Toà Giám mục Nha Trang 22 Trần Phú - HT 42 - Tp. Nha Trang - Khánh Hoà - Đt. (84) 58.3523842 - Fax (84) 58.3522494
Rss Feed

Phúc thay ai xây dựng hòa bình

Chúa nói: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5,9). Cũng như mối phúc dành cho ai xót thương, mối phúc này không chỉ nói lên một cách sống mà còn gợi ra việc phải làm : xây dựng hòa bình, kiến tạo bình an, hòa thuận. Không ở chỗ đi bước trước hòa giải với anh em cho bằng giúp các người thù nghịch hòa giải với nhau.
PHÚC THAY AI XÂY DỰNG HÒA BÌNH

Kể từ khi Đức Phaolô VI đặt ngày đầu năm dương lịch làm ngày Ngày Thế giới cầu nguyện cho Hòa bình, thì hàng năm, cứ vào ngày này, các Đức Giáo hoàng đều ban hành một sứ điệp về hòa bình. Những lời của sứ điệp giúp chúng ta hiểu thêm về mối phúc thứ bẩy trong tám mối phúc.
1. Ai là người xây dựng hòa bình?
Chúa nói: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5,9). Cũng như mối phúc dành cho ai xót thương, mối phúc này không chỉ nói lên một cách sống mà còn gợi ra việc phải làm : xây dựng hòa bình, kiến tạo bình an, hòa thuận. Không ở chỗ đi bước trước hòa giải với anh em cho bằng giúp các người thù nghịch hòa giải với nhau.
Thánh Lêô Cả nói: “Đó là con người thực sự yêu chuộng hòa bình, đến độ thậm chí sự bình an của mình bị liên lụy;  đó cũng là con người can thiệp vào những cuộc tranh chấp nhằm có được hòa bình, giúp những người chia rẽ nhau hòa hợp lại với nhau”.
Người xây dựng hòa bình không đồng nghĩa với người hiếu hòa (pacifique), tức người yêu chuộng hòa bình, yên lặng, bình thản, tránh tranh chấp ngần nào có thể (người này thuộc số những người hiền lành cũng được Chúa chúc phúc). Người xây dựng hòa bình cũng khác với người chủ hòa (pacifiste) chỉ thuần chống chiến tranh, chống kẻ gây chiến, mà không có cố gắng nào giúp các bên hòa giải.
Cùng thời với Tân ước, các hoàng đế Rôma được coi là những người dẹp yên bốn phương qua những chiến thắng quân sự, đem lại trật tự bình an cho đế quốc (Pax romana). Nhưng lời Chúa chúc phúc không nhắm tới những con người ấy, và cho biết ai là người thực sự xây dựng hòa bình, cổ võ hòa bình.
Không những khuyên ta trở thành người xây dựng hòa bình, Chúa còn dạy ta, bằng gương mẫu và lời nói, cách thức trở thành con người như thế. Ngài nói với các môn đệ: “Thày để lại bình an cho anh em. Thày ban cho anh em bình an của Thầy. Thày ban cho anh em không như thế gian ban tặng” (Ga 14,27). Thế gian ban tặng theo kiểu Hoàng đế Rôma thời ấy. Nhưng Chúa Giêsu mạc khải một cách thức khác để kiến tạo hòa bình. Bình an của Ngài cũng là hậu quả của chiến thắng, nhưng là chiến thắng chính mình chứ không phải chiến thắng ngươi khác, chiến thắng thiêng liêng chứ không phải chiến thắng quân sự. Trên thập giá, Chúa tiêu diệt sự thù nghịch, thù ghét, chứ không tiêu diệt kẻ thù.
(Một bài hát xưa của Phạm Duy : Kẻ thù ta đâu có phải là người. Giết người đi thì ta ở với ai. Kẻ thù ta tên nó là gian ác. Kẻ thù ta tên nó là mưu mô (?), tên nó là hờn căm, tên nó là hận thù..)
