Toà Giám mục Nha Trang 22 Trần Phú - HT 42 - Tp. Nha Trang - Khánh Hoà - Đt. (84) 58.3523842 - Fax (84) 58.3522494
Rss Feed

Suy Niệm Thánh Vịnh 147 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh này trong văn bản do thái, là phần thứ hai của thánh vịnh 146, tiếp tục chủ đề Chúc Tụng Thiên Chúa, là chủ tể mọi loài, lòng nhân hậu tràn đầy nơi các việc lành Ngài làm. Đối với dân quê ngày xưa, thành phố được bao bọc bằng những thành lũy vững chắc, dấu hiệu của sự an toàn.
Suy Niệm Thánh Vịnh 147
12        Giêrusalem hỡi, nào tôn vinh Chúa!
            Này Sion, hãy ca ngợi Thiên Chúa của ngươi!
13        Then cửa nhà ngươi Chúa làm cho thêm chắc,
            Con cái trong thành, Người giáng phúc thi ân.
14        Cõi biên cương, Người thiết lập hòa bình,
            Và cho ngươi no đầy lúa mì tinh hảo.
15        Người tống đạt lệnh truyền xuống đất,
            Lời phán ra, hỏa tốc chạy đi.
16        Tuyết tựa lông chiên Chúa trải dài,
            Sương giá như tro, Người rải rắc.
17        Làm mưa đá Chúa tung từng miếng nhỏ,
            Chịu nổi làm sao giá lạnh của Người!
18        Chúa phán một lời là băng giải tuyết tan,
            Thổi gió lên nước liền tuôn chảy.
19        Chúa bày tỏ lời Người cho nhà Giacóp,
            Chiếu chỉ luật điều cho Israel.
20        Chúa không đối xử với dân nào như vậy,
            Không cho họ biết những điều luật của Người
Alleluia!
 
Cùng Đọc Với Israel
Thánh vịnh này trong văn bản do thái, là phần thứ hai của thánh vịnh 146, tiếp tục chủ đề Chúc Tụng Thiên Chúa, là chủ tể mọi loài, lòng nhân hậu tràn đầy nơi các việc lành Ngài làm. Đối với dân quê ngày xưa, thành phố được bao bọc bằng những thành lũy vững chắc, dấu hiệu của sự an toàn. Đối với những người dân luôn phải đối mặt với cái đói, bánh mì dư dật là dấu chỉ của hạnh phúc và sự sống. Đối với dân chúng những vùng nhiệt đới, các hiện tượng thời tiết mùa đông như (tuyết, băng đá, sương giá)hiếm khi xảy ra, là dấu chỉ của điều gì hầu như không thực, siêu nhiên, đáng kinh ngạc, những kỳ công mà chỉ duy mình Thiên Chúa mới có thể thực hiện. Nhưng Israel không bao giờ quên việc lành vĩ đại, đó là ân ban của lề luật, là giao ước của Thiên Chúa với dân Người: chẳng có dân nào đã được đối xử như thế, chẳng có dân nào khác biết được ý muốn của Người! Và hai chủ đề này, sự can thiệp của Thiên Chúa trong dòng lịch sử và sự can thiệp của Thiên Chúa trong thiên nhiên, được nối kết lại thật chặt chẽ với nhau bằng chủ đề duy nhất là ‘Lời’ của Ngôi Lời Thiên Chúa: chính vị Thiên Chúa ấy được diễn tả trong hai trường hợp trên…và những kỳ công của hoàn vũ, là bảo đảm tính chân thực của lề luật Người. Con người biết ý muốn của Thiên Chúa, có cơ hội để biết ‘lề luật của chính mình Người’: bảo đảm thành công. Thay vì cảm thấy như một gánh nặng, Lề Luật nơi Israel mang tính giải phóng. Lề luật được yêu mến, như người ta yêu thích ánh sáng, làm cho người ta bước đi không phải té ngã. Biết điều gì tốt cho con người, biết điều gì hủy diệt con người, thật tốt lành biết bao!
Cùng Đọc Với Đức Giêsu
Giáo hội đề nghị ta đọc thánh vịnh này vào dịp lễ Mình Máu Thánh Chúa. Quả vậy, thứ bánh làm no thỏa ta không thể không làm ta nghĩ đến bánh hằng sống mà Đức Giêsu nói nhiều đến (Ga 6).
Thánh vịnh 147 diễn tả Thiên Chúa là Đấng sai lời Người đến trần gian…và lời Người hỏa tốc chạy đi. Đó là lời hầu như đã được nhân cách hóa, hòan toàn khác biệt với đấng sai đi. Tác giả thánh vịnh đã không thể nghĩ đến một viễn ảnh như thế, nhưng chúng ta, làm sao chúng ta quên được những lời của thánh Gioan: ‘Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta (Ga 1,14). Vâng, Đức Giêsu là mạc khải hoàn hảo về Thiên Chúa. Các hành vi, cử chỉ, lời nói của Ngài cho ta biết rõ về Thiên Chúa. Ngài thật là ‘Lời Thiên Chúa’ cho thế gian.
Cùng Đọc Với Người Thời Nay
An toàn vật chất. Lương thực trần gian. Hạnh phúc con người. Đã có một thời Giáo hội hình như xem thường những hạnh phúc giản đơn của trần gian. Một lối rao giảng duy linh đã gieo những nghi ngờ cho những hạnh phúc trần gian của con người. Tôn giáo của Israel hiện thực hơn, dạy người ta biết tạ ơn Thiên Chúa đấng làm cho then cửa cổng thành vững chắc để có thể chống lại sự tấn công của quân thù…hoặc khi được trợ cấp lương thực đầy tràn…hoặc khi hòa bình ngự trị trong toàn cõi đất nước. Tại sao chúng ta lại không lấy lại những chủ đề ấy mà tạ ơn Thiên Chúa về tất cả những điều tốt đẹp trong đời sống thường ngày của ta: Lạy Chúa, cám ơn Chúa vì ngôi nhà che chở con…cám ơn Chúa vì lương thực hằng ngày Chúa ban…cám ơn Chúa vì tự do và hòa bình con đang hưởng…
Nhưng, ngay lập tức một lời nguyện khác vang lên trên môi miệng ta: Lạy Chúa, xin hãy ban cho chúng con an ninh trong thời đại đầy bạo lực…Xin ban cho chúng con được no lòng…xin ban cho các dân nước đang chiến tranh, những người bị bách hại và những kẻ khốn cùng được hòa bình.
Cảnh vật mùa đông. Không phải bởi vì chúng ta biết nhiều các hiện tượng thời tiết mà chúng ta thôi ngạc nhiên về chúng. Có gì đẹp bằng sự mỏng manh của một bông hoa tuyết muôn hình muôn dạng! Tại sao ta lại từ chối tạ ơn vì lớp tuyết mỏng bao phủ mặt đất, ở một thời đại mà con người mong chờ tuyết đổ xuống để có thể chơi các môn thể thao trượt tuyết. Trẻ em vào mùa đông vui sướng khi tuyết rơi, để các em có thể trượt tuyết. Đôi lúc ta than phiền vì lạnh, nhưng ta sẽ nói gì nếu nơi ta ở chỉ có một hoặc hai mùa thay vì bốn mùa? Tổ tiên chúng ta, gần gũi với thiên nhiên hơn có lẽ biết vui sướng hưởng thụ tất cả hơn chúng ta.
Tưng bừng mùa xuân. Nếu sự biến thể từ nước sang băng đá không gây ấn tượng cho ta nữa...nếu mưa đá rơi từ trời xuống đầu chúng ta không đánh động trí tưởng tượng của ta, như các tổ tiên ta thời xưa...thì ta nên biết rằng chúng ta hoàn toàn trơ trụi trước những thiên tai ấy. Tác giả xưa đã chí lý khi nói: Chịu nổi làm sao giá lạnh của Người. Mặc dù có những hỏa tiễn chống mưa đá, người nông dân và người trồng nho biết rất rõ rằng họ lệ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Một vườn nho bị mưa đá, một vườn nho bị đóng băng, tất cả đều tiêu tan, đôi lúc cho rất nhiều năm sau đó nữa.Thế nên quả là niềm vui lớn khi mùa xuân đến, khi băng giá bắt đầu tan chảy. Ta có thể cầu nguyện luôn khởi đi từ những vẻ đẹp của mùa xuân, bên cạnh giòng suối quê.
Ơn lành thiêng liêng. Lương thực tinh thần. Hạnh phúc tinh thần. Tại sao ta lại làm việc đối đầu như thế? Tại sao ta bằng lòng với những hạnh phúc vật chất? Người Israel, thật quân bình, trong bài thánh vịnh đã biết cảm tạ Thiên Chúa về những thành công của mình và về ơn ban Giao Ước. Cảm tạ Thiên Chúa đã bày tỏ lời Người cho nhà Giacóp, chiếu chỉ luật điều cho Israel. Chúa không đối xử với dân nào như vậy, không cho họ biết những điều luật của Người. Thật là một niềm vui, không dành riêng cho những ai có chiếc bụng đầy và công ăn việc làm phát đạt. Hãy thực hiện ý Chúa: thỏa mãn sâu lắng mà bất cứ ai, dù là người nghèo cũng có thể nếm hưởng. Những con người quá đầy đủ sẽ không bao giờ cảm thấy những niềm vui mà họ đánh mất vì khép lòng trước điều vô hình. Con người không chỉ sống nhờ cơm bánh. Sự phát triển con người không chỉ nhờ vào việc tăng lương hay sức mua, nhưng cũng nhờ tham dự lớn hơn vào văn hóa, nghệ thuật...và như thế nhờ sự cầu nguyện và mối tương quan với Thiên Chúa nữa. ‘Ý nghĩa cao cả nhất của phẩm giá con người là con người được kêu gọi tới kết hiệp với Thiên Chúa’ (Gaudium et Spes, 19).
Con người đói khát Thiên Chúa. Ngay khi con người đặt ra những vấn nạn thâm sâu nhất, căn bản nhất, con người chỉ có thể giải quyết chúng thực sự trong Thiên Chúa. Con người là gì? Đau khổ, sự dữ, cái chết có ý nghĩa gì, cho dẫu có biết bao tiến bộ, chúng vẫn còn đó? Những chiến thắng mà ta phải trả giá quá đắt, để làm gì? Điều gì sẽ xảy ra sau cuộc đời này? Tại sao con người thì vô tận trong những khát vọng của mình, lại biết rất rõ mình có giới hạn? Trước những vấn đề ấy không có câu trả lời nếu con người chỉ khép kín trên chính mình. Nhưng tại sao con người lại khép kín trên chính mình? Có những cơ hội những sự kiện lớn trong cuộc sống, không ai tránh khỏi những vấn nạn trên. Chỉ mình Thiên Chúa mới có thể trả lời cách đầy đủ. Giêrusalem hỡi, nào tôn vinh Chúa! Này Sion, hãy ca ngợi Thiên Chúa của ngươi! Niềm vui của ngươi thật lớn lao, trước mặt những kẻ không nhận biết Người.

 
Noël Quesson, 50 Psaumes pour tous les jours, Tome II
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê chuyển dịch
 
 
Từ khóa:

n/a