Toà Giám mục Nha Trang 22 Trần Phú - HT 42 - Tp. Nha Trang - Khánh Hoà - Đt. (84) 58.3523842 - Fax (84) 58.3522494
Rss Feed

Suy Niệm Thánh Vịnh 32 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 32 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Mời gọi ca tụng: hãy reo hò, tạ ơn Chúa, gieo vạn tiếng đàn, hãy dâng Chúa khúc tân ca, rập tiếng hoan hô… +Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng: -Trái đất. Tình thương Chúa đã dựng nên mặt đất, bằng lời sáng tạo, bằng hơi thở thần linh. –Biển cả…tất cả đều tuân phục Ngài +Thiên Chúa Đấng Quan Phòng, chủ tể lịch sử, một vị Thiên Chúa can thiệp, phá tan ý định xấu… Ngài đang thực hiện chương trình của riêng ngài, nhờ dân tuyển chọn, Ngài không lãng quên bất cứ một cư dân nào trên địa cầu, tất cả đều do Ngài tạo dựng, Ngài biết tất cả…

Suy Niệm Thánh Vịnh 89 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 89 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Trong câu mở đầu thánh vịnh được gán cho Môsê, người của Thiên Chúa: đây là thánh vịnh duy nhất được đặt dưới sự bảo hộ của Môsê, vì có những liên hệ văn chương với Sách Sáng thế (St 2,17-3,12). ‘Ađam đã được lấy ra từ đất…sẽ trở về với bụi đất’; và Sách Xuất hành (Xh 32,12), Đệ Nhị Luật (32,36). ‘Xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ và xin Ngài thương đừng hại dân Ngài’ lời Môsê chuyển cầu cho dân. Đây là một thánh vịnh nài xin tha tội, lời cầu nguyện tập thể: tác giả thánh vịnh luôn sử dụng đại từ ‘chúng con’, ông không cầu nguyện một mình, nhất là không chỉ cầu xin tha tội cho mình, nhưng tội lỗi cho dân.

Suy Niệm Thánh Vịnh 127 và Kinh Magnificat  - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 127 và Kinh Magnificat - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Kinh Magnificat không phải là một thánh vịnh theo nghĩa chặt. Không được viết bằng tiếp Hipri nhưng bằng tiếng Hy lạp. Vì thế nên có lẽ chúng ta không thể cùng đọc với dân Israel, như ta vẫn thường làm. Tuy nhiên, bài thánh thi Tân ước này lại sử dụng hình thức cổ điển của các thánh vịnh Tạ Ơn, rồi còn dùng những kiểu nói và não trạng Cựu Ước. Ta có trước mặt một chứng cứ đặc biệt chứng tỏ các thánh vịnh là lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng các thế hệ kitô hữu tiên khởi, và cũng tràn đầy trong tâm tưởng của Đức Maria và Đức Giêsu.

Suy Niệm Thánh Vịnh 18 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 18 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Cũng như thế giới chỉ được chiếu sáng và có sự sống nhờ mặt trời, thì con người chỉ phát triển và đạt đến mức tràn đầy sự sống nhờ ‘lề luật’, là sự sống của Thiên Chúa, tư tưởng của Người, ý muốn của Người giữa loài người. Hai phần của Thánh vịnh được liên kết với nhau thật chặt chẽ: Đấng làm ra các luật ‘vật lý’ cho vũ trụ, cũng chính là Đấng thiết định những luật ‘luân lý’ cho con người. Qua thánh vịnh này, chúng ta tiếp cận tâm hồn của Israel, gắn bó với Lề Luật thánh (Torah) bằng một tình yêu chân thành và cháy nóng.

Suy Niệm Thánh Vịnh 53 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 53 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Lời mở đầu Thánh vịnh dẫn ta vào lời cầu nguyện của chính Đavít. Đavít bị kẻ thù của mình là Saolê truy đuổi vì ông vua đầu tiên này của Israel e sợ chàng thanh niên Đavít chiếm đoạt ngai vàng, xét vì anh ta được nhiều cảm tình của dân chúng. Những ‘khách lạ’, dân chúng nơi mà Đavít trú ngụ, sẵn sàng ‘bán đứng’ anh (x. 1 Sm 23,19.28). Những người đã cầu nguyện và đọc thánh vịnh này trong dòng lịch sử, cách đặc biệt vào những thời kỳ bị bách hại của nhà Maccabê, là những người nghèo ‘anawim’ bị những kẻ quyền thế, kiêu căng, không niềm tin, không lề luật, không kể gì đến Thiên Chúa, bách hại.