Con đường đưa tới bình an như Phúc âm đề ra, ngoài ý nghĩa trong lãnh vực tôn giáo, còn có ý nghĩa trong lãnh vực chính trị nữa. Ngày nay, ta có thể thấy cách thức duy nhất bảo đảm hòa bình là tiêu diệt sự thù nghịch chứ không phải kẻ thù. Kẻ thù dùng khí giới tiêu diệt nhau, còn sự thù nghịch được tiêu diệt bằng đối thoại. (Có người chê Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln là quá lịch sự với các đối thủ chính trị, và nhắc cho ông, với cương vị là tổng thống, lẽ ra phải triệt hạ họ. Ông trả lời: “Thế tôi biến họ thành bạn bè, lại không phải là triệt hạ kẻ thù tôi đó sao?”)
Hiện nay phần đông cho rằng phải đọc mối phúc này dựa vào cả Kinh Thánh lẫn các nguồn Do thái giáo, theo đó, giúp những người đang tranh chấp hòa giải với nhau là một trong những công việc chính thể hiện lòng bác ái, xót thương. Chúa quả quyết mối phúc dành cho ai xây dựng hòa bình phát xuất từ giới răn mới là bác ái huynh đệ. Đó là một cách thể hiện tình yêu đối với tha nhân.
Theo nghĩa này, có thể nói mối phúc trên dành đặc biệt cho Giáo hội Rôma cùng với thủ lãnh là Đức Giáo hoàng. Một trong những công việc đáng kể nhất mà Đức Giáo hoàng làm cho Giáo hội là cổ võ và góp phần kiến tạo hòa bình giữa các Giáo hội khác nhau, có khi là giữa các vua chúa trong một số thời kỳ. Khi giáo đoàn Corintô đang chia rẽ vì các mối bất hòa, Thánh Giáo hoàng Clêmentê I đã viết thư, khoảng năm 96 (có lẽ trước cả Phúc âm Gioan) khuyên các tín hữu hòa giải để có thể sống bình an. Muốn biết sự can thiệp của Đức Giáo hoàng quý hóa như thế nào, chỉ cần nhìn vào những khó khăn xẩy ra khi ngài vắng mặt.
Lịch sử Giáo hội chứng kiến nhiều thời kỳ mà các Giám mục, tu viện trưởng bất hòa với nhau hay với đàn chiên của mình, và đã phải nại tới Đức Giáo hoàng làm trung gian hòa giải.
Ngay cả ngày nay, Tòa thánh tiếp tục can thiệp cách này cách khác trên bình diện Giáo hội phổ quát và thế giới. Chính sách ngoại giao của Vatican, các sứ thần và đặc sứ là những dụng cụ phục vụ hòa bình. Điều này hầu như được mọi người thừa nhận.
2. Hòa bình như một ân huệ
Thế nhưng, người xây dựng hòa bình đích thực và tối cao không phải là một con người, nhưng là chính Thiên Chúa. Chính vì vậy mà những ai xây dựng hòa bình được gọi là con Thiên Chúa, vì họ giống Ngài, bắt chước Ngài, làm điều Ngài làm.. Trong một sứ điệp hòa bình đầu năm, Đức Benêđitô XVI nói hòa bình là đặc điểm hành động của Thiên Chúa.
Kinh Thánh nói đến hòa bình hay bình an của Thiên Chúa (Pl 4,7) và dùng thường xuyên hơn kiểu nói “Thiên Chúa bình an” hoặc “Thiên Chúa là nguồn bình an” (Rm 15,33). Bình an ở đây không những chỉ điều Thiên Chúa làm hay ban, mà còn cho thấy Thiên Chúa là sự bình an.
Hầu như mọi tôn giáo đồng thời với Kinh Thánh tin vào một thế giới thần linh trong đó các vị thần luôn tranh chấp lẫn nhau, thậm chí gây chiến với nhau. Có thể thấy rõ nơi các thần linh trong thần thoại Hy lạp và Rôma. Trên nền tảng tôn giáo như vậy, Kitô giáo lại cho thấy nét độc đáo mới mẻ trong giáo lý về Ba Ngôi. Thiên Chúa tuy có Ba Ngôi, nhưng chỉ là một Thiên Chúa, hợp nhất với nhau trong tình yêu. Trong một thánh thi, Phụng vụ Giáo hội gọi Ba Ngôi là “đại dương bình an êm ả”, và đây không chỉ là cách diễn tả của thi phú.
Khi chiêm ngắm bức icône Ba Ngôi nổi tiếng của Rublev, điều gây ấn tượng nhất chính là cảm giác về sự bình an của thiên giới tỏa ra từ bức tranh. Qua hình ảnh, họa sĩ đã diễn tả được khẩu hiệu của thánh Serge dành cho đan viện nơi ông vẽ: “Chiến thắng sự bất hòa đáng ghét của thế giới này bằng việc chiêm ngắm Ba Ngôi chí thánh”.
Một Giáo phụ Hy lạp (Denys l’Aréopagite) có kiểu cách ca ngợi sự bình an còn dễ nể hơn. Theo ngài, sự bình an là một trong những “danh hiệu của Thiên Chúa”, ngang với danh hiệu “ánh sáng”, “tình yêu”. Chúa Kitô cũng được gọi là “sự bình an của chúng ta” (Ep 2,14). Khi nói với các môn đệ “Thày ban sự bình an của Thày cho anh em”, Chúa muốn chuyển đạt chính Ngài cho họ.
Có một mối dây liên kết chặt chẽ giữa bình an như một ân huệ từ trên và Chúa Thánh Thần. Không phải vô lý mà cả hai được biểu thị bằng hình chim bồ câu (Bồ câu luôn được coi là biểu tượng của hòa bình). Buổi chiều ngày Phục sinh, Chúa đã ban cho các môn đệ cả sự bình an lẫn Chúa Thánh Thần. Phúc âm Gioan viết: “Ngài thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần (Ga 20,22). Theo Phaolô, bình an là một hoa quả của Thần Khí (Gl 5,22).
 Trước đó, ngay khi hiện ra với các môn đệ, Ngài nói: “Chúc anh em được bình an…” (Ga 20,21). Khi nói như vậy, Ngài chuyển đạt cho các môn đệ “bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết” (Pl 4,7), như thể bình an đồng nghĩa với ân sủng. Vả lại, hai chữ ‘ân sủng’ và ‘bình an’ thường đi đôi với nhau trong những lời mở đầu các thư của Phaolô, chẳng hạn: “Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô, ban cho anh em ân sủng và bình an” (Rm 1,7);  “Chúc anh em được ân sủng và bình an” (1 Tx 1,1).
Trong Thánh lễ, sau kinh xin bình an, linh mục nói: “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em”. Tiếp đến, cộng đoàn đọc kinh “lạy Chiên Thiên Chúa Đấng xóa tội trần gian…Xin ban bình an cho chúng con”. Rồi khi giải tán dân chúng kết thúc Thánh lễ, linh mục nói: “Chúc anh chị em ra đi bình an”. Những chữ ‘bình an’ trong những lời trên đây được coi như ân huệ của Thiên Chúa mà chúng ta đang bàn.
Như vậy, ta hiểu xây dựng hòa bình hay bình an có nghĩa gì. Không phải là phát minh hay kiến tạo thứ hòa bình nào đó, nhưng là chuyển đạt cho người khác hòa bình của Thiên Chúa, của Chúa Kitô.
Chúng ta không là và không thể là nguồn mạch bình an, mà chỉ là những máng chuyên thôi. Trong Kinh Hòa bình (được gán cho thánh Phanxicô Assisi, nhưng không phải (*)) có câu : Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Trong bản tiếng Anh, người ta viết câu này rất đúng như sau : Xin biến con thành máng chuyên (hoặc: kênh chuyển đạt) sự bình an của Chúa (Make me a channel of your peace).
Nhưng sự bình an đang đề cập là gì? Câu định nghĩa của Augustinô đã trở thành cổ điển: “Bình an là sự yên hàn của trật tự”. Dựa trên định nghĩa này, thánh Tôma khai triển thêm là nơi con người có ba kiểu mẫu trật tự : trật tự với mình, với Thiên Chúa và với tha nhân. Do đó mà có ba hình thức bình an : bình an nội tâm cho phép ta sống bình an với chính mình ; bình an cho phép ta sống bình an với Thiên Chúa, hoàn toàn tuân phục thánh ý Ngài; và bình an với tha nhân qua đó ta sống bình an với mọi người.
Trong Kinh Thánh, chữ shalom có nghĩa là hòa bình, đi xa hơn sự yên hàn thuần túy của trật tự. Nó nói lên một cuộc sống thoải mái, sung túc, thư thái, an ninh, thành công, vinh quang. Thậm chí đôi khi nó còn biểu thị toàn bộ thiện ích của thời kỳ cứu thế, và đồng nghĩa với ơn cứu độ, như lời Isaia tuyên sấm: “Đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ” (Is 52,7). Giao ước mới được gọi là giao ước bình an (Ed 37,56), tin mừng được gọi là tin mừng bình an (Ep 6,15), như thể bình an tóm lược tất cả nội dung của giao ước và tin mừng.
Trong Cựu ước, hòa bình thường sóng đôi với công lý “Hòa bình và công lý giao duyên” (Tv 85/84,11), còn trong Tân ước thì sóng đôi với ân sủng. Khi Phaolô viết “Một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa” (Rm 5,1), thì “được bình an với Thiên Chúa” cũng có nghĩa là “trong ân sủng của Thiên Chúa”.
3. Hòa bình như một trách nhiệm
Chính trách nhiệm hay nhiệm vụ xây dựng hòa bình được mối phúc đặt lên hàng đầu.
Để có thể trở thành máng chuyên bình an, phải luôn kết hợp với nguồn mạch bình an là ý muốn của Thiên Chúa. Trong tác phẩm Thần Khúc (La Divine Comédie), thi sĩ Dante đã đặt vào miệng một linh hồn đang trong chốn Luyện ngục câu nói: “Bình an của chúng ta ở trong ý muốn của Thiên Chúa”. Để bảo vệ hay tìm lại được sự bình an này, thiết tưởng nên thường xuyên lặp lại trong trí lời này của thánh nữ Têrêxa Avila: “Ước mong không  gì làm bạn bối rối, không gì làm bạn sợ hãi. Tất cả sẽ qua đi. Thiên Chúa không thay đổi. Nhẫn nại cho phép mọi sự. Ai tin vào Thiên Chúa sẽ không thiếu thốn gì. Chỉ mình Thiên Chúa là đủ”.
Lời các Tông đồ khuyến khích làm điều thiện bao gồm rất nhiều chỉ dẫn thực hành về những gì có lợi hay có hại cho sự bình an. Một trong những đoạn văn được nhiều người biết đến là ở trong thư Giacôbê. Thánh Tông đồ viết: “Thật vậy, ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa. Đức Khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3,16-18).
 Có một khẩu hiệu rất thời thượng hiện nay: “Suy nghĩ ở tầm mức toàn cầu, hành động ở tầm mức địa phương (Think globally, act locally). Có thể áp dụng khẩu hiệu này cho hòa bình. Phải nghĩ tới hòa bình trên thế giới, nhưng xây dựng hòa bình ở địa phương (vì thực ra có muốn góp phần xây dựng hòa bình trên thế giới, thì điều đó cũng vượt ra ngoài khả năng và tầm tay của chúng ta). Hòa bình không được tạo ra như chiến tranh. Chiến tranh cần có sự chuẩn bị lâu dài : về quân đội, vũ khí, chiến lược, tìm kiếm đồng minh. Xây dựng hòa bình thì ngược lại : bắt đầu ngay, thậm chí có khi chỉ một mình, và chỉ bằng cái bắt tay. Nói như Đức Phanxicô trong Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình năm 2014, hòa bình được thực hiện “theo kiểu thủ công”. Cũng như hàng tỉ giọt nước mặn không thể tạo ra một đại dương nước ngọt, thì hàng tỉ người và gia đình bất thuận với nhau không bao giờ có thể tạo thành một nhân loại hòa bình.
Chúa Giêsu đến loan báo “bình an cho người ở xa, bình an cho kẻ ở gần” (Ep 2,17). Làm sao chúng ta có thể coi mình là người cổ võ hòa bình ở xa, nếu sau đó chúng ta quay ra tranh cãi với nhau?  Hãy nhớ lại những lời nghiêm khắc của Phaolô khi ngài nói với giáo đoàn Corintô: “…nhân danh Đức Giêsu Kitô…tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận, một lòng một ý với nhau. Thật vậy…người nhà của bà Khơlôê cho tôi hay tin có chuyện bè phái giữa anh em. Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như : tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apollô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô. Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm sẻ bẩy rồi ư? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vào khổ giá vì anh em chăng?” (1 Cr 1,10-13).
Chủ đề của Ngày Thế giới Hòa bình năm 2014 là “Tình huynh đệ, nền móng và con đường cho hòa bình”. Đức Phanxicô viết như sau: “Tình huynh đệ là một chiều kích chính yếu của con người, vì con người là một hữu thể có tương quan. Ý thức sống động là phải có tương quan đưa ta tới chỗ xem xét và đối xử với mỗi người như là người anh em hay chị em thật sự của mình. Nếu không, việc xây dựng một xã hội công bằng, một hòa bình chắc chắn và lâu dài, trở thành bất khả thi”.
Bản văn nói về gia đình như là nơi đầu tiên dạy học làm người và tập sống như là những người anh chị em đích thực. Thế nhưng sứ điệp cũng áp dụng cho những thực thể khác trong Giáo hội : Chủng viện, Dòng tu, cộng đồng giáo xứ. Chúa nói: “Tất cả anh em đều là anh em với nhau” (Mt 23,8). Nếu lời trên đây không áp dụng cho đời sống nội bộ Giáo hội, thì áp dụng cho ai?
Sách Công vụ phác họa cho ta kiểu mẫu cộng đồng tín hữu đầu tiên, một cộng đồng thực sự là huynh đệ, hòa thuận, thương yêu nhau: “các tín hữu đông đảo mà chỉ có một lòng một ý” (Cv 2,32). Tuyệt vời! Chắc chắn họ được như vậy là nhờ Chúa Thánh Thần. Đây cũng là trường hợp của nhóm các Tông đồ. Trước lễ Ngũ Tuần, các ông chưa có một lòng một ý với nhau đâu, trái lại, thường tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất trong nhóm, ai được ngồi bên tả bên hữu Chúa. Chúa Thánh Thần hiện xuống đã hoàn toàn biến đổi các ông.
Những khuôn mẫu như vậy giờ đây không còn nữa, hoặc nếu còn thì rất hiếm. Có chăng là đạt tới một trình độ tương đối nào đó thôi. Ngay trong một cộng đồng nhỏ cũng có nhiều đối kháng, về phương diện này hay phương diện khác của đời sống, làm giảm sút, thậm chí làm mất đi, sự bình an và hiệp nhất.
Trong 15 tệ nạn của giáo triều Rôma bị Đức Phanxicô tố giác (23.12.2014), có tệ nạn ngồi lê đôi mách (gossip). Ngồi lê đôi mách thường là chuyện của các bà các cô, thế mà các nhân viên và giáo sĩ làm việc ở Vatican cũng chẳng trừ. Thành thực mà nói nội dung những chuyện này thường đưa đến chỗ bới móc điều xấu, có thật hay tưởng tượng, của người khác, do đó mà gây bất hòa.
(Trong thần thoại Hy lạp có nữ thần Eris, được gọi là nữ thần gây bất hòa, vì đã tung quả táo dành cho nữ thần nào đẹp nhất, khiến cho ba nữ thần Héra, Athéna và Aphrodite tranh nhau, không ai nhường ai, vì thần nào cũng cho mình là đẹp nhất. Do vậy mà quả táo được gọi là pomme de discorde, sau này được dùng để chỉ những gì gây bất hòa cho người khác, chẳng hạn nhiều loại chuyện gossip).
Trong đời sống, nhất là đời sống chung, nếu không làm được những hành vi tích cực nhằm xây dựng hòa bình, thì ít nhất cố tránh những hành vi tiêu cực phá vỡ sự bình an.
Có một câu châm ngôn cổ (của Augustinô?) được Đức Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII sử dụng trong Thông điệp Ad Petri Cathedram, ngẫm nghĩ thấy còn rất hợp thời. Câu ấy như sau: “Trong những gì cần thiết thì có sự hiệp nhất, trong những gì hồ nghi thì có tự do, còn trong mọi sự thì có bác ái” (In necessariis unitas, in dubiis libertas, in omnibus vero caritas). Thiết tưởng người muốn xây dựng hòa bình trong cộng đồng mình sống không thê không lưu ý đến lời dạy trên đây. (**)
Có một cách khác giúp cho người xây dựng hòa bình, cách duy nhất mà ai nấy đều có thể và phải nại tới, đó là cầu nguyện cho hòa bình. Mỗi ngày đầu năm dương lịch, Ngày Thế giới Hòa bình, phải là dịp nhắc nhở cho chúng ta bổn phận này. Trong các sứ điệp dành cho ngày này, sau khi đã nêu ra những vấn đề đặc biệt cần lưu ý, liên hệ đến hòa bình trên thế giới, các Đức Giáo hoàng đều nhắc cho mọi tín hữu nhớ cầu nguyện cho hòa bình. Và hàng ngày, trong Thánh lễ, Giáo hội vẫn nài xin Chúa ban bình an cho Giáo hội.
***
Chúng ta vừa nói đến cầu nguyện như là bổn phận của người xây dựng hòa bình. Thì để kết thúc, chúng ta cùng  nhau hát bài Kinh Hòa Bình, một bài ca quen thuộc, trong đó có những ý nguyện giúp chúng ta biết thực hiện sự bình an nơi các anh chị em: “…Lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm…”
(Lấy ý trong Raniero Cantalamessa, Bài giảng 2 Mùa Vọng năm 2006năm 2014 tại Phủ Giáo hoàng)
Lm Micae Trần Đình Quảng
(*) Về Kinh Hòa Bình
Lâu nay người ta nghĩ tác giả của kinh này là thánh Phanxicô Assisi. Thật ra kinh này chỉ được viết ở đầu thế kỷ XX.
Kinh được phổ biến lần đầu tiên trên một tập san tu đức tiếng Pháp năm 1912, như một lời kinh dùng trong Thánh lễ. Năm 1915, một nhóm công giáo Pháp thấy hay bèn  trình lên ĐGH Bênêđitô XV, muốn dùng kinh này để cầu xin cho Thế chiến I chấm dứt. ĐGH truyền cho in kinh này trên báo của Tòa Thánh. Sau đó nhật báo La Croix (Pháp) cũng xin phép được phổ biến.
Ở Hoa Kỳ, cũng vào thời này, nhiều người thấy kinh hay nên đã gán cho thánh Phanxicô Assisi là tác giả, rồi in và phân phát rộng rãi để cầu nguyện cho hòa bình cả thế giới.
Bản dịch tiếng Anh được ưa chuộng nhất do dịch giả Johann Sebastian Von Tempelhoff, ofm, ở Nam Phi. Ông đã phổ nhạc và cho lưu hành khắp nơi.
Mẹ Têrêxa đưa bản kinh vào các lời cầu nguyện buổi sáng cho các chị em Hội Thừa sai Bác ái. Mẹ còn muốn cho cộng đoàn đọc kinh này ngày Mẹ nhận giải Nobel Hòa bình năm 1979 ở Oslo (Na Uy).
Chẳng ai rõ vì sao kinh này được gán cho thánh Phanxicô Assisi, nhưng ý tưởng của lời kinh rất phù hợp với lối sống và lời dạy của thánh nhân. Cũng có người cho là một tu sĩ dòng Capucinô cho in bản kinh vào mặt sau tấm ảnh thánh Phanxicô, khiến dân chúng tưởng ngài là tác giả bản kinh.
(**) Còn một câu châm ngôn cổ nữa cũng hay được Đức Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII nhắc đến: “Nhìn thấy hết, nhắm mắt bỏ qua nhiều sự, chỉ sửa sai chút ít” (Omnia videre, multa dissimulare, pauca corrigere). Thiết tưởng trong đời sống chung, để có bầu khí bình an, mỗi người cũng nên thực hành theo câu châm ngôn này, nhất là những người lãnh đạo cộng đồng.

 
Nguồn: simonhoadalat.com
Từ khóa:

n/a