Suy niệm Lời Chúa hằng ngày tuần IV Phục sinh. Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thứ bảy - 21/04/2018 04:13  1203
Thứ hai Tuần IV Phục Sinh
Tôi sực nhớ lại lời Chúa nói rằng: Ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì sẽ được rửa trong Thánh Thần. Vậy nếu Thiên Chúa đã ban cho họ một ân huệ như Người đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa?
Trong bài đọc hôm nay ta nhận thấy Thiên Chúa hoàn toàn tự do, thay đổi trật tự mọi sự và vị tông đồ cần phải nhận ra lòng nhân hậu trong hành động của Chúa, ngay cả bên ngoài những chương trình của mình. Thánh Thần ngự xuống trên Cornêliô người dân ngoại và gia đình ông trước cả khi nhận lãnh phép rửa. Và Phêrô, từ nay đứng trước những quyết định của Chúa không còn chống đối nữa, ông đã nói cách đơn sơ: tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa? Ông đã được một bài học.
Chúng ta cũng thế, cần phải học từ bài tin mừng hôm nay: các con chiên thuộc về Đức Giêsu. Người biết chúng và gọi chúng bằng tên, thí mạng sống mình vì chúng (chỉ trong vòng 5 câu ta thấy 5 lần lập đi lập lại từ ‘hy sinh mạng sống’. Có những chiên khác không thuộc ràn này, chúng có thể nghe tiếng của Người và chỉ có một đoàn chiên và một mục tử
Những việc Chúa làm thật kỳ diệu trước mắt chúng ta!
Hãy để ý đến việc đánh giá của ta: các cậu bé đang đứng trên bức tường bên ngoài nhà nguyện là những con chiên, không phải là những người không thể lắng nghe người nói bên trong. Những tù nhân nhiều lúc có ước muốn nghe tin mừng hơn cả chúng ta nữa, và đặt ra những câu hỏi cụ thể, chân thực và sống động hơn chúng ta là những người thường cho mình biết hết tất cả.
Những người đó không phải là những con chiên bên ngoài đàn nhưng là những con chiên thuộc những đàn khác mà Đức Giêsu muốn đưa về và thường họ sẽ ngoan ngoãn hơn vì họ đang tìm kiếm.
Họ đói khát cho dù chưa biết rõ là điều gì và bên trong họ Thánh Thần đang hoạt động. Đừng tìm cách ngăn cản Thiên Chúa bằng những xét đoán của mình, bằng việc tự cho mình là những ‘kẻ được chọn’, những người tài giỏi, tốt lành, đạo đức, luôn biết phải làm gì, và chỉ thấy toàn là sói dữ nơi kẻ khác mình và không phải là chiên vì không có mục tử.
Lạy Chúa, xin mở mắt con để con khỏi tự phụ. Xin mở mắt con để con thấy những khốn cùng của con vì khi nhìn thấy rõ những điều đó, con sẽ biết dừng lại trước khi dễ dàng liệt kê bao nhiêu điều về người anh em con. Đừng bao giờ nói: ‘Ta chẳng có gì phải học nơi kẻ khác’, là một tội phạm đến Thánh Thần.
+++
Ta là cửa
Đoạn tin mừng hôm nay tiếp nối chương trước (Ga, 9). Diễn từ về cửa chuồng chiên và Mục Tử nhân lành giải thích ý nghĩa đoạn kết mang tính bi kịch của việc anh mù tuyên xưng niềm tin sau khi được chữa lành. Là người bị trục xuất khỏi cộng đoàn chính trị hoặc tôn giáo, vì lý do làm chứng về Đức Giêsu, trở nên thành viên trong đàn chiên của Đức Kitô và nơi đây anh gặp được sự sống dồi dào, ơn cứu rỗi trọn hảo.
Các đầu mục dân Do thái qua cách hành xử của họ cho thấy họ là kẻ trộm (c.8 ), chứ không phải là mục tử dân Israel. Anh mù được chữa lành, bị trục xuất, sẽ không phải sống như chiên không đàn và không chủ chăn; anh ta đã gặp được Vị Mục Tử nhân lành và qua việc tuyên xưng niềm tin, anh đã đi vào đàn chiên của Chúa qua khung cửa: Đức Giêsu.
Cách nói ‘Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi’ (c.1) tiên báo những điều hệ trọng và thâm thúy. Hình ảnh cửa (c.1) mang ý nghĩa: những chủ chăn đích thực của đàn chiên Thiên Chúa cần phải đi qua cửa là Đức Kitô. Nơi Ngài, Thiên Chúa hiện diện, là đường dẫn đến Chúa Cha và là đền thờ mới.