Suy Niệm Thánh Vịnh 114 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh tạ ơn này là một phần của Hallel Ai cập. Người do thái hát Thánh vịnh này vào cuối bữa ăn vượt qua, sau khi đã nhắc lại việc Thiên Chúa giải thoát cha ông họ khỏi ách nô lệ Ai cập. Đó chính là hậu cảnh. Những tù binh được giải thoát, những người trước đây bị lưu đày, những ai đã từng trải qua một nguy hiểm lớn lao …mới có thể hiểu được. Israel đã bị trói buộc bởi thừng chão của Pharaon, không chút tự do, bị nghẹt thở giữa một nền văn hóa ngoại giáo thờ ngẫu thần, dân Chúa đã ra như chết. Israel thật ‘bé mọn’ và ‘yếu đuối’, trước quyền lực mạnh mẽ của quốc gia đàn áp. Israel đã ‘kêu cứu’ và Thiên Chúa đã nghe (x.Xh 2,23.24). Thiên Chúa đã giải cứu Israel, và đã đưa họ vào vùng đất nghỉ ngơi, ‘cõi đất dành cho kẻ sống’…đất Canaan, đất của Thiên Chúa, là Nhà, là Thành trì, là đất nơi con người sống ‘trước mặt Chúa’.

Suy Niệm Thánh Vịnh 145 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 145 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là một Thánh Thi ca ngợi vương quyền Thiên Chúa. Từ Thánh vịnh 145 cho đến Thánh vịnh cuối cùng 150, ta có một loạt thánh vịnh được gọi là Hallel cuối cùng, bởi vì mỗi một trong sáu Thánh vịnh này đều mở đầu và kết thúc bằng Alleluia. Cũng thế, sách Thánh vịnh kết thúc bằng lời chúc tụng. Hãy lưu ý từ Alleluia, trong tiếng Do Thái có nghĩa là Hãy chúc tụng Thiên Chúa. Tác giả Thánh vịnh ca ngợi tình yêu Chúa với một giọng điệu hân hoan bằng cách lập lại chín lần cùng một cấu trúc văn phạm được gọi là ‘động tính từ ca tụng’.

Suy Niệm Thánh Vịnh 14 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 14 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là Thánh Vịnh Hành Hương. Dân Do Thái ở Palestine lên Giêrusalem mỗi năm một lần. Những cuộc hành hương này vẫn đều đặn trong cuộc đời Đức Giêsu: đây là biến cố trong năm, một cơ hội để những người do thái đạo đức thêm sức mạnh cho niềm tin. Khi đến Giêrusalem, người ta sẽ được viếng đền thờ. Thánh vịnh 14 này là thành phần của bài giáo lý ngay tại cửa đền: những khách hành hương từ xa về, có thể đã tiêm nhiễm bởi những tục quán của dân ngoại, chính vì thế mà các Lêvi thuyết giảng bài giáo lý sơ đẳng trước khi cho phép họ vào nơi thánh. Trong Thánh vịnh này, một khách hành hương đã đặt câu hỏi: “Ai được vào nhà Chúa?” Sau đó là phần trả lời của các Lêvi. Một loại thập điều.

Suy Niệm Thánh Vịnh 33 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh theo mẫu tự, mỗi câu mở đầu bằng một mẫu tự Do Thái. Thánh vịnh nói về ai? Ai là người được mời để chúc tụng Chúa? Những người nghèo, “Xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên”.Vâng, kẻ bần cùng, người khiêm cung, những tấm lòng tan vỡ được tuyên bố là những người hạnh phúc, trong khi kẻ giàu sang phải bần cùng đói khổ.

Suy Niệm Thánh Vịnh 77 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Công trình dài nhắc nhớ lịch sử này không mang lại niềm thất vọng, như vẻ bề ngoài của nó. Bởi lẽ với những tội lỗi không ngừng tái phạm, Thiên Chúa luôn đáp trả bằng sự tha thứ và những ân phúc mới. Dù bao bất trung, bất tín, Thiên Chúa vẫn luôn trung thành với Giao ước của Ngài. Thánh vịnh kết thúc với một viễn ảnh đầy hy vọng: người ta mong chờ một Đavít, vua mục tử hoàn hảo, khôn ngoan, chăn dắt dân. Và Đức Giêsu đã tự ví mình như vị ‘mục tử’ ấy, ngài đến để hiến mạng sống cứu dân Ngài (Ga 10).

Suy Niệm Thánh Vịnh 144 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là một Thánh Vịnh theo mẫu tự ABC, mỗi câu bắt đầu bằng một chữ cái, diễn tả ước muốn ca tụng Giao Ước một cách toàn vẹn… Người Do Thái đọc Thánh vịnh này mỗi ngày vào giờ kinh sáng: ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa… Đức Giêsu chắc cũng đã đọc Thánh vịnh này hàng nghìn lần. Từ ngữ diễn tả tâm tình ca tụng thật súc tích: tán dương, chúc tụng, ca ngợi, ca tụng, tuyên bố, kể lại rằng, xưng tụng… Tác giả Thánh vịnh không thể không chúc tụng vinh quang đức vua của ông, chính là Thiên Chúa. Ông kể ra vinh quang của Ngài, vinh hiển, kỳ công, uy quyền…

Suy Niệm Thánh Vịnh 22 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 22 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh nói lên kinh nghiệm sống thân tình với Thiên Chúa, sử dụng hai hình ảnh rất được ưa chuộng: đồng cỏ…bữa tiệc…(Người chăn chiên….và Người chủ nhà…) Ở những nơi mà đời sống còn rất bình dị tự nhiên, loại ngôn ngữ này mang tính thi vị. Chủ đề “mục tử” được Kinh Thánh đề cập nhiều. Dân Do thái sống trong một nền văn minh nông nghiệp và du mục. Đối với người dân, đàn chiên là tài sản chính, cả cuộc sống nhằm lo lắng cho đàn chiên: tìm đồng cỏ xanh tươi, dẫn chiên đến dòng nước trong, cho chiên nằm nghỉ nơi bóng mát, biết dẫn chiên đi trong những lối đường an toàn tránh xa những nẻo đường nguy hiểm, với gậy trong tay bảo vệ chúng khi có thú dữ tấn công.

Suy Niệm Thánh Vịnh 84 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Một động từ được lập lại 5 lần: dẫn về! Thánh vịnh này hoàn toàn được ghi dấu bằng chủ đề ‘đưa về, dẫn về’. Rõ ràng tình cảnh làm phát sinh lời cầu nguyện này chính là việc những người lưu đày được trở về từ Babylon. Người ta dựa trên một biến cố lịch sử, được xem như một hành động tha thứ của Thiên Chúa, để cầu xin Ngài một ân huệ mới. Sau niềm hân hoan của việc đoàn người tù nhân đầu tiên được giải thoát trở về, người ta lại nhanh chóng rơi vào nỗi thất vọng của cái ‘thường ngày’: việc tái thiết Đền Thờ bị trì hoãn và các địch thù không ngừng quấy phá những người mới hồi hương (Es 4,4).

Suy Niệm Thánh Vịnh 122 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 122 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là thánh vịnh hành hương, hoặc thánh vịnh lên đền. Bài thơ này là một viên ngọc văn học nhỏ, trong đó nhịp điệu câu được cắt tỉa bằng lối điệp ngữ hết sức ý nghĩa: mắt, tay hướng về…xót thương, khinh miệt…Dân Israel ý thức mình là một dân bé nhỏ, nghèo hèn, bị đàn áp, bị khinh miệt. Tất cả những điều đó cô đọng trong từ do thái ‘anawim’ mà ta dịch là nghèo, hoặc là khiêm nhu. Thay vì bị đè bẹp bởi tình trạng đó, người do thái tựa vào đó để quay về với Thiên Chúa mà thôi: không có lấy một chút quyền lực chính trị hay quân sự, họ ‘hướng mắt nhìn lên trời cao’.

Suy Niệm Thánh Vịnh 29 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 29 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là một thánh vịnh tạ ơn. Động từ tạ ơn được sử dụng ba lần và cũng là từ cuối của thánh vịnh. Từ vựng diễn tả niềm vui thật phong phú: ‘lễ, tán dương, hò reo, vũ điệu’… Trong loại hình văn chương Midrash này, tình trạng cụ thể được gợi lên: một người đau bệnh sắp chết đã được chữa lành…giống như trải nghiệm của Israel, sau cơn hấp hối của thời lưu đày, đã tìm lại niềm vui để ca tụng Thiên Chúa. Dân Israel đã cảm nghiệm sự giải thoát này như một ‘hồi sinh’: tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống.

Suy Niệm Thánh Vịnh 70 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Như ta vẫn thường lưu ý, chủ từ ‘tôi’ được sử dụng ở đây là để chỉ Israel. Lời kinh nguyện này bên ngoài xem ra hết sức cá nhân trong cung giọng thân tình, thực chất lại là một ‘midrash’, một loại ‘dụ ngôn’, một thể văn: dân Israel được trình bày như một cụ già (tình yêu của Thiên Chúa đi trước), đã được chọn ngay từ thuở mới sinh, đã cố gắng để sống trung thành cho tới lúc ‘tóc bạc’…một cụ già không còn sức lực và bị quân thù bao quanh, cả dám khẩn xin Thiên Chúa không phải cho kéo dài cuộc đời đáng thương nhưng là một sức sống mới, một tuổi xuân mới, một sự hồi sinh: như thế Israel sẽ không ngừng cất lời ca tụng và niềm vui.

Suy Niệm Thánh Vịnh 106 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Dàn bài của thánh vịnh Tạ Ơn này thật rõ ràng. Ta thấy cách cụ thể một cảnh sống động đang diễn ra. Vào ngày đại lễ, tại Giêrusalem, có nhiều khách hành hương, tất cả đều mong muốn tạ ơn Thiên Chúa về một lời mà họ đã hứa với Ngài khi họ đang ở trong một tình trạng nguy hiểm. Đám đông đứng quanh bàn thờ, nơi đó tế vật làm hy lễ Tạ ơn đã chuẩn bị sẵn. Các tư tế mời bốn nhóm tín hữu quy tụ với nhau để thực hiện một hy lễ chung. Đó là điều đã xảy ra cho thánh Phaolô, đã dâng hy lễ trong Đền Thờ ‘với bốn người khác’ (Cv 21,24).

Suy niệm Lời Chúa hằng ngày tuần XI TN B - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy niệm Lời Chúa hằng ngày tuần XI TN B - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Trong bài đọc 1 ta thấy rõ ràng tính khí của thánh Phaolô, một tính khí thích đối nghịch, vì ngài là con người chiến đấu và siêu nhạy cảm. Thường thường các thư của Ngài khó hiểu chính bởi vì khía cạnh đối nghịch này, nhưng lại giúp làm nổi bật bộ mặt ‘gây vấn nạn’ của mầu nhiệm Đức Kitô và ngay cả của cuộc đời vị Tông Đồ. Gợi lên những đối nghịch: ‘Bị coi là bịp bợm, nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi được mọi người biết đến; bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống…

Suy Niệm Thánh Vịnh 91 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh này là bài tụng ca giống với Thánh vịnh 1. Một người đạo đức hát lên hạnh phúc của mình vì nhận biết tình yêu trung tín của Thiên Chúa không ngừng tuôn đổ cho mình. Ngược lại, ông cũng nhận ra sự chóng qua của kẻ gian ác, những thành công của họ chỉ như gió thoảng…trong khi người lành bám rễ vững chắc nơi Chúa. Sách Gióp đã góp phần đào sâu những suy tư này bằng việc nhận thức thực tế rằng kẻ dữ có vẻ như được thành đạt ngay đời này còn người lành thì thất bại. Đây là vấn đề thời sự. Sách Khôn Ngoan (Kn 3, 1-9) được trích đọc trong lễ các Thánh Tử đạo, đã đưa ra câu trả lời dứt khoát: Linh hồn những người công chính ở trong tay Thiên Chúa.

Suy Niệm Thánh Vịnh 129 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 129 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh cầu khẩn được Israel sử dụng trong những nghi thức sám hối cộng đồng, đặc biệt vào dịp lễ Xá Tội: trước khi tái lập lại Giao Ước, người ta dâng các lễ vật xá tội đền bù tội lỗi. Điều đáng lưu ý là tiếng kêu của tội nhân không nhằm trước tiên thú nhận tội lỗi mình với những hoàn cảnh, chi tiết: người ta không biết rõ đây là tội gì. Thánh vịnh này trước tiên là một tiếng kêu trông cậy, bài hát hy vọng là bài hát đẹp nhất vì xuất phát từ trái tim con người.

Các tin khác

1, 2, 3 ... 15, 16, 17  Trang sau