Toà Giám mục Nha Trang 22 Trần Phú - HT 42 - Tp. Nha Trang - Khánh Hoà - Đt. (84) 58.3523842 - Fax (84) 58.3522494
Rss Feed

Suy Niệm Thánh Vịnh 117 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh này đã được sử dụng lần đầu tiên vào năm 444 trước Công Nguyên vào dịp Lễ Lều (Nkm 8,13-18). Ngày nay Thánh vịnh này vẫn luôn là thành phần nghi thức của Lễ Lều. Theo Ô. M.Mannati, chuyên viên nghiên cứu Thánh Vịnh, đây là cuộc thoại giữa những thành phần khác nhau của cuộc lễ: Các Thầy Lêvi… Đức Vua…Dân chúng. Ta có thể nghĩ đến niềm vui của cả cộng đồng òa vỡ trong bài ca với nhiều giọng khác nhau. Lễ Lều là một lễ rất bình dân: sân dành cho phụ nữ (Đền Thờ) được thắp sáng suốt đêm… người ta tổ chức cuộc rước kiệu kín ‘nước hằng sống’ nơi hồ Siloe…

Suy Niệm Thánh Vịnh 4 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh này là lời kinh nguyện của một tín hữu (trung thành), một người đạo đức trong dân Israel, nhận biết mình được Thiên Chúa yêu. Đó chính là ý nghĩa của từ ‘hassid’: người trung tín đối với Giao ước của Thiên Chúa. Con người này hoàn toàn hiến dâng tất cả vì niềm tin, không giữ lại gì cho riêng mình: lời kinh của ông hơi gấp rút lúc đầu…để nói rằng ông đang cầu nguyện, ông dám nói rằng ‘mình kêu lên Thiên Chúa’. Nỗi ngặt nghèo của ông chính là đang bị nghẹt thở vì bị dân ngoại bao quanh: chủ nghĩa ngoại giáo, chủ nghĩa vật chất như ngày nay ta thường nói, thật thu hút ngay cả đối với một người đạo đức.

Suy Niệm Lễ Lá: Tv 21, Thứ Năm TT: Tv 115, Thứ Sáu TT: Tv 30, Thứ Bảy TT & PS: Tv117 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Lễ Lá: Tv 21, Thứ Năm TT: Tv 115, Thứ Sáu TT: Tv 30, Thứ Bảy TT & PS: Tv117 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Chính những từ cuối của Thánh vịnh mang lại ý nghĩa chính: đây là một Thánh vịnh tạ ơn, cho dù có vẻ nghịch lý. Tác giả Thánh vịnh hát lên lời tạ ơn của Israel được hồi sinh sau khi lưu đày trở về. Nhưng điều làm cho chúng ta kinh ngạc là tác giả diễn tả sự giải phóng dân tộc bằng hình ảnh của một người bị đóng đinh, nay phục hồi sự sống. Vâng, Đức Giêsu đã lập lại từng chi tiết mà tác giả Thánh vịnh gợi lên: cơn hấp hối, cơn khát, chi thể rã rời, máu chảy từ chân tay, ngọn giáo đâm là phát ân huệ, áo quần bị chia cho lý hình như phong tục thời đó, lời chưởi mắng của những kẻ tố cáo…

Suy Niệm Thánh Vịnh 50 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh này được gán cho Vua Đavít. Tội của nhà vua ( 2S 11,12) đã giết Uria để lấy Bétsabê làm vợ, cũng như lòng thống hối đáng khâm phục của vua vẫn mãi là biểu tượng của sự dữ và của lòng tha thứ. Nhưng ở hậu cảnh Thánh vịnh, ta vẫn thấy thấp thoáng hình ảnh của Giêrusalem bị hủy diệt, khởi đầu cho cuộc lưu đày Babylon: tội cũng như lòng sám hối đều mang tính tập thể. (thành luỹ Giê-ru-sa-lem, xin Ngài xây dựng lại.)

Suy Niệm Thánh Vịnh 136 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là một trong những áng thơ đẹp nhất của văn chương thế giới: có bao giờ tình yêu nồng nàn đối với tổ quốc lại được hát lên với những cung bậc thương nhớ mãnh liệt như thế. Vâng, đúng vậy, thánh vịnh này làm ta hoang mang, đến độ muốn làm cho nó dịu dàng bớt đi một chút, đến độ chỉ giữ lại bốn khổ thơ đầu. Ước muốn trả thù được diễn tả trong hai khổ thơ cuối, thường được đặt trong ngoặc, khi người ta hát thánh vịnh này nơi công cộng: khó ‘cầu nguyện’ với hai khổ thơ cuối này… nên để không gây sốc cho người nghe, người ta bỏ chúng đi. Chắc ai cũng biết rõ luật Talion: ‘Mắt đền mắt, răng đền răng’ (St 4,23; Xh 21, 23-25; Lv 24, 18-21).

Suy Niệm Thánh Vịnh 18 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Qua thánh vịnh này, chúng ta tiếp cận tâm hồn của Israel, gắn bó với Lề Luật thánh (Torah) bằng một tình yêu chân thành và cháy nóng. Gợi lên việc vũ trụ ‘nói’ cho những ai biết nhìn nó (vũ trụ, bầu trời, tinh tú, mặt trời)

Suy Niệm Thánh Vịnh 115 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Hội Thánh đề nghị chúng ta hát Thánh vịnh 115 vào dịp lễ Thứ Năm Tuần Thánh, nên chúng ta cần suy niệm cách đặc biệt. Chúng ta biết rằng theo sách Lễ Nghi Do Thái, đây là Thánh vịnh thứ tư của bài Tụng ca, nghĩa là bài ca tụng được hát sau bữa ăn vượt qua. Lập bí tích Thánh Thể trong bữa ăn cuối cùng, Đức Giêsu cũng đã cầu nguyện và hát Thánh vịnh này.

Suy Niệm Thánh Vịnh 24 -

Tha Thứ những bất trung với Giao Ước: tình thương, danh thánh của Ngài… Lý do hy vọng đứng ‘về phía con người’: cô độc, nghèo nàn, đau khổ, túng quẫn, bất hạnh, tội lỗi, kẻ thù…Vâng, con hy vọng và trông cậy nơi Ngài. Xin cứu con khỏi những khốn khổ.

Suy Niệm Thánh Vịnh 31 và 50 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh này được gán cho Đavít làm tác giả. Đây là lời cảm tạ của một tội nhân. Chú ý đến sự bạo dạn tuyệt vời của Thánh vịnh này. Thay vì ẩn giấu mình, một cách cá nhân, trong bí mật của lương tâm, con người có tội này lại xưng thú công khai rằng mình là kẻ có tội, và dựa vào kinh nghiệm riêng của người được giao hòa để rút ra những bài học khôn ngoan mưu ích cho mọi người: ở cuối thánh vịnh, ông mời gọi mọi người hãy trẩy hội vui mừng, vì ông được hưởng sự tha thứ.

Suy Niệm Thánh Vịnh 146 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 146 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Lòng đạo đức bình dân do thái (và của nhiều người thuộc các nền văn hóa khác nhau) được diễn tả qua bài Thánh vịnh này, liệt kê một vài phẩm tính của Thiên Chúa khiến người ta phải thốt lên lời cảm tạ, tụng ca Người. Ta lưu ý thứ tự lộn xộn những sự kiện lịch sử (Thiên Chúa can thiệp để cứu dân Người: cuộc hồi hương của những người lưu đày, tái thiết lại tường thành Giêrusalem, nâng đỡ những người nghèo, lật đổ những kẻ gian ác) và những biến cố vũ trụ (can thiệp của Thiên Chúa trên thiên nhiên: sao, mây, thảo mộc, gia súc, con người).

Suy Niệm Thánh Vịnh 94 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là Thánh Vịnh mà các tu sĩ nam nữ, các linh mục đọc vào lúc khởi đầu một ngày, dân Do Thái thường đọc trong các nghi lễ tái lập Giao Ước. Ta gặp thấy gợi lên nghi lễ thường thực hiện. Hai thời điểm các Thầy Lêvi, chưởng nghi trong Đền Thờ, mời gọi cộng đoàn tham dự cách tích cực vào việc hành lễ: “Hãy đến đây ta reo hò mừng CHÚA, Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục…”

Suy Niệm Thánh Vịnh 24 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh này là một trong tám thánh vịnh được gọi là thánh vịnh ‘theo mẫu tự’: mỗi câu bắt đầu bằng một mẫu tự do thái, theo thứ tự. Một cách thức giúp trí nhớ và mang tính sư phạm để có thể thuộc nằm lòng nhưng nhất là cách thức để nêu lên sự kiện toàn lề luật…

Suy Niệm Thánh Vịnh 39 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 39 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Nhịp điệu của Thánh Vịnh tạ ơn này thật hay: trước tiên là lời kêu cầu từ một tình huống thảm khốc, tiếp đến là hành vi tạ ơn sau khi được nhận lời. Chưa hết, lại còn dâng lời khẩn nài mới trong những thảm họa mới. Điều kinh ngạc (Lời sấm ngôn cho tương lai): người kêu xin dâng lễ hy sinh theo nghi thức tại Đền Thờ, cùng với cộng đoàn vây quanh… nhưng tìm đâu lễ vật?

Suy Niệm Thánh Vịnh 71 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 71 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh này được viết sau lưu đày, vào thời mà nhà Đavít không còn cai trị nữa, nên được nhắm đến vị Vua Cứu Thế (Messia), vương quốc cứu độ được mọi người mong đợi, một vương quốc phổ quát và vĩnh cửu. Chỉ có vương quốc của Thiên Chúa mới vĩnh cửu. Vị vua trần gian nào ước vọng điều đó là điều vô ích.

Suy Niệm Thánh Vịnh 127 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 127 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh Vịnh này thuộc nhóm Thánh Vịnh lên đền, được hát khi các khách hành hương tiến lên đền thánh Giêrusalem. Từ năm 12 tuổi, hàng năm Đức Giêsu đều lên Giêrusalem để dự lễ và cũng đã hát thánh vịnh này. Đoạn kết là lời chúc lành mà các tư tế tuyên đọc trên những khách hành hương ngay khi họ đến: Xin Chúa từ Sion xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc, ước chi trong suốt cả cuộc đời…

Suy Niệm Thánh Vịnh 88 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 88 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là một thánh vịnh nên đọc làm ba giai đoạn, tuy không thể tách rời nhau. Kinh nguyện này được viết trước tiên dành cho Israel, thấy rõ nơi từng giòng văn. Tình cảnh con người nêu lên là cuộc đăng quang trong triều đại Đavít, vua Giêrusalem. Chính cái kết cuộc bi thảm dưới áp lực của Nabuchodonosor, làm nên hậu cảnh cho thánh vịnh.

Suy Niệm Kinh Magnificat - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Kinh Magnificat - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Có trái tim rộng mở đến vô biên. Không phải vì mẹ biết mình bé nhỏ và không ai biết đến mà mẹ có một tâm hồn nhỏ bé đâu. Thật khác xa! Mẹ nhìn thật xa và thật rộng. Người thiếu nữ vô danh này đã nghĩ đến toàn thể nhân loại. Chân trời của mẹ là ‘tương lai’: muôn thế hệ khen rằng tôi diễm phúc. Mẹ nghĩ đến tất cả những người đói nghèo, những người hèn mọn của mọi thời và nhận thấy rằng Thiên Chúa ưu tiên yêu thương họ.

Suy Niệm Thánh Vịnh 84 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Khổ thơ thứ nhất nhắc lại những can thiệp của Thiên Chúa trong quá khứ: 6 động từ ở thời quá khứ (hoàn thành trong tiếng do thái) tất cả đều có chủ từ là Thiên Chúa.

Suy niệm Thánh Vịnh 79 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đoàn chiên của Thiên Chúa kêu cầu ‘chủ chăn’: xin hãy lắng tai nghe… xin giãi sáng hiển linh… đến cùng chúng con… xin phục hồi chúng con. Tại sao Chúa không nghe lời chúng con kêu cầu nữa? Tại sao cơm con ăn là châu lụy, nước con uống là suối lệ? Tại sao địch thù chúng con vui mừng vì chúng con quỵ ngã?

Suy niệm Thánh Vịnh 22 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy niệm Thánh Vịnh 22 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh nói lên kinh nghiệm sống thân tình với Thiên Chúa, sử dụng hai hình ảnh rất được ưa chuộng: đồng cỏ…bữa tiệc…(Người chăn chiên….và Người chủ nhà…) Ở những nơi mà đời sống còn rất bình dị tự nhiên, loại ngôn ngữ này mang tính thi vị. Chủ đề “mục tử” được Kinh Thánh đề cập nhiều.

1, 2, 3 ... 14, 15, 16  Trang sau