Ai không biết Đức Kitô và chối từ Ngài là kẻ trộm, kẻ cướp, nghĩa là không thể hướng dẫn đàn chiên đến đồng cỏ của sự sống vĩnh cữu, nhưng chỉ gây thiệt hại và chết chóc. Trong cụ thể, những người Do thái và các biệt phái, là những người không muốn chấp nhận trung gian cứu độ của Đức Giêsu, đều là những kẻ trộm cướp. Như thế ngay cả những kẻ phiến loạn, các người phái Zêlót và chiến sĩ du kích như Barabba, đã gây nhiều cuộc nổi dậy trong dân, nhưng vì không đi vào cộng đồng Israel qua cánh cửa mà Thiên Chúa thiết lập, nên chỉ gây thiệt hại và chết chóc. Người chủ chăn đàn chiên Thiên Chúa đi vào cánh cửa Giêsu và qua Đức Giêsu tiếp cận với các con chiên.
Với câu ‘gọi tên các con chiên và dẫn chúng ra’ (c.3), Đức Giêsu cho thấy hành động Ngài dẫn đưa các chiên của Ngài ở bên ngoài phạm vi hội đường. Anh mù được chữa lành, bị trục xuất khỏi cộng đồng Do thái, thực ra anh ta được Vị mục tử nhân lành dẫn ra khỏi hội đường và được đưa vào ràn chiên của Đức Kitô là Giáo Hội.
Cũng như Thiên Chúa đã đưa Israel ra khỏi Aicập, Đức Giêsu dẫn đầu đàn chiên của Ngài để đưa họ thoát khỏi Do thái giáo. Với hành động này Giáo Hội tách hẳn khỏi hội đường.
E rằng những lời của Ngài khó hiểu, Đức Giêsu lập lại hình ảnh trước và làm sáng tỏ hơn: cửa của các chiên chính là Ngài, kẻ trộm cướp là những chủ chăn giả hiệu Israel. Đức Giêsu là đấng trung gian để bước vào đàn chiên Thiên Chúa, là con đường đến với Chúa Cha (Ga 14, 6), là con đường bắt buộc để hiệp thông với các chiên của Ngài.
Cửa, trong ngôn ngữ kinh thánh, cũng có nghĩa thành phố hay đền thờ (x.Tv 87, 1-2; Tv 112, 2…). Do đó Đức Giêsu tuyên bố Ngài là nơi người ta tìm được sự cứu rỗi. Ngài là đấng Chúa Cha sai đến thế gian để nhân loại tội lỗi được cứu rỗi (Ga 3, 17). Do đó các con chiên muốn có sự sống vĩnh cửu dồi dào không thể từ chối trung gian của Ngài: họ phải đi qua cửa Giêsu để đi vào sự sống vĩnh cửu.
Trung gian cứu độ này không phải là điều gì mang tính áp đặt, nhưng là phương cách để hưởng được tự do hoàn toàn và cảm nghiệm sự sống tràn đầy.
Con Thiên Chúa không đến thế gian để giết chết, để mang thiệt hại cho nhân loại, như những chủ chăn giả hiệu, nhưng để cứu độ tất cả mọi người.
Thứ ba Tuần IV Phục Sinh
Khi tới nơi và thấy ơn Thiên Chúa như vậy, ông Banaba mừng rỡ và khuyên nhủ ai nấy bền lòng gắn bó cùng Chúa. Ông là người tốt, đầy ơn Thánh Thần và lòng tin.
Bài sách Công vụ tông đồ cho thấy một vài đặc tính của người loan báo tin mừng.
Thứ nhất: một vài môn đệ tản mác (vì bị bách hại) đến Antiokia, bắt đầu nói về Đức Giêsu không chỉ cho người do thái mà còn cho người Hy lạp và những người khác trong vùng. Họ làm điều này hoàn toàn tự nguyện vì điều thiện hảo cho mọi người chứ không chỉ cho vài người. Là người có can đảm đi ra bên ngoài những dự tính vì người đầu tiên làm như thế chính là Đức Giêsu.
Thứ hai: Banaba được mô tả là người đạo đức, đầy Thánh Thần và lòng tin. Thánh Thần là động cơ bên trong người loan báo tin mừng, là Đấng thúc đẩy, là đấng đến không phải để dừng lại mà là để linh hoạt, để làm cho chúng ta cũng hoạt động. Là Đấng không muốn để những khoảng trống rỗng trong lòng ta, để tất cả trong ta đều thuộc về Chúa.
Thứ ba: Banaba đi tìm Phaolô. Người loan báo tin mừng không muốn làm việc một mình, biết nhận ra những ân ban nơi kẻ khác và muốn những ân ban ấy được biểu lộ ra bên ngoài.
Thứ tư: Phaolô và Banaba cùng làm việc chung với nhau trong một năm. Sự hiện diện của hai ngài mang đến ổn định. Để cho cộng đoàn mới sinh có những nền tảng tốt cần phải có thời gian lâu dài, hiện diện giữa họ. Dụ ngôn người gieo giống tỏ cho thấy hạt giống có nhiều nguy cơ bị chết do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Họ tránh mọi hình thức hời hợt. Họ biết rằng lòng hăng hái cần phải giảm bớt, cần thinh lặng và được nuôi dưỡng bằng suy niệm và cầu nguyện. Cùng với sự xẻ chia.
Đọc lại những biến cố trong sách Công vụ tông đồ, ta không chỉ khám phá ra những bước khởi đầu của hội Thánh mà còn học hỏi nhiều điều. Học yêu mến Nước Thiên Chúa, hiện diện giữa mọi người và phục vụ để Hội Thánh có thể luôn luôn ra đi loan báo.
Lạy Chúa, xin dạy con biết đặt Nước Chúa trên tất cả, như các tông đồ xưa đã không tìm kiếm chính mình, tìm thỏa mãn mình, không bao giờ muốn làm ‘bà chủ’. Họ biết rằng chỉ như thế lời của Chúa mới có chỗ hành động và không mất đi sức sống. Xin ban cho chúng con được ý thức và được lòng khiêm tốn như thế.
Tiếng chủ chăn
Lại thêm một nét bút nữa để vẽ Vị Mục Tử nhân lành – Messia. Là con người khiêm nhu không cần phải lớn tiếng. Chỉ với chất giọng quen thuộc Ngài được nhận ra ngay. Đó là chất giọng của tình yêu vì tin mừng của Ngài không phải là là một giáo thuyết chỉ cho người ta con đường cứu độ, nhưng là một con người, Đức Kitô, tuyên bố mình là ‘Là Đường, là Sự Thật và là sự Sống’. Ai theo Ngài sẽ không bao giờ hư mất và sẽ được bảo vệ trước mọi bạo lực.
Trong một thế giới như ngày nay, người ta nói nhiều đến những biện pháp an ninh, hình ảnh tin mừng của vị Mục Tử nhân lành, khi chiều đến, đi tìm những con chiên lạc hoặc những con chiên chậm bước, vẫn có giá trị– không phải ý nghĩa tiêu cực- bởi vì Ngài bảo vệ chúng ta và nâng đỡ chúng ta khi mà chúng ta đang dấn sâu trong đau khổ và đang cảm thấy tuyệt vọng.
Ân ban của Ngài là sự sống vĩnh cửu, vượt trên không gian và thời gian, là hai phạm trù của các kỹ thuật hiện đại. Hình ảnh vị Mục Tử Nhân Lành: mang trên vai các chiên con và nhẹ nhàng dẫn dắt các chiên mẹ. Những lời của vị tiên tri vẽ nên bức tranh vừa dịu dàng vừa mạnh mẽ, mời gọi phó thác.
Hôm nay tôi tự hỏi: tôi có biết tiếng của vị Mục Tử Nhân Lành đã thí mạng sống vì tôi không? Tôi có đạt đến việc hòa hợp giữa cái mạnh mẽ và dịu dàng trong các mối liên hệ với người khác? Xin Chúa cho tôi được nhận biết Ngài cách sâu xa và theo Ngài bất cứ nơi đâu Ngài đi.
‘Tôi không cần đến những biện pháp cứng rắn để củng cố trật tự. Sự nhân lành mang tính cảnh tỉnh, nhẫn nại và trắc ẩn có hiệu quả vượt bậc và nhanh chóng hơn sự cứng rắn của roi đòn. Về vấn đề này tôi không bao giờ nghi ngờ’. Gioan XXIII (Nhật ký tâm hồn)
Thứ tư Tuần IV Phục Sinh
Thánh sử Mátcô
Đoạn tin mừng của thánh Matcô này thuộc vào ‘phần cuối cùng của tin mừng Matcô’, thuật lại những lần hiện ra và lệnh truyền giáo cho nhóm Mười Hai (Mc 16,14) và cùng với họ cho toàn thể Giáo hội (Mt 28,18-20). Đoạn tin mừng hôm nay bắt đầu với lời hứa của Chúa. Những lời đầu tiên là một mệnh lệnh và một lời sai đi: ‘Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo tin mừng cho mọi loài thụ tạo’. Giáo hội phải đi rao giảng, nghĩa là sứ vụ loan báo tin mừng là một mệnh lệnh của Chúa phục sinh. Đối tượng là tất cả mọi người sống trên thế giới: ‘mọi loài thụ tạo’. Điều này cho thấy tất cả mọi người đều cần phải được nghe tin mừng cứu độ. Nội dung là tin mừng, tin vui cứu độ qua Đức Giêsu Kitô, con người và công việc của Ngài. Việc loan báo này được gọi là rao giảng, nghĩa là được thực hiện cách công khai với lòng can đảm và tín thác vào danh Thiên Chúa cứu độ. Đoạn văn tiếp tục bằng cách nhấn mạnh tính siêu việt của việc loan báo và tiếp nhận: ‘Ai tin vào chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án’ (Mc 16,16). Như thế chúng ta đứng trước những lời quan trọng nhất trong cuộc sống con người: cứu độ và kết án. Đức tin và phép rửa là những lời dẫn đến sự sống; sự cứng lòng tin dẫn đến sự kết án.
Tiếp theo là một loạt những dấu lạ sẽ được ban cho những người được sai đi: trừ được quỷ, nói tiếng mới lạ, rắn và chất độc không làm hại, và sau cùng là chữa bệnh. Đó là những hiện tượng đặc sủng đi theo Giáo hội suốt dòng lịch sử.
Đoạn văn kết thúc với việc loan báo sự lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa của Đức Giêsu (Mc 16,19) và một chỉ dẫn ngắn gọn về việc thực hiện lệnh truyền giáo của các tông đồ, mang tin mừng đến khắp nơi với sự trợ giúp của Chúa. Nhiều dấu lạ đồng hành với họ (Mc 16,20). Giáo hội truyền giáo đang lên đường, mệnh lệnh truyền giáo nhắm đến tất cả mọi người.
+++
Vậy, được Thánh Thần sai đi, hai ông xuống Xêlêukia, rồi từ đó đáp tàu đi đảo Sýp. Đến Xalamin, hai ông loan báo lời Thiên Chúa trong các hội đường người do thái.
Barnaba và Saolô là những người được Thánh Thần sai đi xuống Xêlêukia. Trong phụng vụ lời Chúa hôm qua, ta gặp thấy Barnaba được sai đến Antiokia để xem những việc đã xảy ra. Barnaba không chỉ xem xét điều tốt lành xảy ra ở đó mà còn ở lại đó với họ. Ông đi Tarsê để tìm Phaolô và cùng nhau ở lại Antiokia ít là một năm. Ông cùng với họ đến Giêrusalem một thời gian để sống cầu nguyện và đối chất với các Tông đồ. Trở lại Antiokia ông gặp các bạn hữu cũ mới: cũng có Lucio de Cirene và Luca thánh sử. Nhưng để nên một cộng đoàn, Giáo hội không chỉ có mục đích là vui hưởng thành quả của chính mình mà còn phải rộng mở đến khắp nơi. Sách Công vụ cho ta thấy Lời Chúa, không còn hiện diện nơi thân xác của Đức Giêsu nữa, nhưng sống động, lan đi khắp mọi nơi đến tận cùng trái đất. Không có điểm dừng cho Lời Chúa. Do đó tiếp tục một hành trình mới: Barnaba và Phaolô đi Sýp và từ đó ngang qua Perge (gần Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) đó là cuộc hành trình mà ta gọi là hành trình thứ nhất của Phaolô. Cho đến lúc này, Barnaba luôn là người dẫn đầu, khôn ngoan dẫn dắt nhóm nhỏ, trong đó có cả Gioan Mátcô, tác giả tin mừng. Là những trụ cột trong lịch sử của cộng đoàn kitô đầu tiên, họ biết sử dụng những nhân lực và tài lực, văn hóa và đức tin, những tính khí và tầm nhìn khác biệt nhau về thế giới để làm cho tin mừng được nghe và hội nhập vào nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Lạy Chúa, các vị chứng nhân này vẫn còn dạy cho chúng con ngày nay nhiều điều về việc loan báo tin mừng.  Xin ban cho chúng con tinh thần tự do của các ngài để hành động bằng tình yêu, diễn tả rõ ràng vẻ đẹp mới mẽ của Chúa, chứ không chỉ giải thích như một lề luật mới, để tôn trọng và biến thành những quy luật phải giữ.
Ánh sáng thế gian
Đoạn tin mừng hôm nay trình bày phần cuối của sách tin mừng Gioan, là một bảng tổng kết. Nhiều người tin vào Đức Giêsu và can đảm tuyên xưng Ngài cách công khai. Các môn đệ khác tin nhưng lại không có can đảm tuyên xưng đức tin. Họ sợ bị trục xuất ra khỏi hội đường. Và nhiều người không tin: ‘Ngài đã làm ngần ấy dấu lạ trước mặt họ, thế mà họ vẫn không tin Ngài; như vậy là ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia: Lạy Đức Chúa, ai đã tin lời chúng con rao giảng? Và quyền lực của Đức Chúa tỏ cho ai’? (x.Ga 12,37-38 ). Sau nhận xét này, thánh Gioan lặ̣p lại vài đề tài chính trong Tin mừng của Ngài:
Ga 12,44-45: Tin vào Đức Giêsu là tin vào Đấng đã sai Ngài. Là câu tóm cả Tin mừng thánh Gioan. Chủ đề xuất hiện nhiều lần với nhiều hình thức khác nhau. Đức Giêsu liên kết với Chúa Cha, Ngài không nói nhân danh Ngài mà nhân danh Cha. Ai thấy Đức Giêsu là thấy Cha. Nếu muốn nhận biết Thiên Chúa, hãy nhìn Đức Giêsu. Thiên Chúa chính là Đức Giêsu.
Ga 12,46: Đức Giêsu là ánh sáng đến trong thế gian. Ở đây thánh Gioan lặp lại điều mà Ngài đã nói trong phần mở đầu: Ngôi Lời là ánh sáng thật chiếu soi mọi người. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, nhưng bóng tối không nhận lấy ánh sáng. (x.Ga 1,5.9). Ngài lặp lại: ‘Ta là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào Ta, thì không ở lại trong bóng tối’. Đức Giêsu là câu trả lời sống động cho những vấn nạn lớn khởi hứng và thúc đẩy việc tìm kiếm của con người. Là ánh sáng chiếu rõ hướng đi. Giúp khám phá ra bề mặt sáng chói của bóng tối đức tin.
Ga 12,47-48: Ta không đến để xét xử thế gian. Việc xét xử sẽ ra sao? Trong hai câu, thánh sử làm rõ chủ đề của việc xét xử. Không xét xử theo sự đe dọa kèm theo những lời chúc dữ. Đức Giêsu nói: ‘Ai nghe những lời Ta nói mà không tuân giữ, thì không phải chính Ta xét xử người ấy; vì Ta đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian. Ai từ chối Ta và không đón nhận lời Ta, thì có quan tòa xét xử người ấy: chính lời Ta nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết’. Sự xét xử hệ tại người ấy đối diện với lương tâm mình.
Ga 12,49-50: Cha truyền lệnh cho Ta phải nói điều gì. Những lời cuối cùng của Sách các dấu lạ (Tin mừng Gioan) là bảng tóm những gì Đức Giêsu đã nói và làm. Ngài quả quyết lần nữa những điều Ngài đã xác quyết ngay từ đầu: ‘Ta không nói về Ta. Cha là Đấng sai Ta, Ngài truyền lệnh cho Ta phải nói gì. Và Ta biết rằng lệnh truyền của Ngài thì vĩnh cửu. Những gì ta nói với các ngươi, thì Ta nói như Cha đã nói với Ta’. Đức Giêsu là phản ánh của Chúa Cha. Vì vậy, ngài không cần đưa ra bằng cứ và lý chứng cho những người khiêu khích Ngài. Chính Chúa Cha biện minh cho Ngài qua những công việc Ngài làm. Khi nói công việc, không có ý nói đến những phép lạ cả thể, mà tất cả những gì Ngài nói và làm, cả những điều tiểu tiết. Đức Giêsu là dấu chỉ của Chúa Cha. Ủy nhiệm thư của một vị đại sứ không do ông viết mà do chính người mà ông đại diện viết. Từ Chúa Cha.
Biết bao lần chúng ta như mù trước ánh sáng của Chúa, trước mặt trời chân lý. Nhưng để có thể đi vào trong luồng sáng của Chúa, cần phải mở cửa lòng ra. Một kinh nghiệm thời thơ ấu: Đi xe đạp vào buổi tối. Mỗi chiếc xe đạp có gắn một chiếc đèn nối liền với chiếc môtơ phát điện nhỏ áp sát vào vòng bánh xe. Nếu ta ngưng đạp, thì sẽ không có ánh sáng. Mỗi ngày, việc cầu nguyện, nghiên cứu Thánh Kinh, chay tịnh và phục vụ, sống Tin Mừng và tuân thủ các giới răn làm phát ra ánh sáng để chúng ta tiến bước chắc chắn đúng hướng.
Đêm sắp tàn và ngày đang đến. Hãy loại bỏ những công việc của bóng tối và mang lấy những khí giới của ánh sáng.
Thứ năm Tuần IV Phục Sinh
Còn hai ông Phaolô và Barnaba thì rời Pécgiê tiếp tục đi Antiokia miền Pixiđia. Ngày sabát hai ông vào hội đường ngồi tham dự. Sau phần đọc sách Luật và sách các Ngôn sứ, các trưởng hội đường cho người nói với hai ông: Thưa anh em, nếu anh em muốn khuyên nhủ dân điều gì, xin cứ nói.
Phaolô được mời để lên tiếng trong hội đường như thông lệ thời đó, vì thông thường người ta nhường lời cho người khách lạ hiện diện trong hội đường. Điều đó cho phép vị tông đồ loan báo Đức Kitô như đấng cứu thế cho mọi người hiện diện.
Đối với ta ngày nay, điều này có vẻ xa lạ: làm sao có thể tin vào lời của một người không quen biết, chưa được chuẩn bị trước, chưa biết niềm tin thế nào, có quân bình tâm lý không? Chắc chắn Phaolô đã chuẩn bị sẵn sàng nhưng họ chưa biết Ngài là ai.
Trong các cộng đoàn phụng vụ của chúng ta khi có trường hợp nhường lời cho một ai, nếu không phải là một linh mục, người ta phải chắc chắn lắm về người ấy, để tránh những bất ưng đáng tiếc.
Đó là điều tốt. Tuy nhiên việc cơ cấu hóa và sự chuẩn bị đến từng chi tiết nhỏ nhặt trong mọi sự kiện, mọi cuộc gặp gỡ, có thể làm tắt đi tiếng nói của Thánh Thần, đấng làm cho ta biết con người của Đức Giêsu và thường nói qua những con người bé nhỏ, ít ai để ý và chẳng có tài năng gì.
Nhiều lúc chỉ cần một lời nói của một người đã từng sống những gì mình nói, nổi khổ và mệt nhọc của họ như cũng có tiếng nói, họ cho thấy rõ ràng điều gì cộng đoàn đức tin đang thiếu và cần phải thay đổi. Không phải luôn luôn ‘những vị cao niên’, ‘những tiến sĩ’ mới nắm bắt được điều thiết yếu của các sự việc, mới biết đi đâu và khám phá ra những thiếu sót. Quá ‘cao siêu’, nhiều khi họ không còn thấy con người tại thế nữa, không còn thấy những nhu cầu thiết yếu của họ nữa. Nhưng người nghèo, người bé nhỏ, cảm thấy mình là thành phần của nhân loại bị thương tổn, lại có thể thấy vì sao mình sống ở trần gian này. Và khi đó lời của họ làm cho người ta nhận ra sự hiện diện của Đức Giêsu.
Đáng tiếc nhiều lần chúng ta không dám tin để nhường lời cho một ai đó. Chúng ta không tin rằng Chúa có thể nói qua môi miệng của một người bé mọn hoặc một người không quen biết.
Anrê Louf, một người trí thức và làm tu viện trưởng lâu dài một tu viện Xitô, quả quyết rằng thông thường trong cộng đoàn của ngài Thánh Thần của Thiên Chúa nói qua miệng của người trẻ tuổi nhất hoặc khiêm tốn nhất. Và dập tắt những tiếng nói này là bởi vì ta xét họ không có kinh nghiệm hoặc không được chuẩn bị, có thể dẫn đến lầm lạc. Nên ta cần phải có can đảm để cho họ lên tiếng. Chúng ta sẽ ngỡ ngàng biết bao điều thốt ra từ miệng của người tìm kiếm Thiên Chúa và con người, cho dù trước mắt chúng ta hình như chẳng xứng hợp.
Lạy Chúa, chúng con đã đóng miệng biết bao người mà chúng con xét là không thích hợp, không có khả năng. Xin hãy tha thứ những phán đoán quá dễ dãi của chúng con và xin ban cho chúng con biết tín thác vào Chúa và cũng tin tưởng nơi người anh em vì Chúa hiện diện nơi họ.
Một chị em nhút nhát, khiêm tốn là một khí cụ nhiều khi thích hợp cho hoạt động của Thánh Thần vì người đó không gây cản trở cho sự hiện diện của Người.
+++
Sẽ rửa chân cho ai?
Trong vòng ba tuần, tin mừng ngày thường sẽ trích từ những chương (13-17) tin mừng của Thánh Gioan: cuộc đối thoại dài của Đức Giêsu với các môn đệ trong bữa ăn tối cuối cùng. Là cuộc đối thoại thân tình khắc ghi trong tâm trí người môn đệ Chúa yêu. Đức Giêsu hình như muốn kéo dài tối đa cuộc gặp gỡ sau cùng này, những giây phút hết mực thân tình. Ngày nay cũng có nhiều cuộc gặp gỡ như vậy. Có cuộc gặp gỡ hời hợt chỉ toàn những lời lẽ môi mép, phản ánh cái trống rỗng của tâm hồn. Có cuộc gặp gỡ đi sâu vào tâm hồn và đọng mãi trong tâm trí. Tất cả chúng ta đều có những giây phút đầy thân tình như thế, những tấm lòng cởi mở cho nhau, giúp nhau sức mạnh vượt qua những khó khăn, giúp nhau tin tưởng và chiến thắng sợ hãi.
Khi nhiều người thánh thiện lên đường vào sa mạc để sống như những ẩn sĩ, Thánh Grêgôriô thấy thất vọng nên cất tiếng hỏi: ‘Nếu các bạn đi vào sa mạc tất cả, các bạn sẽ rửa chân cho ai’? Một câu hỏi xác đáng, gợi lên cử chỉ của Đức Kitô như in vào lòng mỗi kitô hữu. Nhắc lại bữa tối cuối cùng Chúa Giêsu tự hạ mình làm người tôi tớ và dạy cho mọi người noi theo, không chỉ là một cử chỉ chóng qua, nhưng như là một lời đáp trả cho những tìm kiếm hạnh phúc của con người qua mọi thời.
Biết những điều ấy và đem ra thực hành, thì sẽ có hạnh phúc. Rửa chân cho những người nghèo là một hình ảnh mang tính kitô, đi ngược lại mọi quy luật thế gian. Khôn ngoan của thế gian lấy bản thân mình làm chính. Uy quyền đi đôi với việc cai trị. Khinh thường những kẻ yếu thế, những kẻ không được bảo vệ, những kẻ bị loại trừ. Hạnh phúc được quan niệm như những kẻ có quyền lực, thế lực và tiền của.
Là một ngẫu tượng hấp dẫn. Có lẽ Giuđa cũng đã bị hấp lực này lôi cuốn khi ông quyết định bán Thầy mình, từ chối cách thức mà Đức Giêsu đề nghị để đạt được hạnh phúc. Đó là tội thô bạo nhất. Nó làm cho các môn đệ khiếp sợ! Do đó Đức Kitô đã báo trước, để giảm thiểu cú sốc và, đồng thời minh chứng Ngài là Đấng được sai đến.
Tôi tớ không lớn hơn chủ. Tôi làm gì để cuộc đời mình là một phục vụ thường hằng cho người khác? Đức Giêsu chung sống với những người không chấp nhận Ngài. Còn tôi thì sao?
Thứ Sáu Tuần IV Phục Sinh
Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người chỗi dậy từ cõi chết. Trong nhiều ngày, Đức Giêsu đã hiện ra với những kẻ từng theo Người từ Galilê lên Giêrusalem. Giờ đây chính họ làm chứng cho Người trước mặt dân.
Đây là trích đoạn bài diễn từ của Phaolô tại Antiokia: loan báo việc Đức Giêsu sống lại, tâm điểm của tin mừng, được thực hiện qua tường thuật những lần hiện ra của Người.
Tường thuật chính yếu, diễn từ mạnh mẽ để lôi kéo sự chú ý của dân chúng, những người biết rõ Sách Thánh. Vừa đến thành phố, Phaolô và Barnaba tìm đến hội đường, nơi mà cộng đoàn do thái hải ngoại gặp nhau và các ông loan báo tin mừng ở đó. Dân được tuyển chọn được quyền đón nhận tin mừng trước tiên hết, nhưng họ đã từ khước. Và chỉ khi ấy Phaolô và Barnaba mới quay sang những kẻ kính sợ Thiên Chúa và dân ngoại. Một công thức dành kính trọng, ưu tiên cho dân do thái, được lập đi lập lại nhiều lần trong sách Công vụ và trong các thư của Phaolô.
Lạy Chúa, việc mục vụ và loan báo tin mừng của chúng con nhiều lúc quá nặng nề. Xin đừng để chúng con biếng nhác. Xin giúp chúng con trung thành với Thánh Thần bằng cách sử dụng trí khôn và đam mê của chúng con để không một ai bị lãng quên, loại trừ.
+++
Từ ngữ ‘Thiên Chúa’ hình như có vẻ lạnh lùng và gợi lên sự xa cách. Tiếng gọi ‘Cha’ đầy tình cảm và yêu thương: là từ riêng của Mạc khải. Người ta có thể run sợ đối với Thiên Chúa vì sự thánh thiện của Người là lời quở trách đối với những điều phàm tục của ta. Ngược lại đối với tên gọi ‘Cha’, chúng ta cảm thấy thân mật hơn! Các dân tộc gọi đất nước của họ là ‘patria’ (quốc gia). Điều này ngầm nói lên một sự che chở, một nâng đỡ và tình yêu thương. Ta sẽ cảm thấy ‘như ở nhà mình’ trong nhà của Cha, ta sẽ cảm thấy tự nhiên, tự tin.  Đó là điều kỳ diệu của tình yêu: biến đổi một ngôi nhà trở nên nhà mình, biến người đầy tớ thành người con.
Tôma hỏi: Làm sao biết được đường? Đức kitô trả lời: Chính Thầy là con đường. Đức Kitô như thế định nghĩa vai trò của mình, và chúng ta học biết rằng Ngài không đến vì chính mình Ngài, mà vì chúng ta. Nhà của Ngài là nhà của chúng ta, Cha của Ngài là Cha của chúng ta. Thật hết sức đơn giản và dễ hiểu giáo lý kitô giáo! Chúng ta không tiến đi một mình, không đi mà thiếu người dẫn đường. Đức Kitô có đôi tay: một để chỉ cho chúng ta con đường, một để đỡ nâng chúng ta trên suốt con đường. Đó là tất cả những gì mà người lữ hành cần: Là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.
Thứ bảy Tuần IV Phục Sinh
Bấy giờ ông Phaolô và ông Barnaba mạnh dạn lên tiếng: Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại. Vì Chúa truyền cho chúng tôi thế này: Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất.
‘Ta đã đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân’. Những lời của ngôn sứ Isaia đã được Đức Giêsu lấy lại khi Ngài quả quyết rằng người ta không thể mang đèn để đặt dưới gầm giường, nhưng là đặt trên đế đèn, vì nhiệm vụ của nó là làm cho ánh sáng không còn bị giấu ẩn (x.Mc 4,21)
Nếu Thiên Chúa làm cho ta nên ánh sáng, phản ánh chính hữu thể của Người là ánh sáng, như thế chúng ta không thể bị bỏ rơi. Nếu Người trao cho ta trách nhiệm, công việc, đặc sủng, vai trò và đặt chúng ta lên đế (dù nhỏ hoặc lớn) ta không được chối từ. Người chiếu sáng chúng ta không phải để chúng ta làm tắt đi ánh sáng đó mà là để đến lượt ta trở thành ánh sáng.
Điều quan trọng là tất cả đều từ Người mà đến, không để ta tìm kiếm quyền lực hoặc tham vọng nào, nhưng là để đặt chúng ta phục vụ bằng việc chấp nhận gánh nặng trở nên ánh sáng cho kẻ khác. Vì quả thật là một gánh nặng tinh thần (cả thể lý nữa). Vì phải đưa ra những quyết định, chấp nhận những rủi ro, làm người hướng dẫn, hết sức tỉnh thức để không rơi vào chủ nghĩa vị kỷ hoặc một tham vọng quyền lực nào. Là một gánh nặng nhưng chúng ta không gánh một mình.
Các tông đồ đã đón nhận: họ biết giới hạn của mình (văn hóa, thể lý, tính tình…) nhưng họ đã không thối lui trước trách nhiệm. Trong khi người nghe các vị, như chúng ta vừa nghe đọc, trong vài trường hợp tự cho mình không xứng đáng sự sống đời đời, các ngài xét thấy mình có thể đáp trả lại lời mời gọi của Chúa.
Các ngài không rơi vào sự khiêm tốn giả tạo, không viện đủ trăm nghìn lý do để rút khỏi nhiệm vụ được trao.
Mỗi người chúng ta ngay từ đầu cũng nghèo hèn, sợ hãi và lo lắng nhưng Chúa ban cho ta can đảm, khôn ngoan và lòng tín thác. Nếu Thiên Chúa đã tin tưởng ta, thì chúng ta là ai mà lại không tín thác vào Người, biết bao điều có thể được thực hiện trong tiếng xin vâng của ta?
Cám ơn Chúa đã tin tưởng con. Xin làm cho sự tự tin yếu kém làm con chùng bước hoặc tính vị kỷ lừa dối con, đừng bao giờ làm hạ giá những ân ban của Chúa. Xin làm cho con luôn là ngọn đèn bé nhỏ chỉ mạnh mẽ nhờ vào dầu tình yêu và sự khôn ngoan của Chúa.
Người kiêu căng chỉ tin tưởng chính mình, có trăm nghìn lý do để không bắt tay khởi đầu; nhưng người khiêm tốn tìm thấy sự can đảm nơi khả năng thiếu thốn của mình: càng thấy mình yếu hèn thì càng bạo gan, vì họ đặt tất cả lòng tín thác nơi Thiên Chúa, đấng vui lòng thể hiện quyền năng của Người trong sự yếu hèn và chiến thắng sự khốn cùng của ta bằng lòng thương xót của Người. (Thánh Phanxicô Salêsiô)
Xin chỉ cho chúng con thấy Cha
‘Sự Thật’ là một từ chìa khóa. Đối với người đời từ ngữ ‘sự thật’ gợi lên một công thức, một lý thuyết, một cái gì thuộc tinh thần, là cái mà người ta thủ đắc được. Đức Kitô lật đổ quan niệm này, vì nó hoàn toàn hời hợt bên ngoài. Ngài không tuyên bố: ‘Ta có’ nhưng nói ‘Ta là’: ‘Ta là Sự Thật’.
Sự Thật là một con người chứ không phải là một mệnh đề. Mọi người đều đi tìm sự thật, nhưng không đúng chỗ, họ bằng lòng với những chủ thuyết hoặc ý thức hệ. Tất cả những chủ thuyết ấy, như cơn mưa rào mùa hạ, sẽ chóng lỗi thời.
Tìm Sự Thật, chúng ta đi tìm con người đích thực, tìm Chúa Cha và Đức Kitô là mạc khải của Chúa Cha. Nơi đây không đề cập đến Sự Thật của Chúa Cha mà Chúa Con học biết để rồi truyền đạt lại cho con người. Chính Đức Kitô là Sự Thật.
Điều này vượt quá trí hiểu của các tông đồ. Philipphê diễn tả ưu tư của các ông: ‘Lạy Thầy, xin chỉ cho chúng con thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con rồi’. Các tông đồ không hiểu được căn tính của Chúa Cha và Chúa Con. Họ chỉ biết rằng họ sắp lìa xa Đức Kitô và nghĩ rằng đến nhà Cha thì sẽ được ở cùng với Đức Giêsu và lưu lại với Ngài mãi mãi.
Đức Giêsu tuyên bố Ngài là con đường duy nhất dẫn đến Thiên Chúa, Cha Ngài và ai biết Ngài thì biết Cha. Động từ biết trong ngôn ngữ do thái muốn diễn tả điều gì hơn một liên hệ tri thức với người được nhận biết, vì từ ngữ này thường được dùng để diễn tả kinh nghiệm trong quan hệ vợ chồng.
‘Tôi sống, không còn là tôi sống, nhưng Đức Kitô sống trong tôi’. Điều Đức Kitô xác quyết cũng được áp dụng cho các kitô hữu. Với niềm tin vào Đức Kitô, người tín hữu sẽ sống mật thiết với Thiên Chúa và cũng như Đức Kitô, chúng ta có bổn phận làm sao cho người khác, khi nhìn chúng ta, nhận biết Chúa Cha. Để những việc chúng ta làm tôn vinh Chúa Cha trên trời.
Câu hỏi của Philipphê cũng là câu hỏi của mỗi người chúng ta và mỗi người tự cố gắng trả lời bằng chính cuộc sống của mình: sao các bạn hỏi ‘Xin chỉ cho chúng tôi thấy Cha. Các bạn không thấy rằng Chúa Cha tỏ hiện trong các công việc của chúng tôi sao’? Đó là bổn phận làm chứng tá của mỗi kitô hữu.
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
 
 Tags: n/a

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

dcgiuseminh
logonamthanh
   
closedbible
 
suy 5
 
thanhthan06sm 1
 
gdphanxicoxavie
 
lichconggiao2
 
giolecacnhatho adv2 copy
 
giolecacnhatho adv2
 

Tin mới nhất

Kết nối

 

 

 

Thống kê

  • Đang truy cập26
  • Hôm nay36,767
  • Tháng hiện tại388,835
  • Tổng lượt truy cập406,552

Copyright © [2018] Giáo phận Nha Trang. All rights reserved.
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Nha Trang
Email: gpnhatrangbtt@gmail.com
Địa chỉ: 22 Trần Phú - HT 42, Tp. Nha Trang - Khánh Hoà
Phone: (84) 258.3523842 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây