Thủ tục tố tụng Hôn Nhân thông thường - Lm. JB. Lê Ngọc Dũng

Thứ năm - 25/04/2019 05:13  432

THỦ TỤC TỐ TỤNG HÔN NHÂN THÔNG THƯỜNG

Lm. JB. Lê Ngọc Dũng

Tóm lược tiến trình xử án

1. Khởi sự vụ án
1.1. Thỉnh cầu đơn (libellus), hay gọi là đơn xin: Nguyên đơn đệ đơn lên tòa án có thẩm quyền (đ. 1501- 1506);
1.2. Quyết định chấp nhận đơn xin và triệu tập các bên
1.3. Đối tụng - Thiết lập nghi vấn:  Tòa thiết lập công thức nghi vấn tiêu hôn (đ. 1677).
2. Giai đoạn thẩm cứu vụ án
2.1. Sắc lệnh thẩm cứu vụ án;
2.2. Thu thập chứng cớ;
2.3. Sắc lệnh kết thúc thẩm cứu và công bố án từ
3. Nghị án và tuyên án
3.1. Chuẩn bị ý kiến, bản kết luận
3.2. Họp nghị án (đ. 1609)
3.3. Soạn thảo và ban hành bản án
3.4. Cách thức soạn thảo bản án (sentencia iudicialis)
4. Công bố bản án
4.1. Công bố bản án
4.2. Thông báo ghi chú vào sổ Rửa Tội và Hôn Phối

 

1. Khởi sự vụ án

Trước khi nhận đơn, linh mục phụ trách tòa án và nguyên đơn nên gặp gỡ để chỉ dẫn và xem xét vụ án có thuộc thẩm quyền của tòa án hay không và thấy sơ khởi có nền tảng nào  đó khiến hôn nhân vô hiệu.
Thẩm phán cũng chỉ nhận xử vụ án, chỉ khi nào sự tan vỡ hôn nhân đã đến mức không thể tái lập đời sống chung được nữa (đ. 1675).[1]

1.1. Đệ đơn thỉnh cầu (libellus) lên tòa án có thẩm quyền (đ. 1501-1506)

Thẩm phán không thể xử vụ án khi không có đơn thỉnh nguyện (libellus) hoặc do người có lợi ích. Đó là do chồng hoặc vợ trong vụ án vô hiệu hôn phối hoặc do Công tố viên (đ. 1051). Đơn này phải đưa lên thẩm phán có thẩm quyền và phải có sự trình bày đối tượng của tranh tụng và phải xin thẩm phán xét xử (đ. 1502).
Thỉnh cầu đơn, hay gọi là đơn xin phải có những yếu tố sau (đ. 1504):
  1. Vụ án được khởi sự trước Tòa án hay thẩm phán nào và yêu cầu điều gì, với ai;
  2. Đối tượng của vụ án, tức là, chỉ rõ cuộc hôn nhân nào và xin được công bố hôn nhân đó vô hiệu, dựa trên những lý do nào, nghĩa là, trên nguyên do hoặc những nguyên do nào (quo capite vel quibus capitibus) khiến cho hôn nhân đó vô hiệu;
  3. Chỉ ra, ít nhất là cách chung, những sự kiện và những chứng cớ chứng tỏ những nền tảng vô hiệu đó;
  4. Được ký nhận, có ghi ngày tháng năm, cũng như địa chỉ nơi cư ngụ của nguyên đơn hoặc người bảo hộ;
  5. Ghi rõ cư sở hay bán cư sở của bị đơn.
Lưu ý: Để có thể liên lạc với các bên, cần có số điện thoại của họ. Trong thực tế, số điện thoại bị đơn, thường bị thiếu, do nguyên đơn không còn liên lạc hay biết địa chỉ của bị đơn. Đây là một khó khăn lớn. Thẩm phán luôn đòi hỏi nguyên đơn cố gắng hết sức tìm cho ra địa chỉ, số điện thoại của bị đơn để có thể liên lạc.
Trong trường hợp có lý do chính đáng không thể nào tìm ra được địa chỉ và điện thoại của bị đơn, thì cần buộc nguyên đơn làm một văn bản trình bày lý do và ký nhận. Nếu thẩm phán thấy lý do là hợp lý thì có thể dựa vào đó để ra văn bản xác nhận lý do không thể tham gia vụ án của bị đơn.
Ngoài những yếu tố đòi buộc trên, một số yếu tố khác cũng cần có trong hay đính kèm đơn xin:
  1.          Tên, điện thoại, của các nhân chứng;
  2.          Xác nhận của cha quản xứ về cư sở, bán cư sở hay nơi cử hành hôn phối của nguyên đơn. Phần xác nhận này giúp Tòa án xác định thẩm quyền xét xử  của mình.
Cần lưu ý là, trong đơn xin Tòa  không đòi cha quản xứ xác nhận về tình trạng hay làm chứng điều gì, hoặc hỏi cha có đồng ý cho hôn nhân vô hiệu hay không. Sau này, trong giai đoạn thẩm cứu, dự thẩm hay điều tra viên có thể thu thập chứng cứ hay tham khảo ý kiến của cha sở.
3) Chứng nhận Rửa tội và Hôn phối của hai bên;
4) Những tài liệu có giá trị chứng cớ như giấy ly dị dân sự, bệnh án…
5) Bản tường trình: Để thuận tiện, tòa án có thể ấn định cho nguyên đơn đính kèm một bản tường trình tóm tắt về cuộc sống hôn nhân (khoảng 1-2 trang A4, bản in và ký tên, không nên nhận bản viết tay vì thường không rõ) trong đó có nêu những sự kiện chứng tỏ hôn nhân vô hiệu. Cũng có thể ấn định một bản câu hỏi để nguyên đơn trả lời thay cho bản tường trình.
Mẫu đơn xin của Tòa án giáo phận Nha Trang hiện đang sử dụng như sau:

 
ĐƠN XIN  CÔNG BỐ HÔN NHÂN VÔ HIỆU
Ngày ……tháng ………năm ………
Kính gởi Tòa Án Giáo Phận Nha Trang
Tôi (nguyên đơn) là ……………………………………………………
Kính xin Tòa Án Giáo phận thẩm tra và công bố vô hiệu hôn nhân  mà tôi đã cử hành với ông/bà………………………………ngày…………..… tại giáo xứ………….Giáo Phận…
Tôi nghĩ rằng kết ước hôn nhân của tôi là vô hiệu, với lý do là:
 ………………………………………………………………………………………………
 …………………………………………………………………………………………
1- Lý lịch

 
Lý lịch nguyên đơn
Lý lịch bị đơn
Họ tên: ………………………….
Địa chỉ: …………………………………
……………………………………………
Điện thoại:..….…, email………
Sinh tại…………………, ngày ……
□- Không Rửa tội
□- Rửa tội, ngày……………..….……..
Tại Gx ………..……..Gp …………
Học vấn: ……………………………
Nghề nghiệp:…………………………
Số con cái đã có trong hôn nhân:………
Hiện nay đang sống: 
□- Độc thân
□- Sống như vợ chồng với người khác
từ năm.............và có thêm số con là .......
Cha: …………………………………
Địa chỉ:……………….………………..
Điện thoại: ……………………………..
Mẹ: …………………………………….
Địa chỉ:……………… ……………
Điện thoại: ……………………
Họ tên: …………………………………
Địa chỉ: ………………………………….
……………………………………………
Điện thoại:..…..………, email………..
Sinh tại…………………, ngày ………
□- Không Rửa tội
□- Rửa tội, ngày……………..….……..
Tại Gx ………..………..Gp …………
Học vấn: …..………………………………
Nghề nghiệp:…………………………
Số con cái đã có trong hôn nhân: .………
Hiện nay đang sống: 
□- Độc thân
□- Sống như vợ chồng với người khác
từ năm.................và có thêm số con là ......
Cha: ………………………………………
Địa chỉ:……………….………………..
Điện thoại: ……………………………..
Mẹ: ……………………………………..
Địa chỉ:……………….…………………
Điện thoại: ……………………………..

2- Thân nhân hay người khác có thể làm chứng cho tình trạng hôn nhân của tôi là:
    1. Họ tên: ………………… … …quan hệ……..... ……Điện thoại…………………
    2. Họ tên: ………………………. quan hệ.………….…Điện thoại…………….……
    3. Họ tên: ………………………. quan hệ.…… ………Điện thoại…………….……
3-Tài liệu đính kèm
    1. Bản tường trình về hôn nhân của tôi[2].
    2. Chứng thư Hôn phối và Rửa tội (hoặc bản sao trang Chứng Nhận Hôn Phối trong sổ Gia Đình Công Giáo)
    3. Bản sao tài liệu có giá trị làm chứng (nếu có): giấy li dị dân sự, bệnh án, văn thư ...

Cha Sở xác nhận                                                               Nguyên đơn (ký tên)
Nguyên đơn có cư sở/ bán cư sở /kết hôn                    
tại Giáo xứ …………….………  
      
(Ghi chú: Đơn làm hai bộ, gởi đến: Vp Tư Pháp TGM 22 Tần Phú, p. Lộc Thọ, Nha Trang)

 

Phần dành riêng cho bị đơn[3]
Bị đơn, nếu muốn, có thể tham gia ý kiến ở phần này, bằng cách đánh dấu (x) vào ô vuông và ghi ý kiến sơ khởi của mình:
□- Đồng ý xin tiêu hôn; □- Không đồng ý xin tiêu hôn; □- Không quan tâm; □- Đồng ý với lý do xin tiêu hôn của nguyên đơn; □- Không đồng ý, đề nghị lý do tiêu hôn khác:   
…………………………………………………………………………………………
Bị đơn (ký tên)
Ghi chú của Tòa án ……………………………………............................................…….

 

Sắc lệnh Tòa án
Bản sao của đơn xin này phải được thông báo cho cha Bảo Hệ được biết, để tham gia vào vụ án, bảo vệ cho dây hôn phối.

Đại Diện Tư Pháp
 

1.2. Quyết định chấp nhận đơn xin và triệu tập

1.2.1. Xác định có nền tảng để chấp đơn hay không

Cần xác định ba điều để có thể chấp đơn:
1) Thẩm quyền: Tòa có thẩm quyền xử vụ án, dựa theo điều 1672:
10 Tòa án tại nơi đã cử hành hôn nhân;
20 Tòa án tại nơi mà một hoặc cả hai bên có cư sở hay bán cư sở;
30 Tòa án tại nơi mà trong thực tế phải thu thập được phần lớn các chứng cứ.
2)- Có nền tảng: Thấy đơn có một nền tảng nào đó (đ. 1676§1)
3)- Tan vỡ: Chắc chắn rằng hôn nhân đã đổ vỡ không còn sửa chữa được, đến nỗi không thể tái lập đời sống chung vợ chồng (đ. 1675). Không thể tái lập đời sống chung có thể xác định được nếu một bên đã tái hôn, hoặc một bên không có khả năng kết hôn (đ. 1095), lừa gạt kết hôn (đ. 1098), gây thiệt hại nặng nề cho người phối ngẫu hay cho con cái.
Không tìm ra bị đơn
Sau khi cố gắng hết sức mà vẫn không tìm ra địa chỉ hay số điện thoại của bị đơn, thì buộc nguyên đơn làm một văn bản trình bày hoàn cảnh lý do và ký nhận.
Dignitas Connubii, Art. 13. 6 có quy định: “Sau khi điều tra kỹ lưỡng mà không biết bị đơn ở đâu thì điều này phải được ghi nhận bằng văn bản trong hồ sơ vụ án”.

1.2.2. Sắc lệnh chấp đơn, thông báo cho bảo hệ viên và bị đơn

Điều luật mới 1676§1 quy định:
§1. Sau khi nhận đơn thỉnh cầu (libellus), nếu xét thấy đơn có một nền tảng nào đó, thì Đại Diện tư pháp phải chấp đơn và, bằng một sắc lệnh đính kèm ở cuối chính đơn này, truyền gửi một bản sao để thông báo cho bảo hệ viên và, nếu đơn không được cả hai bên ký tên, thì thông báo cho bị đơn và cho người ấy thời hạn mười lăm ngày để bày tỏ ý kiến của mình về điều thỉnh cầu.
Sắc lệnh chấp đơn và thông báo cho bị đơn (triệu tập) nên được thực hiện chung với nhau trong một văn bản.
Chấp đơn mặc nhiên: Trong thực tế Việt Nam, nếu nguyên đơn đã được tư vấn trước và đã được thẩm phán giúp xác định nghi vấn tiêu hôn, hướng dẫn làm đơn thì coi như Tòa đã đồng ý chấp đơn. Sau khi nhận đơn Tòa vẫn ra sắc lệnh chấp đơn nhưng không cần gởi sắc lệnh chấp đơn cho nguyên đơn.
Thông báo (triệu tập) bị đơn: Có thể thông báo cho bị đơn bằng văn bản hay điện thoại. Cho phép bên bị đơn có ý kiến với thời hạn là 15 ngày sau khi nhận thông báo (đ. 1676§1).
- Nếu bị đơn không được thông báo (triệu tập) cách hợp lệ, bị đơn sau này có quyền khiếu nại với tố quyền tiêu hủy bản án. Do quyền bào chữa của bị đơn đã bị vi phạm, các án từ đều vô hiệu (đ.1511, đ.1620).
- Bị đơn nào từ chối không nhận giấy thông báo (triệu tập) hay, thì coi như đã được thông báo cách hợp lệ (đ. 1510).
      Trong thực tế ở Việt Nam, khi bị đơn là người lương hay là người tân tòng mà không có đức tin thì họ thường đã tái hôn và không quan tâm gì đến vụ án. Đại Diện tư pháp chỉ cần ghi chú sự không quan tâm và lý do vào án từ, bỏ qua việc thông báo (triệu tập) bị đơn. Để thuận tiện, nên ghi chú ở cuối đơn thỉnh cầu, bên dưới lệnh truyền gởi bản sao cho bảo hệ viên. Khi vụ án kết thúc, có thể chỉ cần trao cho bị đơn phần quyết định của bản án.
Bác đơn: Trong trường hợp đơn xin đã không được tư vấn trước và Tòa thấy rõ là không có nền tảng nào để nhận đơn thì ra sắc lệnh bác đơn.

1.3. Đối tụng - thiết lập nghi vấn

§2. Quá thời hạn nêu trên, sau khi đã nhắc nhở một lần nữa cho bên kia bày tỏ ý kiến nếu thấy thích hợp, và sau khi đã nghe ý kiến của bảo hệ viên, Đại Diện tư pháp phải ra sắc lệnh xác định thể thức nghi vấn và quyết định vụ án phải được xử theo thủ tục thông thường hay theo thủ tục ngắn gọn hơn theo những điều 1683-1687. Sắc lệnh này phải lập tức được thông báo cho các bên và cho bảo hệ viên.
Sau khi đã thông báo cho bên kia và thấy thích hợp, Đại Diện tư pháp phải ra sắc lệnh xác định thể thức nghi vấn. Điều này  tương ứng với thuật ngữ “đối tụng” (litis contestatio) của thủ tục vụ án.
Đối tụng được hiểu là: “hành vi thủ tục tòa án, mà qua đó, thẩm phán, bằng một sắc lệnh, trong sự tranh chấp giữa các bên, chỉ định rõ ràng, trong một cách thức khẳng quyết và hầu như không thay đổi, những chủ điểm (termini) của sự tranh tụng” (Gullo, tr 123). Điều 1513§1 nói: “Cuộc đối tụng xảy ra khi thẩm phán ra sắc lệnh xác định những chủ điểm (termini) của cuộc tranh chấp được rút ra từ những lời thỉnh cầu và những phúc đáp của các bên”.
Đối với vụ án vô hiệu của hôn nhân, đối tụng xảy ra khi thẩm phán ra sắc lệnh xác định nghi vấn tiêu hôn, nghĩa là, nghi vấn  về nguyên do hay những nguyên do khiến hôn nhân vô hiệu.
Thông thường Việt Nam, sau khi đã tìm biết diễn biến của cuộc hôn nhân, thẩm phán mới có khả năng đề nghị và xác định nghi vấn tiêu hôn để giúp các bên. Trừ khi có luật sư giúp đở, cả bên nguyên đơn và bị đơn thường không có khả năng đề nghị nghi vấn tiêu hôn. Vì vậy thẩm phán có thể tùy nghi tự thiết lập nghi vấn tiêu hôn. 
Thể thức nghi vấn “phải xác định xem hôn nhân thành sự bị kháng nghị vì lý do nào hoặc vì những nguyên do nào (đ. 1676§5). Ví dụ sau là một thể thức nghi vấn, với hai nguyên do:
Có chắc chắc rằng hôn nhân giữa ông A và bà B, ngày …, tại …, là vô hiệu vì nguyên do là:
  1. sự ưng thuận kết hôn của bà B đã bị hà tỳ do bà đã vì kính sợ cha mẹ mà đành kết hôn không, chiếu theo điều  1103?
  2. ông A không có khả năng kết hôn vì bản chất tâm lý không thể chu toàn nghĩa vụ hôn nhân không, chiếu theo điều 1095n3?”

Xử theo thể thức ngắn gọn hơn hoặc thông thường

Đại diện tư pháp có thể chọn xử theo thể thức ngắn gọn hơn hay thông thường.
Chỉ chọn xử theo lối ngắn gọn hơn khi: Cả hai bên hoặc một bên với sự đồng ý của bên kia và vị Đại diện tư pháp thấy chứng cớ cho sự vô hiệu hôn nhân khá đầy đủ, đáp ứng với yêu cầu của điều 1683,20.  Theo nguyên tắc của điều 1685, khi xử theo thủ tục ngắn gọn hơn, vị Đại diện tư pháp phải ấn định thể thức nghi vấn, chỉ định thẩm cứu viên và hội thẩm và triệu tập tất cả những ai phải tham dự cho một giai đoạn phải được tiến hành theo nguyên tắc điều 1686 không quá ba mươi ngày sau.
Nếu xử theo thủ tục thông thường, theo điều 1676§3 quy định, Đại Diện Tư Pháp, cũng trong sắc lệnh xác định thể thức nghi vấn, thu xếp việc thiết lập thẩm phán đoàn hoặc một thẩm phán duy nhất với hai hội thẩm theo quy định của điều 1673§4.
Sau đây là một mẫu sắc lệnh chấp đơn, triệu tập, lập thể thức nghi vấn và khởi sự thẩm cứu, được đề nghị:

 
TÒA ÁN GIÁO PHẬN …
Địa chỉ: ………………………
Ngày … tháng … năm ……..
Vụ án số: ….
(Tên nguyên đơn – Tên bị đơn)
QUYẾT ĐỊNH CHẤP NHẬN PHÁN XỬ HÔN NHÂN VÔ HIỆU
TRIỆU TẬP BỊ ĐƠN
Tôi ký tên dưới đây là Lm. …, chánh thẩm Tòa Án Giáo Phận …, căn cứ vào:
- Đơn của …, ngày …., xin Tòa án Giáo Phận … thẩm tra và tuyên bố hôn nhân vô hiệu, hôn nhân giữa …và …, cử hành ngày 30/12/2003 tại giáo xứ…, giáo phận…
- Thẩm quyền của Tòa án Giáo Phận đối với nơi…. (Đ. 1672,20).
- Các nguyên tắc Giáo Luật điều 1504 và 1505 về sự hợp pháp của đơn xin và điều 1676 về sự chấp nhận đơn và thông báo cho bị đơn.
QUYẾT ĐỊNH
1- Chấp nhận thẩm tra và phán xử vụ án vô hiệu hôn nhân, do … thỉnh cầu.
2- Thông báo cho bên nguyên đơn là … và bên bị đơn là …về sự chấp đơn này.
3- Bên bị đơn nếu có ý kiến về đơn xin công bố hôn nhân vô hiệu của nguyên đơn thì,trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được thông báo, mời đến tại trụ sở tòa án là Tòa Giám Mục, địa chỉ …, để gặp gỡ hoặc gọi điện thoại đến linh mục chánh thẩm …Đt. ..........., để tỏ bày ý kiến.
4- Bản sao của đơn xin được gởi đến Bảo hệ viên và đến bị đơn.

Lm. …
Đại Diện Tư Pháp
Lm. …
Lục sự

 
TÒA ÁN GIÁO PHẬN …
Địa chỉ: ……………………..
Ngày … tháng … năm ….
Vụ án số: …
(Tên nguyên đơn – Tên bị đơn)

Thể thức nghi vấn và khởi sự thẩm cứu

Tôi ký tên dưới đây là Lm …, chánh thẩm Tòa án Giáo Phận …., căn cứ vào đơn xin và ý kiến của hai bên vụ án,
QUYẾT ĐỊNH
1- Thiết lập thể thức nghi vấn cho vụ án như sau:
Có chắc chắn hôn nhân giữa bà …  và ông …, ngày ….tại giáo xứ …., giáo phận ….. là vô hiệu, dựa trên cơ sở là khi kết hôn, ông …, chiếu theo điều … hay không?
2- Vụ án được tiến hành xử theo thủ tục thông thường theo Giáo luật.
3- Vụ án được xét xử bởi hiệp đoàn ba thẩm phán:
- Lm. ………………
- Lm. ………………
- Lm. ………………
4- Quyết định này được thông báo đến các bên và Bảo hệ viên.
5- Nếu ai thấy cần thay đổi thể thức nghi vấn thì báo ngay cho Tòa án khi nhận được thông báo.
6- Sau thông báo này, nếu không có ý kiến gì thêm về thể thức nghi vấn, Tòa sẽ khởi sự giai đoạn thẩm cứu vụ án. Các bên và các nhân chứng sẽ được Tòa liên lạc để được thẩm vấn, thu thập chứng cứ.


Lm. ……………..                                       Lm. ………………..
Lục sự                                                       Đại Diện Tư Pháp

 

2. Giai đoạn thẩm cứu vụ án

2.1. Sắc lệnh thẩm cứu vụ án

Sau khi lập thể thức nghi vấn, hoặc có thông báo thể thức nghi vấn này và các bên không có phản đối gì, Đại Diện Tư pháp hay chánh án ra một sắc lệnh khởi sự thẩm cứu vụ án (Có thể lập chung sắc lệnh thể thức nghi vấn và khởi sự thẩm cứu như mẫu trên)

2.2. Thẩm cứu vụ án

Vị thẩm phán dự thẩm (giudice istruttore) sẽ đảm trách giai đoạn thẩm cứu vụ án, bởi chính ngài hay nhờ thêm một dự thẩm (auditor) khác.
Sự thẩm cứu được thực hiện qua việc thu thập chứng cứ: xem xét bản khai, tài liệu, giám định y khoa; thẩm vấn các bên và các nhân chứng do các bên đưa ra hoặc do tòa án tùy chọn (cha mẹ, bà con, bạn bè, cha sở…), hoặc lấy thêm thông tin từ các nguồn khác.
a- Nơi thẩm vấn: Thường là chính tại trụ sở tòa án, nhưng vẫn tùy theo thẩm phán định đoạt (đ. 1158).
b- Lời thề: Không buộc phải thề. Thẩm phán tùy nghi và theo sự khôn ngoan của mình để bắt người được thẩm vấn thề hay không.
c- Thẩm vấn riêng biệt từng người một: Việc thẩm vấn được thực hiện riêng biệt, không công khai (đ. 1560§1).

d- Có sự hiện diện và ghi chép của công chứng viên: Đối với những vụ án về vô hiệu hôn nhân, vì bản chất khác biệt, các câu trả lời của các bên và của các nhân chứng được ghi lại bằng văn bản, nhưng không cần ghi nguyên văn mà chỉ cần một cách tóm tắt và chỉ ghi lại những gì liên quan chủ yếu đến chính vấn đề hôn nhân đang bàn cãi.[4]
Bảo hệ viên, công tố viên và luật sư có quyền hiện diện (đ. 1559, 1678§1) và có thể đề nghị câu hỏi cho thẩm phán (đ. 1561). Các bên, các nhân chứng không được quyền hiện diện hoặc nghe thẩm vấn (đ. 1677§2).
e- Câu hỏi: phải ngắn gọn, hợp với sự hiểu biết, không gợi ý trả lời, không được thông báo trước câu hỏi cho các nhân chứng (đ. 1564, 1565).
f- Gởi câu hỏi nhờ người khác thẩm vấn: Có thể nhờ cha sở hoặc người có khả năng và đáng tin để thẩm vấn dựa theo những câu hỏi mà thẩm phán cho sẵn.
g- Gởi câu hỏi qua bưu điện hay email:  Có thể gởi các câu hỏi qua bưu điện hoặc email để các bên hoặc nhân chứng trả lời, khi không thể dùng các phương tiện khác.
h- Dùng máy ghi âm: Có thể chấp nhận việc dùng máy ghi âm và sau đó ghi chép lại trên giấy tờ, và có thể được, người cung khai ký tên vào đó (đ. 1567§2).

i- Dùng điện thoại để thẩm vấn: Có thể dùng máy điện thoại có cài đặt phần ghi âm tự động các cuộc gọi đến và đi. Sau đó thẩm cứu viên hay thư ký biên soạn lại thành văn bản.[5]
k- Thân nhân làm chứng: Trong vụ án hôn phối thẩm phán nên thẩm vấn các thân nhân vì chính họ thường biết rõ hơn về các sự kiện.
l- Ký tên: Theo nguyên tắc chung cho tất cả các loại thủ tục án hình sự hay hộ sự, nhân chứng, thẩm phán và công chứng viên phải ký vào án từ sau khi đã đọc lại cho nhân chứng nghe và để nhân chứng sửa chửa, thay đổi lời cung khai (đ. 1569).
Tuy nhiên đối với vụ án về vô hiệu hôn nhân, thẩm phán thu thập chứng cứ để có thể trả lời cho nghi vấn tiêu hôn, chứ không xử một vụ kiện cáo hay tranh tụng, các bên hay nhân chứng có thể miễn ký tên vào văn bản thẩm vấn.
Thông thường, các cuộc thẩm vấn được ghi trực tiếp (tốc ký bằng tay) trên giấy hay được thu nhận qua máy ghi âm hay điện thoại, phải được đánh máy vi tính sau đó và in thành văn bản. Nếu muốn người trả lời thẩm vấn ký tên vào văn bản đó thì phải gọi họ đến văn phòng tòa án hoặc gởi văn bản đến cho họ ký và gởi trả lại cho tòa án. Công việc nhiều khi có bất tiện và kéo dài thời gian. Vì vậy, nếu có thể được thì để họ ký, còn nếu thấy bất tiện thì có thể miễn ký (đ. 1567§2). Tuy nhiên chữ ký của thẩm vấn viên và công chứng viên (lục sự) thì không thể thiếu.

Điều 1677 cho phép Bảo hệ viên, luật sư và công tố viên được tham dự buổi thẩm vấn và xem các án từ của vụ án, nhưng không cho phép các bên.[6]

2.3. Sắc lệnh kết thúc thẩm cứu và công bố án từ

2.3.1. Kết thúc thẩm cứu

Vấn đề cần đặt ra là có được bao nhiêu chứng cứ là đủ để kết thúc thẩm cứu. Vị thẩm phán không nên thẩm vấn quá nhiều nhân chứng. Thông thường nên hỏi cha mẹ các bên và vài nhân chứng nữa là đủ.
Về giá trị các lời tự thú và lời khai của các bên điều 1678§1 hướng dẫn có thể có giá trị chứng minh đầy đủ:
§1 Trong những vụ án hôn nhân bất thành, lời tự thú tư pháp và những lời khai của các bên, mà sự đáng tin của họ cũng có thể được cũng cố bởi các nhân chứng, có thể được thẩm phán đánh giá là có hiệu lực chứng minh đầy đủ, sau khi vị này đã cứu xét tất cả những dấu hiệu và những yếu tố cũng cố, miễn là không có những yếu tố khác phủ định chúng.
Về một nhân chứng duy nhất cũng có thể tin cậy hoàn toàn, theo điều 1678§2:
§2. Trong những vụ án này, lời khai của một nhân chứng duy nhất có thể đáng tin hoàn toàn, nếu đó là một nhân chứng có phẩm cách cung khai về những điều được thực hiện theo chức vụ của mình, hoặc những sự kiện về người và sự việc gợi lên điều ấy.
Về sự cần thiết của giám định viên, điều 1678§3 quy định:
§3. Trong những vụ án về sự bất lực hay về hà tì ưng thuận do bệnh tâm thần hoặc do những bất thường thuộc bản chất tâm lý, thẩm phán phải nhờ đến sự giúp đỡ của một hay nhiều giám định viên, trừ khi hoàn cảnh cho thấy rõ việc giám định không cần thiết; còn trong những vụ án khác, phải giữ những quy định của điều 1574.
Sau khi thấy việc thu thập chứng cứ đã đủ thì Tòa ra sắc lệnh kết thúc thẩm cứu (đ. 1599) và công bố án từ.
Sau khi đã ra quyết định kết thúc thẩm cứu, thẩm phán cũng có thể lấy thêm chứng cớ nữa nhưng rất giới hạn, chỉ trong các trường hợp như là để tránh nguy cơ gian lận hoặc hối lộ, hoặc bản án sẽ bất công (đ. 1600).

2.3.2. Công bố án từ

 “Sau khi kết thúc thẩm cứu, thẩm phán ấn định một thời gian thích hợp để các bên trình bày các lời bào chữa hay những nhận xét” (đ. 1601). “Những lời bào chữa và những nhận xét phải được viết trên giấy tờ…” (đ. 1602§1). Luật sư, Bảo hệ viên, vì vậy, viết lời bào chữa và  ý kiến cho vụ án sau khi Tòa ra sắc lệnh kết thúc thẩm cứu.
Để thuận tiện, nên ban hành hai sắc lệnh kết thúc thẩm cứu và công bố án từ trong cùng một văn bản.
Sắc lệnh kết thúc thẩm cứu và công bố án từ, được đề nghị theo mẫu dưới đây:

 
TÒA ÁN GIÁO PHẬN …
Địa chỉ: ……………………..
Ngày … tháng … năm ….
Vụ án số: …
(……. – …….)
KẾT THÚC THẨM CỨU  VÀ CÔNG BỐ ÁN TỪ
Tôi ký tên dưới đây là Lm ……………., Đại Diện tư pháp và là thẩm cứu viên, sau khi đã:
-   Thẩm vấn nguyên đơn, đương sự khẳng định không có gì thêm bớt lời cung khai;
-   Thẩm vấn ba (3) nhân chứng;
Nhận thấy tất cả tiến trình thẩm cứu  đã được đầy đủ,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Kết thúc giai đoạn thẩm cứu vụ án;
2- Bảo hệ viên, Công tố viên, người bảo hộ hoặc Luật sư được phép xem xét các án từ, nhưng các bên không được phép xem;
3- Bảo hệ viên và người bảo hộ hoặc Luật sư đệ trình ý kiến trong thời hạn 15 ngày, kể từ khi nhận được thông báo (đ. 1601).


Lm. ……………..                                     Lm. ………………..
Lục sự                                                        Đại Diện Tư Pháp

3. Nghị án và tuyên án

3.1. Chuẩn bị nghị án: gởi hồ sơ đến các vị hữu trách

Sau khi ra sắc lệnh kết thúc thẩm cứu và công bố án từ, bản sao toàn bộ hồ sơ vụ án phải được gởi:
- Đến các thẩm phán để các ngài xem xét trước và viết bản kết luận. Bản kết luận phải có trưng dẫn những lý do về pháp lý cũng như sự kiện (đ. 1609§2).
- Đến Bảo hệ viên để vị này viết bản ý kiến chống lại sự hủy bỏ dây hôn phối.
- Đến người bảo hộ hay luật sư viết lời biện hộ nếu có.
Hồ sơ được gởi đi trước khi nghị án ít là 15 ngày, hợp với thời hạn thẩm phán ấn định cho việc viết các ý kiến và lời biện hộ. Tuy nhiên, thời hạn này có thể linh động ấn định tùy theo thẩm phán.

3.2. Họp nghị án (đ. 1609)

Chiếu theo điều 1609§2, khi họp nghị án, mỗi thẩm phán phải mang theo bản kết luận của mình về nội dung vụ kiện, với những lý do pháp lý cũng như về những sự kiện đưa đến những kết luận đó. Sau nghị án đã xong, bản kết luận này cũng phải được kèm vào hồ sơ vụ án.
Điều 1609 chỉ quy định là các thẩm phán họp nghị án mà không nói đến Luật sư hay  Bảo hệ viên dự họp. Theo điều 1601 và 1602§1 thì các vị này chỉ phải viết trên văn bản những lời bào chữa hoặc ý kiến sau khi kết thúc thẩm tra. Vì vậy, các vị này có thể họp hay không họp nghị án tùy theo quy định riêng của mỗi tòa án.[7]
Mỗi thẩm phán khi tuyên bố kết luận của mình buộc phải đạt được sự chắc chắn luân lý về vấn đề của vụ án. Sự chắc chắn này được tìm thấy từ các án từ và các chứng cớ (đ. 1608§1-2).
Sự chắc chắn luân lý là gì?
Chắc chắc luân lý là loại chắc chắn tương đối thôi chứ không đòi là phải tuyệt đối. Để đạt sự chắc chắn tuyệt đối thì phải loại trừ tất cả mọi nghi ngờ cho dù mơ hồ hay vô căn cứ, nhưng để đạt sự chắc chắn luân lý thì chỉ đòi hỏi là hoàn toàn không còn có sự nghi ngờ có căn cứ hay hữu lý nào cả.
Bản Quy tắc hướng dẫn khoản 12 cũng nói:
Để đạt được sự chắc chắn luân lý cần thiết theo luật, thì sự trỗi vượt đáng kể  của những chứng cớ và những dấu chỉ vẫn chưa đủ, mà còn phải hoàn toàn loại trừ bất cứ hoài nghi thận trọng tích cực nào là có thể sai lầm về luật cũng như về sự kiện, tuy vậy không loại trừ cái thuần túy khả thể có sự mâu thuẫn (ancorché non sia esclusa la mera possibilità del contrario)”.
Trong xử án, một sự chắc chắc luân lý đạt được chỉ sau khi thẩm phán đã cứu xét những sự kiện trong nhiều tình tiết của nó, thấy có sự hữu lý hữu cơ giữa chúng mà không thấy có sự vô lý hay một chút nghi ngờ tích cực nào. Tuy nhiên, đạt được một chắc chắc luân lý không cần là phải đạt được một chắc chắc tới mức tuyệt đối, không còn một khả thể sai lầm nào.
Ví dụ như trong vụ án tiêu hôn do bất lực không thể giao hợp, lời khai của một hay hai bên mà thẩm phán nhận thấy đúng thật, được hoàn cảnh, lời khai của nhân chứng đáng tin cũng cố, và không thấy có một chút nghi ngờ tích cực, hữu lý nào hay mâu thuẩn nào, thì đủ để thẩm phán đạt được sự chắc chắc luân lý. Tuy nhiên, nếu thẩm phán đòi thêm một bác sĩ pháp y đáng tin chứng nhận rằng người nữ phải còn trinh tiết, hoặc đòi đến mức thật sự phải còn trinh tiết chứ không phải là trinh tiết giả dối, để cho xác thực  rằng họ đã bất lực giao hợp, thì lúc đó, có thể nói, thẩm phán đã đòi hỏi một sự chắc chắc vượt quá điều mà luật quy định.
Đối với các chứng cớ, thẩm phán phải thẩm định theo lương tâm mình (đ. 1608§3).
Vị chánh án có nhiệm vụ hướng dẫn cuộc tranh luận, để cuộc tranh luận đi đúng hướng, đúng vào vấn đề cần giải quyết. Vì nếu không định hướng, cuộc thảo luận sẽ kéo dài mà không có kết quả.
Sau cuộc tranh luận, mỗi thẩm phán có thể thay đổi kết luận ban đầu của mình và phán quyết của bản án sẽ lấy theo ý kiến của đa số thẩm phán, hoặc là “xác nhận” (affirmative) hoặc là “phủ nhận” (negative) sự vô hiệu của hôn nhân.

3.3. Soạn thảo và ban hành bản án

Sau cuộc họp nghị án, báo cáo viên hay phúc trình viên (ponens) có nhiệm vụ soạn thảo bản án, dựa vào những lý do được mỗi thẩm phán đưa ra trong cuộc tranh luận, trừ khi đa số thẩm phán ấn định trước những lý do phải được viện dẫn. Sau đó bản án phải được ký nhận chấp thuận của mỗi thẩm phán (đ.1610§2). Nếu là thẩm phán duy nhất, thẩm phán phải tự soạn thảo bản án (đ.1610§1).
Bản án phải được ban hành không quá một tháng, tính từ ngày vụ án đã được xét xử (đ. 1610§3).

3.4. Cách thức soạn thảo bản án (sentencia iudicialis)

Một bản án thường được soạn thảo theo các phần sau:
Mở đầu: “Sau khi kêu cầu danh Chúa, bản án phải lần lượt ghi rõ ai là thẩm phán hoặc tòa án là tòa nào; phải ghi rõ danh tính và nơi cư trú của nguyên cáo, của bị cáo, của người đại diện, và ai là công tố viên, ai là bảo hệ viên, nếu họ tham gia vào vụ án” (đ. 1612§1).
A. Sự kiện (Fattispecie, The Facts): “Trình bày vắn tắt sự kiện cùng với những kết luận của các bên và thể thức của những nghi vấn” (đ. 1612§2).

B. Chủ văn của bản án (đ. 1612§3) gồm hai phần:[8]
1) Pháp lý (In diritto, The Laws): Nêu ra những lý lẽ pháp lý liên quan đến vụ án.
2) Luận chứng (Nel fatto, The Argument): Thẩm phán đưa ra những suy xét và phân định pháp lý về vụ án dựa trên các sự kiện về người và sự việc đã xảy ra.
C. Kết luận
Trả lời “Xác nhận” (Affirmative) hoặc “Phủ nhận” (Negative) cho nghi vấn tiêu hôn.
Phần cuối bản án cũng cần:
- Chỉ ra khả năng và cách thức kháng án.
- Chỉ ra thời gian bản án bắt đầu có hiệu lực thi hành hoặc cấm tái hôn (đ. 1682§1).
- Nhắc nhở cho các bên biết những nghĩa vụ luân lý hay cả những nghĩa vụ dân sự mà bên này phải có đối với bên kia và đối với con cái họ trong việc cấp dưỡng và giáo dục (đ.1691§1), nếu có.

4. Công bố bản án

4.1. Công bố

Bản án phải được công bố (pubblicata) sớm hết sức, phải chỉ rõ những cách thức có thể được dùng để kháng cáo, và chỉ có hiệu lực sau khi được công bố (đ. 1614).

4.2. Ghi chú vào sổ Rửa Tội và Hôn Phối

Điều 1682§2 quy định: 
Ngay sau khi bản án đã có hiệu lực thi hành, vị Đại Diện Tư pháp phải thông báo bản án đó cho Đấng Bản Quyền địa phương nơi hôn nhân đã được cử hành. Vị này phải quan tâm ghi chú việc công bố hôn nhân không thành và những lệnh cấm kèm theo, nếu có, vào sổ hôn phối và sổ rửa tội, càng sớm càng tốt.
Nếu hôn nhân đã được cử hành trong giáo phận nơi tòa án hôn phối đã xử, thì thẩm phán có thể được Đấng Bản Quyền ủy thác để gởi thông báo bản án đến các linh mục quản xứ, nơi cử hành hôn phối và/hoặc nơi rửa tội (trong hoặc ngoài giáo phận nơi tòa án hôn phối đã xử), để ghi chú vào sổ.
Nếu hôn nhân đã được cử hành ngoài giáo phận nơi tòa án hôn phối đã xử, thì gởi thông báo bản án đến Đấng Bản Quyền của nơi cử hành hôn phối, để vị này lo liệu cho các linh mục quản xứ,  nơi cử hành hôn phối và/hoặc nơi rửa tội ghi chú vào sổ. Có thể gởi đến vị Đại Diện tư pháp của nơi cử hành hôn phối, nếu Giám Mục của giáo phận đó đã định liệu như vậy, để vị này lo liệu.

Mẫu giúp viết bản án

 
TÒA ÁN CẤP MỘT GIÁO PHẬN …
Ngày … tháng … năm …
Vụ án số: …
(Tên nguyên đơn - Tên bị đơn)
PHÁN QUYẾT SƠ THẨM
Nhân danh  Đức Giêsu Kitô, Amen.
Trong năm thứ nhất của Giáo Hoàng …, ngày …, linh mục JB… Đại Diện Tư pháp, chủ trì, cùng với hai linh mục thẩm phán Phêrô… và Giuse…, tụ họp hợp lệ tại văn phòng tư pháp Tòa Giám Mục …, xem xét cẩn thận các án từ về sự vô hiệu của hôn nhân  giữa anh … và chị …
Sau khi bàn luận cùng với sự can thiệp của linh mục bảo hệ Phêrô …. và linh mục luật sư JB. …, chúng tôi ra phán quyết sơ thẩm cho vụ án.
  1. Sự kiện
(Phần sự kiện bao gồm hai mục: a- Sự kiện kết hôn và cuộc sống chung vợ chồng; b- Những hành vi liên quan đến thủ tục tòa án)
1. Hôn nhân của  anh … và chị … được cử hành ngày …tại nhà thờ giáo xứ … Trước khi kết hôn khoảng ba tháng anh … được mẹ giới thiệu gặp gỡ chị …
(kể lại tóm tắt sự kiện xảy ra từ lúc họ quen biết nhau đến lúc chia tay, khoảng nữa trang A4).
2. Ngày …. anh … đệ đơn lên tòa án Giáo Phận … xin công bố hôn nhân vô hiệu, với lý do bị cha mẹ ép buộc kết hôn. Với thẩm quyền của tòa theo điều 1672,10, nơi hôn nhân được cử hành, Tòa chấp thuận thụ lý vụ án và đã triệu tập các bên. Thể thức nghi vấn tiêu hôn được Tòa thiết lập, như sau:
“Có chắc chắc rằng hôn nhân của anh …và chị, cử hành ngày … tại nhà thờ giáo xứ …, Giáo phận…là vô hiệu, với nguyên nhân là anh … , chiếu theo điều … hay không?”
B- Pháp lý (Trình bày các khoản luật, nguyên tắc, án lệ, lý thuyết được đưa ra để làm cơ sở cho phần luận án bên dưới. Viết khoảng 1-5 trang giấy A4)
3.

C- Luận cứ (Trình bày những biện luận, suy lý dựa theo pháp lý hay án lệ về các sự kiện, các chứng cứ trong vụ án hôn nhân. Cuối cùng phần này là  kết luận Affimative hoặc Negative và cho biết là có thể kháng cáo ở tòa nào)

D- Kết luận
Vì thế, sau khi đã cứu xét tường tận về luật và về tính pháp lý của sự kiện, chúng tôi, ký tên dưới đây là các thẩm phán của Tòa Án Giáo Phận …, tụ họp hợp lệ tại Văn Phòng Tư Pháp của Tòa Giám Mục, sau khi đã kêu cầu danh Chúa, tuyên bố và ra phán quyết dứt khoát, về nghi vấn tiêu hôn phải được trả lời, rằng:
Xác nhận (Affirmative), có nghĩa là xác nhận hôn nhân giữa anh ….và chị ….là vô hiệu, dựa trên nền tảng là anh đã ...., chiếu theo Giáo Luật điều ….
(Có thể thêm lệnh cấm hôn, chiếu theo đ. 1684, 1685, trong một số trường hợp như không có khả năng kết hôn (đ. 1095) hoặc lừa dối…).
Bên nào cảm thấy mình bị thiệt hại, cũng như công tố viên và bảo hệ viên, đều có thể kháng nghị bản án bằng tố quyền xin tiêu hủy bản án hoặc bằng quyền kháng cáo chống lại bản án (đ. 1680).
Nếu ai kháng án thì phải làm đơn nêu rõ lý do kháng án cùng với các sự kiện chứng tỏ (đ. 1634§1). Kháng án chỉ có giá trị trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được thông báo này, lên Tòa án xử cấp II Tổng Giáo phận…. Tòa án xử cấp I Giáo phận… chúng tôi sẽ nhận và giúp chuyển đơn kháng án cùng bản sao toàn bộ hồ sơ vụ án lên tòa kháng cáo. 
Sau thời hạn 15 ngày, nếu không có kháng án, bản án cấp một này sẽ có hiệu lực thi hành (đ. 1679).
Phán quyết này sẽ được công bố cho các bên phần Kết luận.
Đã được đọc và chuẩn nhận bởi các thẩm phán:
Tòa án Giáo phận … ngày …
(Ba thẩm phán và lục sự ký tên)
Lm. …, Đại Diện tư pháp, chủ tọa
Lm. …, Thẩm phán, ponens
Lm. …, Thẩm phán
Lm. …, Lục sự

 

5. Kháng án

Điều 1680
§1. Bên nào cảm thấy mình bị thiệt hại, cũng như công tố viên và bảo hệ viên, đều có tố quyền xin tiêu hủy bản án hoặc kháng cáo chống lại bản án đó theo những điều 1619-1640.
§2. Mãn thời hạn luật ấn định cho việc kháng cáo và tiến hành kháng cáo, tòa án cấp trên sau khi đã nhận được các án từ tư pháp, phải thiết lập tòa án hiệp đoàn, chỉ định bảo hệ viên và nhắc nhở các bên bày tỏ ý kiến trong một thời hạn quy định; mãn thời hạn đó, nếu kháng cáo rõ ràng chỉ là trì hoãn, thì tòa án hiệp đoàn xác nhận bản án của tòa án cấp một bằng sắc lệnh.
§3. Nếu việc kháng cáo được chấp nhận, phải tiến hành cùng cách thức giống như ở tòa cấp một, với những thích nghi cần thiết.
§4. Nếu ở cấp kháng cáo người ta đưa ra một lý do mới khiến hôn nhân bất thành, thì tòa án có thể chấp nhận lý do đó và xét xử như ở tòa án cấp một.
Việc kháng nghị bản án (impugnazione della sentenza) từ sơ cấp lên cấp hai được thực hiện dưới hai quyền: quyền kháng tố xin tiêu hủy bản án (querela di nulità contro la sentenza) và quyền kháng cáo (appello).
a- Tố quyền xin tiêu hủy bản án (diritto della querela di nulità contro la sentenza)
Tố quyền xin tiêu hủy bản án nghĩa là quyền khiếu nại xin tiêu hủy bản án, trong đó nêu lên nêu lên những khiếm khuyết hoặc vi phạm luật tố tụng của tòa án khiến bản án vô hiệu. Nếu Tòa đã có vi phạm luật tố tụng thì buộc phải tuyên bố bản án vô hiệu.
Sự kháng cáo thì khác, vì đáp lại sự kháng cáo, Tòa cấp cao hơn có thể thay đổi bản án của tòa cấp dưới, nhưng bản án cấp dưới không bị vô hiệu.
Những khiếm khuyết hoặc vi phạm luật tố tụng của tòa án khiến bản án vô hiệu, không thể sửa, được điều 1620 kể ra như sau:
10 Bản án được ban hành do một thẩm phán tuyệt đối vô thẩm quyền;
20 Bản án được ban hành do một người không có quyền xét xử trong toà án đã giải quyết vụ án;
30 Thẩm phán đã ban hành bản án do tác dụng của bạo lực hay do sợ hãi nghiêm trọng;
40 Việc xử án đã được tiến hành mà không có đơn thỉnh nguyện tư pháp, như đã nói ở điều 1501, hoặc không chống lại một bị cáo nào hết;
50 bản án được ban hành giữa các bên mà ít nhất là một bên không có tư cách ra hầu toà;
60 người nào đó đã hành động nhân danh một người khác mà không được uỷ quyền hợp pháp;
70 quyền biện hộ của bên này hoặc của bên kia đã bị từ chối;
80 sự tranh tụng đã không được phân xử, dù chỉ là một phần.
Tố quyền tiêu huỷ nói ở điều 1620 này có thể được nêu lên theo cách khước biện, tức là được nêu lên để khiếu tố trong khi vụ án còn đang ở giai đoạn xét xử (chưa tuyên án). Nó được phép nêu lên vào bất cứ giai đoạn nào trong thời gian xét xử (đ.1459§2). Còn nếu bản án đã được tuyên bố thì được phép khiếu tố trước thẩm phán đã tuyên án trong vòng mười năm kể từ ngày công bố bản án (đ. 1621).
Bản án bị vô hiệu trong những trường hợp của điều 1620 nói trên được coi là vô hiệu tới mức độ là hoàn toàn, không thể sửa chữa được. Còn ở mức độ vô hiệu mà có thể sửa chửa được thì điều 1622 nêu lên với những trường hợp sau:
10 Bản án được ban hành do một số không hợp lệ của các thẩm phán, trái với những quy định của điều 1425 §1.
20 Bản án không viện dẫn các lý lẽ hay lý do quyết định;
30 Bản án thiếu những chữ ký mà luật đòi phải có;
40 Bản án không ghi rõ ngày, tháng, năm và nơi ban hành;
50 bản án dựa trên một án từ tư pháp vô hiệu, và sự vô hiệu đó không được sửa chữa chiếu theo quy tắc của điều 1619;
60 bản án được ban hành chống lại một đương sự vắng mặt cách hợp pháp, chiếu theo điều 1593 §2. 
Cũng tương tự như những trường hợp của điều 1620, tố quyền tiêu huỷ nói ở điều 1622 này có thể được nêu lên theo cách khước biện vào bất cứ giai đoạn nào trong thời gian xét xử. Còn nếu bản án đã được tuyên bố thì được phép khiếu tố trước thẩm phán đã tuyên án trong vòng ba tháng kể từ ngày công bố bản án (đ. 1623).
Khước biện trì hoãn (eccezioni dilatorie, đ. 1459§2), nghĩa là những khước biện mà không có khả năng làm tiêu hủy bản án. Được gọi là trì hoãn vì theo luật chúng phải được giải quyết xong trước vấn đề chính của vụ án. Nếu để lại hoặc khiếu nại sau đó để  giải quyết, thì nó sẽ làm cho vụ án bị chậm lại hay trì hoãn.
Một khước biện mà được nêu ra sau khi bản án được tuyên bố thì không gọi là khước biện nữa, mà gọi là kháng cáo. Vì vậy khước biện trì hoãn sẽ được gọi là kháng cáo trì hoãn.
Khi thấy rõ kháng cáo mà thực chất chỉ là khước biện trì hoãn, thẩm phán hiệp đoàn tòa kháng án phải khước từ xét xử và ra sắc lệnh xác nhận bản án cấp một.
Có thể kể một số khước biện trì hoãn với những lý do như sau:
-         Thẩm phán có một vài lợi ích cá nhân vì có họ máu, hay có tương giao thân mật, hoặc có hận thù dai dẵng với một bên (đ. 1448§1);
-         Bản thẩm vấn đã không có chữ ký của người khai;
-         Bên kia có có tội lỗi luân lý: rượu chè, cờ bạc, vô trách nhiệm…
Những lý do nêu trên, tuy là những sai sót hay khiếm khuyết về nhân sự hay về thủ tục xét xử nhưng, theo luật định, không có khả năng làm tiêu hủy bản án. Những khiếu tố như vậy, rõ ràng là không đủ lý do để thay đổi bản án.
Ví dụ nếu muốn khiếu tố thẩm phán có tương giao thân mật với bên kia, thì việc khiếu tố này phải đưa ra trước khi Tòa ra phán quyết. Một khi Tòa đã ra phán quyết, sự khiếu tố hay khiếu nại này không được chấp nhận để xét lại bản án.
b- Kháng cáo
Điều 1680§1 (đ. 1628) chỉ nói đơn giản là bên nào cảm thấy bị thiệt hại đều có quyền kháng cáo và  nêu rõ những lý do kháng cáo.
Việc chấp nhận hay khước từ đơn kháng cáo là tùy theo nhận định của thẩm phán đối với lý do được nêu ra. Thẩm phán, tương tự như việc chấp hay chối đơn ở tòa cấp một, khi thấy đơn kháng cáo có một nền tảng nào đó thì có thể chấp đơn; nếu không, thì sẽ bác đơn.
Về tiến trình kháng án, đơn không nộp thẳng lên tòa cấp hai nhưng phải được nộp cho tòa án đã ban hành bản án trong thời hạn nhất định là 15 ngày hữu dụng (đ. 1630). Sau khi nộp đơn, việc kháng án chuyển qua giai đoạn tiến hành kháng án. Trong giai đoạn này tòa đã ra bản án phải lo liệu để chuyển đơn và bản sao hồ sơ lên tòa kháng án (đ. 1634§3), trong đó, bản sao của bản án không thể thiếu. Tòa kháng án sẽ xem xét hồ sơ và tùy theo thủ tục quy định đề nhận hay bác đơn kháng án hoặc đòi hỏi thêm những điều cần thiết để chu toàn thủ tục. Thời hạn cho việc tiến hành này là một tháng (đ. 1633).
Điều 1680§2 quy định: tòa kháng cáo sau khi đã nhận được hồ sơ vụ án từ cấp dưới gởi đến, phải thiết lập tòa án hiệp đoàn, chỉ định bảo hệ viên và nhắc nhở các bên bày tỏ ý kiến trong một thời hạn quy định. Nếu nếu kháng cáo rõ ràng chỉ là trì hoãn, thì tòa án hiệp đoàn giải quyết nhanh chóng bằng một sắc lệnh xác nhận bản án của tòa án cấp một, để chấm dứt vụ án.
Nếu việc kháng án được chấp nhận, thì tòa kháng án phải tiến hành xử án cùng cách thức giống như ở tòa cấp một, tức là cũng phải tiến hành các giai đoạn chấp đơn, triệu tập, thiết lập thể thức nghi vấn, thu thập chứng cứ, công bố án từ, nhận ý kiến của bảo hệ viên và luật sư và ban hành bản án. Cũng có thể có những thích nghi cho thích hợp. Tuy nhiên, phải lưu ý đến những điều kiện thủ tục đòi phải giữ để các án từ hữu hiệu, nếu không bản án sẽ vô giá trị.
Nếu ở cấp kháng án người ta đưa ra một lý do mới khiến hôn nhân bất thành, thì tòa án có thể chấp nhận lý do đó để thiết lập một thể thức nghi vấn tiêu hôn mới hoàn toàn hoặc bổ xung thêm cho nghi vấn cũ, vì luật cho phép xét xử theo một hay những lý do tiêu hôn. Về thủ tục, thì tòa kháng cáo vẫn phải xử theo thủ tục của tòa cấp một, như đã nói trên.
====================
Tham khảo chính yếu:
Nguồn:
  • Bộ Giáo Luật 1983, quyển VII về tố tụng (đ. 1400- 1752)
  • 21 điều luật mới về tố tụng hôn nhân trong tự sắc Mitis Iudex
  • MI, Regule procedurali
  • Inst. Dignitas Connubii, ra  ngày 25-1-2005 (Art. 1- 308)
Sách:
  • PIO VITO PINTO, I processi nel codice diritto canonico. Commento sistematico al Lib. VII, Liberia editrice Vaticana, Città del Vaticano 1993.
  • CARLO GULLO – ALESSIA GULLO, Prassi processuale nelle cause canoniche di nullità del matrimonio, Liberia editrice Vaticana, Città del Vaticano 2009.
 

[1] Cf. MI, Sussidio applicativo, 23.
[2] Kể lại các giai đoạn trước và sau khi kết hôn, có nêu rõ sự kiện làm cho hôn nhân vô hiệu hoặc tường trình theo mẫu hướng dẫn của Tóa án. Văn bản phải được in ra trên khổ giấy A4, Tòa không nhận bản viết tay.
[3] Trường hợp bị đơn không tham gia, nguyên đơn để trống mục này.
[4] Cf. MI. Regole procedurali, art 18§2.
[5] Việc dùng điện thoại để thẩm vấn các nhân chứng rất tiện lợi, vượt qua được những khó khăn do người làm chứng không thể tới, hoặc không muốn tới tòa án. Hầu hết các điện thoại di động hiện nay (Samsung) đều có thể cài đặt thêm chương trình tự động ghi âm các cuộc gọi (nhờ nhân viên kỷ thuật hay bán hàng cài đặt giúp). Riêng loại điện thoại Iphone bảo mật kỷ, không cho cài thêm phần mềm ghi âm.
[6] Điều 1677:
§1. Bảo hệ viên, các luật sư của các bên và cả công tố viên, nếu các vị này tham gia tố tụng, đều có quyền:10 có mặt trong lúc thẩm vấn các bên, các người làm chứng và các giám định viên, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1559;20 xem các án từ tư pháp, ngay cả khi những án từ đó chưa được công bố, và nghiên cứu các tài liệu do các bên cung cấp.
§2. Các bên không được tham dự cuộc thẩm vấn được nói đến ở 1,10.

 
[7] Vấn đề họp nhau đầy đủ trong bối cảnh Việt Nam hiện nay là rất khó khăn, vì các linh mục thẩm phán, bảo hệ hầu như đều phải kiêm nhiệm chức vụ như cha sở, giáo sư…. Vì vậy, để tiến hành trôi chảy, nên giảm thiểu những thủ tục có thể được. Và như đã nói, có thể họp nghị án qua phương tiện truyền thông.
[8] Phần chủ văn của bản án không được luật quy định chi tiết nhưng rõ là tùy theo lối biện giải của thẩm phán. Độ dài ngắn tùy theo thẩm phán, miễn sao có lý lẽ thuyết phục là được. Các bản án của Tòa Rota phần này thường được viết rất dài và công phu, khoảng 10-20 trang A4; của Tòa án địa phương Hoa Kỳ, trong quyển “The Tribunal Reporter” dài khoảng 4-8 trang. Thiết nghĩ chúng ta viết khoảng 2-3 trang cũng đủ.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
dcgiuseminh
logonamthanh
   
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập70
  • Máy chủ tìm kiếm17
  • Khách viếng thăm53
  • Hôm nay10,188
  • Tháng hiện tại351,780
  • Tổng lượt truy cập6,960,987

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây