Suy niệm chú giải Lời Chúa Kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi - Lm. Inhaxiô Hồ Thông.

Thứ hai - 30/09/2019 08:40  152
KÍNH TRỌNG THỂ ĐỨC MẸ MÂN CÔI
Trong ngày lễ kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi, Phụng Vụ Lời Chúa nêu bật Tình Mẫu Tử của Đức Ma-ri-a. Chính ở nơi Tình Mẫu Tử của Đức Ma-ri-a mà Chúa Cha đã trao phó “Con Một làm người” của Ngài cho Mẹ để Mẹ nuôi dưỡng và săn sóc. Và cũng chính nơi Tình Mẫu Tử nầy mà Đức Giê-su đã trao phó cho người Mẹ tuyệt vời của Ngài ân cần chăm lo Thân Thể Mầu Nhiệm của Ngài, tức Giáo Hội mà Ngài đã mang nặng đẻ đau trên thập giá (Ga 19: 25-37).
Mỗi lần chúng ta lần tràng chuổi Mân Côi là mỗi lần chúng ta chiêm ngắm Tình Mẫu Tử tuyệt vời nầy ở nơi niềm vui thầm lặng nhưng sâu thẳm của Mẹ khi đón nhận Người Con mà Thiên Chúa trao ban cho Mẹ (Năm Sự Vui), ở nơi sự kết hợp của tình Mẹ với Con trên con đường khổ nạn (Năm Sự Thương), và ở nơi niềm vui vỡ òa của Mẹ khi Mẹ gặp lại Con Mẹ phục sinh để từ nay sự sống đã chiến thắng sự chết, vận mệnh của con người đã sang trang (Năm Sự Mầng).
Cv 1: 12-14
Sau khi chứng kiến Đức Giê-su lên trời, các Tông Đồ theo lời căn dặn của Thầy trở về nhà ở Giê-ru-sa-lem: “Các ngài đã đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện, cùng với các phụ nữ và Đức Ma-ri-a thân mẫu của Đức Giê-su”. Ngay từ những bước khởi đầu của Giáo Hội tiên khởi, Đức Ma-ri-a đã ở bên Giáo Hội với trọn tấm lòng hiền mẫu.
Gl 4: 4-7
Khi viết: “Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà”, thánh Phao-lô nhấn mạnh Con Thiên Chúa đã thực sự đảm nhận trọn vẹn thân phận con người. Lời nầy được đọc trong ánh sáng của Tin Mừng Truyền Tin hôm nay mặc khải rằng Con Thiên Chúa không sinh ra bởi bất kỳ một người đàn bà nào, nhưng là một người đàn bà được tuyển chọn, một Tình Mẫu Tử được viết hoa, kiệt tác của công trình sáng tạo nên người nữ.
Lc 1: 26-38
Tin Mừng là bài tường thuật biến cố Truyền Tin. Nơi Thiên Chúa chuẩn bị để Con của Ngài đến ở giữa dân Ngài là cung lòng thanh sạch và rạng ngời vinh hiển của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Đền Thờ đẹp nhất, được Thiên Chúa sủng ái nhất.
BÀI ĐỌC I (Cv 1: 12-14)
Đoạn trích sách Công Vụ Tông Đồ nầy được định vị vào trong bối cảnh: sau khi chứng kiến việc Đức Giê-su khuất dạng trong đám mây trời, các Tông Đồ liền trở về Giê-ru-sa-lem. Các ông tề tựu một nơi và chuyên tâm cầu nguyện trong khi chờ đợi Chúa Thánh Thần ngự đến như lời căn dặn của Thầy mình trước khi từ giả các ông: “Phần Thầy, Thầy sẽ gởi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống” (Lc 24: 49).
1.Trở về nhà, các Tông Đồ lên lầu trên:
Căn phòng được định vị ở lầu trên. Lầu trên thường là căn phòng chính trong nhà Do thái, chắc hẳn đây là phòng Tiệc Ly, nơi các ông đã dùng bữa ăn cuối cùng với Đức Giê-su. Như vậy nơi mà Đức Giê-su cử hành Thánh Lễ đầu tiên với các ông trước khi Ngài bước vào con đường Tử Nạn, cũng là nơi các ông chờ đợi để đón nhận Chúa Thánh Thần, Đấng đưa các ông vào trong sự thật công trình cứu độ của Thầy mình.
2.Tất cả mười một Tông Đồ đều hiện diện ở đó:
Việc kể tên mười một Tông Đồ nêu lên một nét đặc thù đáng chú ý. Trong các sách Tin Mừng, thánh Phê-rô và thánh An-rê được nêu tên trước tiên. Ở đây lại là thánh Phê-rô và thánh Gioan. Sách Công Vụ giới thiệu hai vị Tông Đồ nầy như hai trụ cột của Giáo Hội tiên khởi, thường xuyên hoạt động cùng nhau.
3.Chuyên tâm cầu nguyện:
“Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, siêng năng cầu nguyện”. Thánh Lu-ca thường nhấn mạnh các tín hữu tiên khởi đồng tâm nhất trí và siêng năng cầu nguyện. Các Tông Đồ làm Tuần Cửu Nhật giữa biến cố Thăng Thiên và biến cố Hiện Xuống.
4.Mấy người phụ nữ cùng với  Đức Ma-ri-a, Thân Mẫu của Đức Giê-su:
Trong số những người phụ nữ tề tựu với các Tông Đồ, chỉ một mình Đức Mẹ được nêu tên, trong mối liên hệ với Đức Giê-su: “Đức Ma-ri-a, Thân Mẫu của Đức Giê-su”. Đây là lần cuối cùng trong Tân Ước Đức Trinh Nữ được kể ra. Sau biến cố nầy, Mẹ sẽ không còn xuất hiện nữa, người ta không còn nói gì về Mẹ. Sự hiện diện của Mẹ ở đây, giữa các Tông Đồ, là một dấu chỉ mang một tầm mức vĩ đại. Mẹ đã ban cho nhân loại thân thể hữu hình của Đức Ki-tô dưới quyền năng của Chúa Thánh Thần vào lúc Truyền Tin; Mẹ cũng có mặt ở đây vào lúc sinh hạ thân thể mầu nhiệm của Đức Giê-su, tức Giáo Hội, cũng dưới tác động của Chúa Thánh Thần vào ngày lễ Hiện Xuống.
Chúng ta có thể phỏng đoán rằng những người phụ nữ ở bên cạnh Đức Ma-ri-a cũng chính là những người phụ nữ đã ở bên cạnh Đức Mẹ gần bên Thánh Giá. Sự hiện diện của những người phụ nữ nầy gợi nhớ hoạt cảnh trên thánh giá ở đó Đức Giê-su đã trao gởi Giáo Hội của Ngài cho Mẹ Ngài làm Mẹ Giáo Hội của Ngài khi nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, và khi nói với người môn đệ Chúa yêu: “Đây là mẹ của con” (Ga 19: 26-27).
5.Anh em của Đức Giê-su:
Cùng có mặt với các Tông Đồ là “anh em” của Đức Giê-su, nghĩa là những anh em họ của Ngài. Ngôn ngữ Do thái cũng như ngôn ngữ Hy-lạp đều không có đặc ngữ để chỉ mức độ bà con thân thuộc nầy. Cựu Ước sử dụng cùng một từ “anh em” để chỉ mối liên hệ bà con họ hàng rộng lớn hơn: chú cháu (St 13: 8; 14: 14; 14: 16) hay bà con gần (G 19: 13-17) hoặc thậm chí bà con họ hàng xa (x. Lv 10: 1). Trong Tin Mừng của mình, thánh Mác-cô kể ra bốn người anh em họ của Đức Giê-su: ông Gia-cô-bê, ông Giô-xết, ông Giu-đa và ông Si-môn (Mc 6: 3).
Sự hiện diện của những bà con thân thuộc của Đức Giê-su ở phòng Tiệc Ly vào lúc nầy chứng thực thái độ của họ đã thay đổi đối với Đức Giê-su. Trước đây, thánh Gioan nói “Anh em Người không tin vào Người” (Ga 7: 5); thậm chí họ không hiểu chút gì về sứ mạng của Ngài và cố tìm cách ngăn cản Ngài thi hành sứ mạng của mình nữa (x. Mt 12: 46; Mc 3: 31-35; Lc 8: 19-21).
Họ đã thay đổi thái độ lúc nào? Các bản văn Tân Ước không cho chúng ta bất kỳ một thông tin nào. Chắc chắn họ sắp lãnh nhận Chúa Thánh Thần như các Tông Đồ và họ sẽ cho thấy niềm tin tích cực của họ. Thánh Gia-cô-bê hậu sẽ là vị lãnh tụ của Giáo Hội Giê-ru-sa-lem và được phúc tử đạo vào năm 62. Như vậy, những người bà con nghi kỵ xưa kia đều đã là những chứng nhân bằng máu.
BÀI ĐỌC II (Gl 4: 4-7)
Các Ki-tô hữu Ga-lát bị những người Ki-tô hữu gốc Do thái làm lung lạc. Những người Ki-tô hữu gốc Do thái nầy muốn đưa vào trong Ki-tô giáo những nghi thức Do thái được cho là luôn luôn có giá trị, như phép cắt bì, luật Mô-sê. Vì thế, thánh Phao-lô chứng minh cho thấy Luật Cũ là sự nô lệ, Luật mới là sự tự do. Thánh nhân sánh ví Luật Mô-sê với thời kỳ người thừa kế “phải ở dưới quyền những người giám hộ và quản lý, cho đến khi mãn hạn người cha đã định” (Gl 4: 2). Tuy nhiên, vai trò của Luật là tạm thời. Với Đức Giê-su, kế hoạch của Thiên Chúa đã đến hồi viên mãn, chúng ta không còn phải sống dưới chế độ của Lề Luật nữa, nhưng trong sự tự do của những người làm con cái Thiên Chúa, mà đã là con thì cũng đã là người thừa kế.
1.Con Thiên Chúa làm con của loài người (4: 4-5):
Thánh Phao-lô so sánh sự bảo hộ của lề luật (Gl 4: 2) với thời điểm khi Thiên Chúa can thiệp vào trong lịch sử để thực hiện công trình cứu độ qua Con của Ngài là Đức Giê-su: “Khi thời gian đến hồi viên mãn”. Sự tự do của con người đã đạt được nhờ Đức Ki-tô.
Ở nơi kiểu nói: “Thiên Chúa đã sai Con mình tới”, động từ “sai” phát triển trong Giáo Hội tiên khởi một nét nghĩa tôn giáo đặc thù: sai ai vào việc phục vụ Nước Trời là ban cho người đó đầy đủ uy quyền ở nơi Thiên Chúa.
Ở đây cuộc sống tiền hữu của Chúa Con không được nói đến một cách minh nhiên, nhưng mặc nhiên. Ở nơi kiểu nói: “Sinh làm con một người đàn bà”, động từ “sinh” được dùng ở thể quá khứ để chỉ một “tình trạng hay một hành động đã xảy ra trong quá khứ và hoàn tất trong quá khứ”, nhằm nhấn mạnh rằng Đức Giê-su đã đảm nhận trọn vẹn thân phận làm người cho sứ mạng của Ngài. Cách nói nầy bắt nguồn từ Cựu Ước (G 14: 1; 15: 14; 25: 4). Được sinh ra như vậy, Đức Giê-su chịu phục tòng lề luật “để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử”.
2.Để con người trở thành con Thiên Chúa (4: 6-7):
Câu nói: “Để chứng thực anh em là con cái”, bắt đầu với giới từ “hoti” có thể được hiểu theo hai cách: “vì” (nguyên nhân) hay “nên” (kết quả). Nếu chúng ta hiểu “vì anh em là con cái”, điều này sẽ là nền tảng cho việc Thiên Chúa sai Thánh Thần đến với người Ki-tô hữu một cách nhưng không. Tuy nhiên, Rm 8: 14-17 xem ra gợi ý rằng ân ban Thánh Thần cấu thành chức năng làm con cái Thiên Chúa của người Ki-tô hữu; vì thế nhiều nhà chú giải thích hiểu giới từ nầy theo nghĩa “nên anh em là con cái” hơn.
Thánh Thần cũng là đối tượng sứ mạng từ Chúa Cha; ở nơi khác, Thánh Thần chính là ân ban của Chúa Con Phục Sinh. Thánh Thần của Chúa Con Phục Sinh là một nguyên lý năng động của chức năng làm con Thiên Chúa. Nhờ Thánh Thần, người Ki-tô hữu mới có thể gọi Thiên Chúa “Áp-ba, Cha ơi!” với trọn niềm xác tín. Không có Thánh Thần người Ki-tô hữu sẽ không thể thốt lên tiếng kêu đầy trìu mến thân thương nầy. Vì thế, thánh Phao-lô kết luận: “Anh em không còn là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa”.
TIN MỪNG (Lc 1: 26-38)
Sự kiện Ngôi Lời nhập thể tạo nên mối liên hệ sâu thẳm nhất giữa Thiên Chúa và con người. Đây là một biến cố quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại: Con Thiên Chúa trở thành phàm nhân và sẽ mãi mãi như vậy. Đó là tinh Chúa yêu thương trải rộng cho đến tất cả chúng ta. Tuy nhiên vào ngày Ngôi Hai Thiên Chúa đảm nhận nhân tính mõng dòn trong cung lòng thanh sạch của Đức Trinh nữ Ma-ri-a, tất cả đã xảy ra một cách nhanh chóng, không bất kỳ nghi lễ nào. Thánh Lu-ca kể câu chuyện Truyền Tin cho Đức Ma-ri-a hết sức giản dị. Chúng ta nên trân trọng gìn giữ những lời Thiên Chúa này và thường hằng suy niệm chúng, chẳng hạn như đọc kinh Truyền Tin và suy niệm Năm Sự Vui.
1.Bối cảnh (1: 26-27):
Thánh Lu-ca dàn dựng hai chuyện tích “Truyền Tin” thành bức tranh bộ đôi đối xứng nhưng tương phản. Chuyện tích “Truyền Tin cho ông Da-ca-ri-a” xảy ra trong bầu khí Phụng Vụ thánh thiêng tại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem khi ông đang thi hành tác vụ Tư Tế của mình. Chuyện tích “Truyền Tin cho Đức Ma-ri-a” xảy ra khi Mẹ đang làm những công việc thường ngày của mình tại tư gia thuộc làng quê Na-da-rét hẻo lánh nghèo nàn. Tư tế Da-ca-ri-a cao niên, đại diện Cựu Ước, đón nhận tin vui: ông được Thiên Chúa chọn làm cha của Gioan Tẩy Giả, vị ngôn sứ giao thoa giữa Cựu Ước và Tân Ước. Đức Trinh Nữ Ma-ri-a trẻ trung, đại diện Tân Ước, đón nhận tin vui: Mẹ được chọn làm Mẹ của Đức Giê-su, nơi Ngài Thiên Chúa ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Thánh nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su đã mô tả dáng vẻ bên ngoài giản dị, nhưng đời sống đức tin sâu thẳm của Mẹ: “Mẹ làm những việc tầm thường cách phi thường” (“Faire des choses ordinaires d’une manière extraordinaire”).
2.Cuộc đối thoại giữa Sứ Thần và Đức Trinh Nữ Ma-ri-a (1: 28-37):
Trong hai câu chuyện “Truyền Tin”, điều căn bản là cuộc đối thoại trong đó sứ điệp cốt yếu được trao ban, còn phần hình ảnh cho thấy bị giới hạn chặt chẽ vào sứ điệp này. Cuộc đối thoại được dùng để trao ban Mặc Khải trong khi phần hình ảnh được dùng chỉ để chuyển tải Mặc Khải.
A.Mặc khải về nguồn gốc nhân loại của Đức Giê-su (1: 28-33):
Cuộc đối thoại bắt đầu với lời chào của sứ thần, ca ngợi những ân phúc mà Thiên Chúa ban cho Mẹ: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”. Nhưng lời chào này thật khác thường, người Do thái thường chào nhau: “Bình an”, như Chúa Giê-su Phục Sinh chào các môn đệ: “Bình an cho anh em” (Ga 20: 19). Vì thế, Mẹ thắc mắc muốn biết lời chào ấy có nghĩa gì.
Câu hỏi này là dịp để sứ thần mặc khải nguồn gốc nhân loại của Đức Giê-su bằng cách nhắc cho Mẹ nhớ lại những sấm ngôn của các ngôn sứ thời xưa, đặc biệt là sấm ngôn của ngôn sứ Na-than, về Đấng Mê-si-a thuộc dòng dõi vua Đa-vít mà Thiên Chúa sẽ ban ngai vàng và triều đại vô cùng vô tận.
A.Mặc khải về nguồn gốc thần linh của Đức Giê-su (1: 34-37):
Vốn thông thạo Kinh Thánh, Đức Ma-ri-a nhận ra rằng Mẹ được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Đấng Mê-si-a, Đấng mà dân tộc cô đang mong đợi. Nhưng theo Kinh Thánh, lời Thiên Chúa cũng là sự kiện và biến cố mà lời ấy diễn tả. Ấy vậy, hiện nay Mẹ vẫn đồng trinh, chưa chung sống với vị hôn phu tương lai của Mẹ, vì thế Mẹ nêu lên câu hỏi:“Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến chuyện vợ chồng”.
Vấn nạn này tạo cơ hội cho sứ thần mặc khải cho Mẹ biết nguồn gốc thần linh của Đức Giê-su mà Mẹ được diễm phúc làm mẹ. Câu trả lời của sứ thần: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (1: 35) gồm ba vế, qua mỗi vế sứ thần sẽ mặc khải dần dần nguồn gốc thần linh của Đức Giê-su.
-Vế thứ nhất: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà” gợi nhớ bài trình thuật của sách Sáng Thế, theo đó Thánh Thần bay lượn trên mặt nước đem lại sự sống cho muôn loài muôn vật (St 1: 2), giờ đây Ngài ngự xuống trên Đức Trinh Nữ Ma-ri-a để tạo nên hình hài con trẻ trong cung lòng trinh khiết của Mẹ. Vì thế, việc Đức Ma-ri-a thụ thai và sinh con là do quyền năng Chúa Thánh Thần chứ không do sự can dự của nam nhân.
-Vế thứ hai “quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà” gợi nhớ hình ảnh “đám mây rợp bóng” trên Lều Hội Ngộ (Xh 40: 35) hay Hòm Bia Giao Ước (Ds 9: 18; 10: 34). Hình ảnh đám mây là dấu chỉ hữu hình về sự hiện diện vừa bất khả đạt vừa hữu hình của Thiên Chúa ở giữa dân Ngài. Qua kiểu nói này, sứ thần sánh ví Đức Ma-ri-a với Lều Hội Ngộ hay Hòm Bia Giao Ước, nơi Thiên Chúa sẽ ngự đến và hiện diện vừa siêu việt vừa gần gũi giữa dân Ngài nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, quyền năng Đấng Tối Cao.
-Về thứ ba: “Vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” là câu kết luận được rút ra từ hai vế trên. Sứ thần khẳng định rằng người Con mà Đức Trinh Nữ sinh ra không là Nghĩa Tử của Thiên Chúa, nghĩa là một hậu duệ của vua Đa-vít được Thiên Chúa chọn và ban cho vương quyền của vua Đa-vít, nhưng là “Đấng Thánh”. Vì thế, Người đích thực là Con Thiên Chúa nhập thể hoàn toàn do quyền năng của Chúa Thánh Thần. 
Để bảo đảm tính xác thực sứ điệp của mình, sứ thần còn cho Đức Ma-ri-a một dấu chỉ: bà Ê-li-sa-bét, người chị họ của Mẹ, vốn là son sẻ và cao niên nay đã có thai. Dù cho một dấu chỉ, nhưng sứ thần biết rất rõ việc một người mẹ đồng trinh thụ thai và sinh hạ một người con chưa bao giờ xảy ra ngay cả trong lịch sử cứu độ. Điều này hoàn toàn khác với trường hợp của ông Da-ca-ri-a, chồng của bà Ê-li-sa-bét, ông biết rõ trường hợp của Áp-ra-ham giống như trường hợp của ông. Vì thế, để thuyết phục Mẹ, sứ thần viện dẫn quyền năng của Thiên Chúa: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”.
3.Tiếng Xin Vâng của Đức Ma-ri-a (1: 38):
Đến lúc này, dù không thể nào hiểu tường tận công việc khôn dò của Thiên Chúa, Mẹ đã đáp trả với trọn niềm tin tưởng và phó thác: “Vâng, tôi đây là tớ nữ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”.
Cuộc đối thoại giữa sứ thần và Đức Ma-ri-a là khuôn mẫu cho bất kỳ cuộc đối thoại nào giữa Thiên Chúa và con người. Về phía Thiên Chúa, Ngài đã hoạch định một chương trình dài lâu để cứu độ loài người. Tuy vậy, khi đến hồi viên mãn, Ngài cần đến sự ưng thuận của Đức Ma-ri-a, nhưng không ép buộc, mà ngỏ lời, đề nghị, mời gọi Mẹ cộng tác với Ngài vào công trình này. Điều này cho thấy Ngài tôn trọng sự tự do của con người mà Ngài đã tạo nên như tuyệt đỉnh công trình tạo dựng của Ngài khi ban cho con người khối óc và con tim. Ngài mời gọi con người biết sử dụng khối óc để hiểu biết và con tim để yêu mến. Vì thế, Ngài đã gặp thấy ở nơi Đức Ma-ri-a lời đáp trả xin vâng tròn đầy của cả khối óc lẫn con tim của Mẹ. Rất nhiều điều con người tưởng không thể làm được thế mà Thiên Chúa vẫn làm được: Người đã làm cho bà Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cao niên mà có thể sinh con, Người có thể làm cho Đức Ma-ri-a sinh hạ Đấng Cứu Thế mà vẫn đồng trinh. Thiên Chúa cũng có thể làm nơi mỗi người chúng ta những việc trọng đại, miễn là chúng ta sẵn sàng để Người hoạt động trong chúng ta.
Về phía Đức Ma-ri-a, lời xin vâng của Đức Ma-ri-a là kết quả của một cuộc đối thoại cởi mở, trong đó Mẹ đã thẳng thắn nêu lên những gì Mẹ không hiểu mà không một chút sợ hãi, cho đến khi chạm đến mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa vượt quá khả năng hiểu biết của Mẹ. Chỉ khi đó Mẹ mới đáp trả xin vâng tròn đầy niềm tin tưởng và phó thác của mình vào quyền năng của Chúa. Công Đồng Vatican II đã ca ngợi tiếng xin vâng của Mẹ: “Đức Ma-ri-a không phải chỉ là một dụng cụ hoàn toàn thụ động trong tay Thiên Chúa, nhưng đã cộng tác tích cực vào việc cứu độ nhân loại, nhờ tin và vâng phục trong tự do” (LG, 56).
Để kết thúc bài chia sẻ hôm nay, xin mượn lời của thánh Escriva: “Ở nơi Đức Ma-ri-a chúng ta không gặp thấy bất kỳ dấu vết của các trinh nữ khờ dại, họ vâng lời mà không suy nghĩ. Đức Ma-ri-a chăm chú lắng nghe những gì Thiên Chúa muốn, trăn trở với những gì Mẹ không hiểu và hỏi cho ra lẽ những gì Mẹ không biết. Sau đó Mẹ phó thác hoàn toàn vào ý muốn của Thiên Chúa: ‘Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói’. Đó không là kỳ diệu sao? Lạy Đức Trinh Nữ, thầy dạy của chúng con trong tất cả những gì chúng con làm, xin hãy chỉ cho chúng con biết rằng vâng phục Thiên Chúa không là quỵ lụy, không tránh né tiếng nói lương tâm của mình. Chúng con phải đi vào trong lòng mình để khám phá ‘sự tự do của con cái Chúa’ (x. Rm 8: 21)” (Bl. J. Escriva, Christ is passing by, 173).


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

dcgiuseminh
logonamthanh
   
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập75
  • Máy chủ tìm kiếm10
  • Khách viếng thăm65
  • Hôm nay22,958
  • Tháng hiện tại490,670
  • Tổng lượt truy cập8,581,291

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây