặp nhiều khó khăn.
6. QUAN HỆ GIỮA TÁC VỤ GIÁM MỤC VỚI CÁC TÍN HỮU GIÁO DÂN

Công Đồng Vatican II, Đại Hội Thường Lệ của THĐGM năm 1987 và Tông huấn sau đó của Đức Gioan Phaolô II là "Christifideles laici", đã giúp làm sáng tỏ ơn gọi và sứ mạng của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội và trong thế giới.[25] Nhờ phẩm giá nhận được qua phép rửa, khiến họ được tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô, cũng như nhờ được ơn ban đặc biệt của Thánh Thần, mà họ có được một chỗ đứng thích đáng trong Thân Thể Giáo Hội, thúc đẩy họ tuỳ theo cách thức riêng của mình tham gia vào sứ mạng cứu độ, mà theo lệnh Đức Kitô, Giáo Hội đang cố gắng bảo đảm thực hiện mãi cho tới ngày tận thế. Riêng đối với các giáo dân, Giáo Hội nhìn nhận và đề cao tính trần thế trong phần lớn sinh hoạt của họ rất có giá trị cứu độ. Thật vậy, người giáo dân thể hiện những đặc điểm riêng của người Kitô hữu trong rất nhiều lãnh vực, như cuộc sống và gia đình, chính trị, nghề nghiệp và xã hội, kinh tế, văn hoá, khoa học, nghệ thuật, đời sống quốc tế và các phương tiện truyền thông đại chúng.
Trong khi thi hành khá nhiều công việc như thế, người giáo dân được mời gọi hãy đưa ra một lời chứng hết sức trong sáng về đức tin của mình vào Đức Giêsu Kitô, kết hợp với các tài năng và khả năng chuyên môn mà mình đã có được. Khi dấn thân vào các thực tại trần thế, người giáo dân, cũng như mọi Kitô hữu khác, được kêu mời hãy trả lời về niềm hy vọng đối thần của mình (x. 1Pr 3,15) và hãy quan tâm tới các sinh hoạt gắn liền với thế giới hôm nay, chỉ vì khát khao mong đợi một "đất mới".[26]
Vì chỗ đứng của mình trong thế giới, người giáo dân có thể gây ảnh hưởng lớn trên nền văn hoá, bằng cách mở rộng các viễn tượng và chân trời hy vọng của nền văn hoá ấy. Bằng cách đó, họ cũng đã góp phần đặc biệt vào công cuộc phúc âm hoá, và điều này càng cần thiết hơn, khi trong thời đại hôm nay, người ta vẫn còn chứng kiến thảm kịch chia cắt Tin Mừng với văn hoá. Ngoài ra, trong lãnh vực truyền thông, có ảnh hưởng sâu đậm tới tâm thức con người, người giáo dân cũng có một trách nhiệm đặc biệt, nhất là để phổ biến cách đúng đắn các giá trị đạo đức.
Mặc dù do ơn gọi, phần đông người giáo dân đều làm các việc trần thế, nhưng cũng đừng quên rằng họ thuộc về một cộng đoàn Giáo Hội duy nhất, trong đó họ là một bộ phận đông đảo xét về số lượng. Sau Công Đồng Vatican II, chúng ta đã sung sướng chứng kiến nhiều hình thức mới. Qua đó các giáo dân nam nữ tham gia một cách có trách nhiệm vào đời sống của các cộng đoàn giáo phận và giáo xứ. Chẳng hạn họ có mặt trong các hội đồng mục vụ, nắm giữ một vai trò ngày càng lớn trong các công tác phục vụ khác nhau, như hướng dẫn phụng vụ và huấn giáo, tham gia giảng dạy đạo Công giáo ở các trường, v.v...
Một số giáo dân còn chấp nhận đảm trách các việc vừa kể một cách thường xuyên và đôi khi suốt đời. Sự cộng tác ấy của các giáo dân chắc hẳn hết sức quý báu và cần thiết để đáp ứng những yêu cầu của công cuộc "tân phúc âm hoá", nhất là ở những nơi không có đủ số thừa tác viên được truyền chức.

Hiện tượng liên kết thành hiệp hội được phát triển rộng rãi cũng là một nguồn lợi rất lớn đối với Giáo Hội sau Công Đồng Vatican II. Bên cạnh các hiệp hội kỳ cựu, các hiệp hội mới mẻ này, với những nguyện vọng khác nhau, đối với nhiều giáo dân, chính là một nguồn nâng đỡ không gì có thể thay thế được, giúp phát triển đời sống Kitô hữu và góp phần làm cho toàn thể Giáo Hội lớn mạnh. Tông huấn sau THĐGM mang tên "Christifideles laici" đã nhắc nhở rằng, dù được phép có tình trạng đa nguyên, nhưng các hiệp hội, đoàn thể và phong trào ấy vẫn phải phục vụ một mục tiêu chung là tham gia một cách có trách nhiệm vào sứ mạng Giáo Hội, tức là đem ánh sáng Tin Mừng đến cho mọi người.[27]
Một trong các công tác mục vụ của người giám mục là tiếp nhận và cổ võ sự bổ sung giữa các hiệp hội xuất phát từ những nguồn cảm hứng khác nhau, theo dõi thái độ ứng xử của các hiệp hội, chăm lo đào tạo người hướng dẫn về mặt thần học và tu đức, cũng như lo sao cho tất cả mọi người hội nhập một cách tốt đẹp vào cộng đoàn giáo phận.
Là dấu chỉ của Thiên Chúa mời gọi ta hy vọng (x. Ep 4,4), các giám mục phải trở thành dấu chỉ ấy trước hết cho các giáo dân, vì giáo dân là những người bị đẩy vào chính tâm điểm của rất nhiều vấn đề trên thế giới, cũng như của những khó khăn trong đời sống hằng ngày, nên thường rơi vào nỗi hoang mang và đau khổ. Cũng có khi chính vì những lựa chọn đặc thù theo Kitô giáo của họ mà họ cảm thấy bị cô lập và thực sự bị cô lập giữa bao nhiêu người. Trong những hoàn cảnh ấy mà có sự hiện diện như người mục tử của giám mục và linh mục đoàn, chắc hẳn họ sẽ cảm thấy được nâng đỡ để tiếp tục làm những Kitô hữu tràn trề hy vọng và để sống trong tin tưởng rằng Chúa luôn luôn ở kề bên con cái Người.
Ngoài ra, cũng không phải là hiếm hoi khi một số giáo dân gặp nhiều khó khăn đã bị lôi cuốn "trốn tránh thế gian" và biến những xác tín tôn giáo của mình thành những chuyện tư riêng. Cũng chính vì những lý do đó, giáo dân cần phải tìm được nơi giám mục và hàng linh mục một điểm tựa vững chắc để bảo đảm sự thống nhất đời sống và sự kiên cường trong đức tin. Sau cùng, khi thi hành công tác mục vụ giám mục cần quan tâm đặc biệt tới những giáo dân đang mắc sai lầm hay bị "xa tránh", bằng cách dựa vào sự giúp đỡ của các giáo dân khác để tìm kiếm những con người ấy và giúp họ tham gia tích cực trở lại trong đời sống Giáo Hội.
Suy nghĩ về người tín hữu giáo dân cũng đồng thời phải nói tới nhu cầu họ cần được đào tạo thích đáng. Đàng khác, rõ ràng là các giám mục phải quan tâm, đưa tay nâng đỡ, nhất là nâng đỡ về mặt thiêng liêng, những ai đã cộng tác vào sứ mạng của Giáo Hội một cách sâu sát. Thế nên, một nhu cầu khẩn cấp được đặt ra là phải làm sao cho người giáo dân, theo một chương trình huấn giáo có hệ thống, biết tiếp cận Lời Chúa được trình bày trong Kinh Thánh và được Huấn Quyền Giáo Hội giải thích một cách đúng đắn.
Khi đào tạo người tín hữu giáo dân, cần phải dành một chỗ đặc biệt cho môn học thuyết xã hội của Giáo Hội, để họ được soi sáng chỉ dẫn và được khích lệ khi hành động, theo những nhu cầu cấp bách của công lý và công ích mà họ có nhiệm vụ phải góp phần kiến tạo, qua những công trình và việc làm khẩn cấp của họ mà xã hội yêu cầu. Quan trọng không kém là việc đào tạo các người trẻ sống đời sống hôn nhân và gia đình, bằng cách dựa vào ý định của Chúa trên hôn nhân và gia đình để củng cố thêm những gì mình đang hy vọng và chờ đợi bằng một tình yêu vừa sâu xa vừa đích thực. Công việc họ làm càng do đức ái thúc đẩy và càng diễn tả sự thật của bậc sống giáo dân, thì họ càng chứng tỏ mình đang phục vụ cho Nước Chúa sớm ngự đến.
7. QUAN HỆ CỦA GIÁM MỤC VỚI GIÁM MỤC ĐOÀN VÀ THỦ LÃNH GIÁM MỤC ĐOÀN

Được sai đi nhân danh Đức Kitô để làm mục tử chăn dắt một Giáo Hội địa phương, giám mục có nhiệm vụ chăm sóc phần dân Chúa đã được giao cho mình và giúp họ tăng trưởng thành một cộng đoàn hiệp thông trong Chúa Thánh Thần, dựa vào Tin Mừng và bí tích Thánh Thể. Chính vì thế, trong tư cách cá nhân, nhiệm vụ của giám mục là làm nguyên lý và nền tảng hữu hình cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội địa phương đã được giao cho mình (hiệp nhất trong đức tin, trong các bí tích và trong sự cai quản), nghĩa là vừa đại diện, vừa cai quản Giáo Hội ấy dựa vào những quyền năng đã được ban cho.[28]
Tuy nhiên, mỗi giám mục là mục tử của một Giáo Hội địa phương được là vì ngài vốn là, thành viên của Giám Mục Đoàn. Mỗi giám mục đều nằm trong Giám Mục Đoàn là do chính sự tấn phong của họ và do có hiệp thông theo phẩm trật với thủ lãnh và với các thành phần khác trong Giám Mục Đoàn.[29] Tất cả những điều này sẽ để lại cho thừa tác vụ giám mục những hệ quả rất quan trọng mà sau đây ta cần xem xét, dù chỉ theo một cách tổng hợp thôi.
Hệ quả thứ nhất là một giám mục không bao giờ cô độc. Điều này đúng không phải chỉ vì xét tới vị trí của ngài trong Giáo Hội địa phương của mình như đã nói, mà còn vì vị trí của ngài trong Giáo Hội hoàn cầu: do chính bản chất của chức giám mục, vốn chỉ có một và không thể phân chia ("uno et indiviso"),[30] mà ngài được liên kết với toàn thể Giám Mục Đoàn, tức là đoàn thể kế vị Tông Đồ Đoàn.
Chính vì lẽ đó, mỗi giám mục phải vừa liên kết với Giáo Hội địa phương vừa quan hệ với Giáo Hội hoàn cầu. Mỗi giám mục là nguyên lý và là nền tảng hữu hình của sự hiệp nhất trong Giáo Hội địa phương của mình, nhưng ngài cũng là dây liên kết hữu hình giữa Giáo Hội mình với Giáo Hội hoàn cầu. Thế nên, dù ở bốn phương trời thế giới, mà vẫn bảo vệ được sự hiệp thông phẩm trật với vị thủ lãnh và các thành viên trong Giám Mục Đoàn, thì các giám mục vẫn có thể bảo đảm cho tính công giáo của Giáo Hội được tồn tại và hiện hữu cụ thể;[31] các ngài cũng đồng thời làm cho Giáo Hội địa phương được giao cho mình có được nét công giáo ấy. Như thế, mỗi giám mục chẳng khác nào một điểm nối kết giữa Giáo Hội địa phương của mình với Giáo Hội hoàn cầu, và là một dấu chỉ hữu hình cho biết Giáo Hội duy nhất của Đức Kitô đang hiện diện trong chính Giáo Hội địa phương của mình. Khi hiệp thông với các Giáo Hội, các giám mục vừa đại diện cho Giáo Hội địa phương của mình vừa đại diện cho sự hiệp thông giữa các Giáo Hội ngay trong chính Giáo Hội riêng của mình. Thật vậy, qua thừa tác vụ giám mục, người ta nhận ra rằng các thành phần của Giáo Hội ("portiones Ecclesiae") đang sống tính toàn thể của Giáo Hội Duy Nhất và Thánh Thiện, và tính toàn thể của Giáo Hội Công Giáo và Tông Truyền đang có mặt trong các thành phần Giáo Hội ấy.[32]
Hệ luận thứ hai mà ta cần phải dừng lại suy nghĩ, đó chính là nhờ có sự đoàn kết trong tập thể giám mục hay chính nhờ có sự hiệp thông huynh đệ trong đức ái, hoặc như Công Đồng nói, chính nhờ có sự thân ái trong tập thể giám mục mà mỗi giám mục, do chính Đức Kitô đề ra và truyền dạy, đều phải quan tâm lo lắng cho toàn thể Giáo Hội và cho các Giáo Hội địa phương khác, đặc biệt "những miền Lời Chúa chưa được loan truyền hoặc những nơi vì số linh mục quá ít mà các tín hữu đang có nguy cơ sống xa các giới răn hướng dẫn đời sống Kitô hữu, thậm chí có nguy cơ đánh mất đức tin".[33]
Đàng khác nếu những ơn Chúa ban, để mỗi giám mục dựa vào đó mà xây dựng Giáo Hội địa phương của mình - tức là Tin Mừng và bí tích Thánh Thể, đều giống nhau, thì đó là để không những nhằm giúp xây dựng mỗi Giáo Hội địa phương thành nơi quy tụ mọi người trong Chúa Thánh Thần, mà còn giúp mở rộng mỗi Giáo Hội ấy ra hiệp thông với các Giáo Hội khác. Thật vậy, việc loan báo Tin Mừng vốn có tính phổ quát; do ý Chúa muốn, phải loan báo Tin Mừng cho hết mọi người và trước sau vẫn vậy trong thời gian. Ngoài ra, do chính bản chất của mình và cũng giống như mọi hành vi phụng vụ khác, cử hành Thánh Thể phải là một việc của toàn thể Giáo Hội, thuộc về toàn Thân Thể Giáo Hội, biểu hiện và bao hàm toàn Thân Thể Giáo Hội.[34] Từ đó, đã là người kế vị các tông đồ cách hợp pháp và là thành viên của Giám Mục Đoàn, mỗi giám mục cũng phải chịu trách nhiệm một cách nào đó về toàn thể Giáo Hội ("sponsor Ecclesiae").[35]
Nếu vậy, rõ ràng là khi thi hành tác vụ của mình, mỗi giám mục trong Giám Mục Đoàn cần phải gặp gỡ đức giám mục Rôma và hiệp thông với ngài cách linh hoạt và năng động như hiệp thông với Đấng Kế Vị thánh Phêrô cũng là thủ lãnh Giám Mục Đoàn, cũng như hiệp thông với tất cả anh em giám mục khác trên toàn thế giới.
Một cách riêng tư cá nhân cũng như kết hợp với các anh em giám mục khác và phối hợp với toàn thể Giáo Hội, các giám mục sẽ nhìn Ngai Toà Phêrô như nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hiệp nhất trong đức tin và của sự hiệp thông. Hiệp thông theo thứ tự phẩm trật với giám mục Rôma cũng có nghĩa là, khi giảng dạy trong giáo phận mình, các giám mục phải tỏ ra trung thành gắn bó với giáo huấn của Đức Giáo Hoàng, kể cả khi Đức Giáo Hoàng giảng dạy với Quyền Giáo Huấn thông thường. Các giám mục cũng phải phổ biến giáo huấn ấy bằng những cách nào thích hợp nhất, rồi bằng cách này hay cách khác, một cách cá nhân hay thông qua Hội Đồng Giám Mục, góp phần thêm vào giáo huấn ấy, và nếu cần thì đứng ra bênh vực.
Một hình thức đặc biệt để cộng tác với Đức Giáo Hoàng là tham gia THĐGM vì đó là nơi các giám mục sẽ có dịp trao đổi thông tin và kiến nghị một cách rất kết quả, cũng như dựa vào Tin Mừng và giáo lý Giáo Hội để xác định những đường hướng chung. Những đường hướng này, một khi được Đấng Kế vị thánh Phêrô phê chuẩn, sẽ tạo nhiều thuận lợi cho chính các Giáo Hội địa phương. Bằng cách này, toàn thể Giáo Hội sẽ được nâng đỡ một cách hữu hiệu để duy trì sự hiệp thông mà vẫn tôn trọng sự đa dạng trong văn hoá và hoàn cảnh. Đây cũng là mục tiêu chung qua các cuộc thăm viếng "ad limina" của các giám mục.

Riêng về việc cộng tác giữa các giám mục với nhau, Công Đồng Vatican II đã tỏ ý hết sức ao ước được thấy một cơ chế đáng kính là các Công Đồng miền lấy lại sinh lực,[36] dù Công Đồng không quên lưu ý tầm ích lợi của các Hội Đồng Giám Mục mới được thành lập.[37] Các Hội Đồng Giám Mục này tiếp thu di sản chung mà Giáo Hội đã nhận được từ nơi Chúa qua trung gian mặc khải. Các hội đồng ấy một đàng không bao giờ quên tính phổ quát của Giáo Hội, được bảo đảm nhờ Ngai Tòa Thánh Phêrô, nhưng đàng khác sẽ ra sức làm cho di sản ấy được thích nghi với các dân tộc mà mình đang cùng chung sống.
Một điểm nữa để mỗi Hội Đồng Giám Mục tham chiếu khi hoạt động là danh tánh và trách nhiệm riêng của mỗi giám mục trong Hội Đồng, cũng như sự hiệp thông để các giám mục nâng đỡ nhau khi thực hiện công cuộc phúc âm hoá và khi giải quyết thành công các vấn đề mục vụ chung. Lời giảng dạy có đáng tin không, công tác mục vụ có hữu hiệu không và sự hiệp thông của mỗi giám mục, được mời gọi phục vụ ngay giữa hàng ngũ các tín hữu của mình có thành công không,... tất cả những điều đó tuỳ thuộc vào lời chứng chung của các giám mục trong mỗi Hội Đồng.
Tuy nhiên, quan hệ hỗ tương giữa các giám mục vượt xa những lần gặp gỡ theo định chế ấy. Một khi ý thức sống động về tính tập đoàn của chức giám mục, các ngài hẳn sẽ bị thôi thúc tạo ra nhiều hình thức diễn tả tình huynh đệ bí tích, từ việc tiếp đón, trân trọng nhau cho đến những cách bày tỏ đức ái, cách riêng trong phạm vi giáo tĩnh hay giáo miền. Kim chỉ nam "Ecclesiae imago" cũng nhắc tới nhiều hình thức cộng tác khác, như giúp đỡ nhau bằng cách trao đổi các linh mục đã đồng ý với việc này, thống nhất các chủng viện và những công tác tông đồ khác nếu thấy cần.[38]
Ngoài ra, sự hiệp thông giữa các giám mục còn được biểu lộ khi tại một Giáo Hội địa phương nào đó, vì một số nhu cầu đặc biệt, người ta thấy cần có một giám mục phó hay một giám mục phụ tá. Đối với các giám mục này, được bổ nhiệm trong một số trường hợp để giúp đỡ giám mục giáo phận phục vụ Giáo Hội địa phương, Công Đồng lưu ý rằng vì là những cộng tác viên trước hết, các giám mục này phải vâng phục và tôn trọng giám mục giáo phận, cũng như giám mục giáo phận phải trân trọng và yêu thương họ như anh em của mình.[39]
Sau cùng, các giám mục phải dành sự quan tâm đặc biệt và lo lắng cách riêng cho các anh em giám mục đang có nhu cầu nhiều hơn, nhất là những vị đang phải đau khổ vì bị cô lập, hiểu lầm và cô đơn, cũng như những vị già nua và bệnh tật đã xin Đức Giáo Hoàng cho từ chức vì ích lợi của chính Giáo Hội địa phương và theo đúng kỷ luật hiện hành của Giáo Hội, nay không còn cai quản giáo phận nữa. Không kề các vị ấy vẫn luôn luôn nằm trong Giám Mục Đoàn, các ngài còn đóng góp được nhiều cho Giáo Hội qua việc cầu nguyện, kinh nghiệm và ý kiến.
Như thế, mỗi vị giám mục đều sẽ tìm được trong chính Giám Mục Đoàn, do Đức Giáo Hoàng và các anh em giám mục góp phần xây dựng, không những sự nâng đỡ cần thiết để thi hành sứ mạng, mà còn tìm được nơi đó thức ăn bổ dưỡng để nuôi hy vọng, hầu có thể đương đầu một cách can đảm với các vấn đề có thể nảy sinh trong đời sống Giáo Hội và có thể nâng đỡ niềm hy vọng của các tín hữu đã được giao cho mình coi sóc.
8. ĐỂ PHỤC VỤ SỰ HIỆP THÔNG HẦU NUÔI NIỀM HY VỌNG
Chính khi sống giữa vô số quan hệ vừa kể, được kín múc từ chính sự hiệp thông mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi, nhờ đó sự hiệp thông giữa mọi tín hữu trong Giáo Hội địa phương được xây dựng, bất kể họ thuộc về cấp bậc nào, được ban cho đoàn sủng nào và đã khai sinh ra những tác vụ nào và những mối quan hệ này càng phát triển rộng nhờ các giám mục và các Giáo Hội hiệp thông với nhau, ta mới nhìn thấy được bản chất của giám mục với tất cả sự phong phú của một con người hiệp thông, với đông đảo tín hữu vây quanh tạo nên được sự hiệp nhất cách cụ thể. Tác vụ xây dựng sự hiệp thông này của các giám mục thực hiện được là nhờ niềm hy vọng; chính tác vụ này là nguồn tiếp tế hằng ngày cho mỗi giám mục dấn thân xây dựng Giáo Hội đã được giao phó cho mình thành một cộng đoàn đức tin và đức ái giữa loài người. Đức cậy đối thần ấy của người giám mục đặt cơ sở trên Đức Kitô, để rồi được thông truyền cho phần dân Chúa mà ngài có trách nhiệm, và được tiếp sức thêm nhờ sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng và các giám mục khác. Đến lượt mình, sự hiệp thông sẽ đưa ta tới chỗ biết hy vọng, vì mọi lời nói dựa trên bằng chứng của sự hiệp thông gửi tới cho mỗi người sẽ là một thông điệp hy vọng gởi cho người ấy, bởi chưng như thánh tông đồ Phaolô đã viết, đức ái là nhân đức biết "hy vọng tất cả” (1Cr 13,7). Để chống lại những men phân hoá đang đe dọa sự sống còn của Giáo Hội và thế giới, các giám mục sẽ làm tôi tớ, làm người xây dựng, người cổ võ, người bảo lãnh, người bênh vực và người giữ gìn cho một Giáo Hội hiệp thông, vì chỉ có Giáo Hội ấy mới là mầm mống, là nguyên lý và là men kiến tạo sự hiệp thông giữa nhân loại.


Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 1 (Tháng 12 năm 1998)

[1] Xem "Ecclesia sub verbo Dei mysteria Christi celebrans pro salute mundi” (7-12-1985), III. c. 1.
[2] Xem thánh Cyprianô, "De orat. Dom." 23 : PL 4, 553 ; Xem "Lumen gentium", 4.
[3] "Ecclesiae imago", 1.
[4] Đức Gioan Phaolô II, Huấn từ với Hội Đồng Giám Mục Colombia (2-7-1986), 2 : L'Osservatore Romano, bản Pháp ngữ, số 28, 15-7-1986, tr. 8.
[5] Tertullianô, "Praeser, Haeret," 32 : PL 2, 53 ; Xem "Lumen gentium", 20.
[6] Đức Gioan Phaolô II, Huấn từ với các giám mục vùng Bắc Braxin (28-10-1995), 2 : L'Osservatore Romano, bản Pháp ngữ, sô' 52, 26-12-1995, tr. 4.
[7] "Lumen gentium", 27.
[8] Xem như trên, 10.
[9] "Ecclesiae imago", 14.
[10] Thánh Augustinô, "Zn Jo. tr." 123, 5 : PL 35, 1967.
[11] Xem "Ecclesiae imago", 107-117.
[12] Xem "Lumen gentium", 28 ; "Presbyterorum ordinis", 8. Xem "Pastores dabo vobis" (25-3-1992), 17 : AAS 84 (1992) 683.
[13] Đức Gioan Phaolô II, "Pastores dabo vobis" (25-3-1992), 16 : AAS 84 (1992) 682.
[14] "Lumen gentium", 28.
[15] Xem như trên.
[16] Như trên.
[17] Xem "Lumen gentium", 29.41.
[18] Xem Đức Gioan Phalô II, "Pastores dabo vobis" (25-3-1992), 65 : AAS 84 (1992) 771.
[19] Đức Gioan Phaolô II, Tông Huấn sau Thượng Hội Đồng "Vita consecrata" (25-3-1996), 3 : AAS 88 (1996) 379.
[20] Như trên, 29 : AAS 88 (1996) 402 ; "Lumen gentium”, 44.
[21] Thánh Bộ đặc trách các Tu Hội dòng và các Tu Hội đời, và Thánh Bộ Giám Mục, Huấn thị "Mutuae relationes" (14-5- 1978), 9c : AAS 70 (1978) 479.
[22] "Lumen gentium”, 23.
[23] Xem Đức Gioan Phaolô II, "Vita consecrata" (25-3-1996), 84.88 : AAS 88 (1996) 461.464.
[24] Xem như trên, 48 : AAS 88 (1996) 421-422 ; "Ecclesiae ỉmago", 207.
[25] Xem "Lumen gentium", chương IV ; sắc lệnh bàn về việc tông đồ giáo dân "Apostoỉicam actuositatem"; "Christifideles laici" (30-12-1988) ; Xem "Ecclesiae imago", 153-161.208.
[26] "Gaudium et spes”, 39.
[27] Xem "Christifideles laici" (30-12-1988), 30 : AAS 81 (1989) 446-448.
[28] Xem "Lumen gentium", 25 ; GL 381 @ 1.
[29] Xem như trên, 22 ; chú thích giải nghĩa trước, 1-2 ; GL 336.
[30] Thánh Cyprianô, "De cath. Eccl. Unit." 5 : PL 4, 516 ; Xem Hiến chế tín lý "Pastor aeternus" của Công Đồng Vatican I, Lời tựa : DS 3051; "Lumen gentium”, 18.
[31] Xem Đức Phaolô VI, Huấn từ khai mạc khoá 3 của Công Đồng (14-9-1964) : AAS 56 (1964) 813.
[32] Xem Thánh Bộ giáo lý đức tin, văn thư "Communionis notio" (28-5-1992), 9.11-14 : L/Osservatore Romano, bản Pháp ngữ, số 24, 16-6-1992, tr. 2-3.
[33] Chirstus Dominus", 6 ; Xem "Lumen gentium", 23 ; "Christus Dominus", 3.5.
[34] Xem Công Đồng Vatican II, Hiến chế về Phụng Vụ Thánh "Sacrosanctum concilium”, 26.
[35] Xem "Chirstus Dominus”, 6.
[36] Như trên, 36 ; Xem GL 439-446 : "Ecclesiae imago", 213.
[37] Xem "Chisrus Dominus", 38 ; GL 447 ; "Ecclesiae imago", 210-212.
[38] Xem "Ecclesiae imago", 53.
[39] Xem "Christus Dominus", 5 ; GL 403-411.
 
Tác giả: Hội đồng Giám mục Việt Nam, năm 1998
Nguồn: hdgmvietnam.com

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

dcgiuseminh
logo nen vuong
 
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập64
  • Máy chủ tìm kiếm13
  • Khách viếng thăm51
  • Hôm nay20,092
  • Tháng hiện tại553,737
  • Tổng lượt truy cập16,176,582

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây