Toà Giám mục Nha Trang 22 Trần Phú - HT 42 - Tp. Nha Trang - Khánh Hoà - Đt. (84) 58.3523842 - Fax (84) 58.3522494
Rss Feed

Suy niệm hằng ngày tuần V Mùa Chay

Đức Giêsu tuyên bố không ai có thể đến được với Cha mà không qua Ngài vì Ngài là đường là sự thật và là sự sống; muốn biết Cha cần phải biết Con; thấy Con là thấy Cha, vì Cha với Con là một.
Thứ hai Tuần V Mùa Chay
 
Cha luôn ở trong Con
 
Cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và người do thái mở ra với lời tuyên bố rõ ràng: ‘Ta là ánh sáng thế gian’. Để tuyên bố lời này, Đức Giêsu lấy gợi ý từ những đèn kết sáng trong ngày lễ Lều, thắp sáng cả đền thờ Giêrusalem. Trổi vượt trên ý hướng của người Do thái, Đức Giêsu tuyên xưng mình là ánh sáng không phải của Giêrusalem, nhưng của toàn thể nhân loại. Lần đầu tiên Ngài tự xưng một cách long trọng và minh bạch Ngài là ánh sáng thế gian, nghĩa là mạc khải của Thiên Chúa, đem đến sự sống và ơn cứu độ.
Để không đi trong tăm tối, cần phải đi theo Đức Giêsu, trở nên môn đệ Ngài. Ai từ chối gắn bó với Con Thiên Chúa (x. Ga 12,35.46) và ghét anh em mình (1 Ga 2,9.11) thì bước đi trong bóng tối.Người Do thái tố cáo Đức Giêsu khoác lác vì tự làm chứng cho mình nên họ kết luận rằng chứng từ của Ngài không thật. Trong đoạn Ga 5,32-37 Đức Giêsu nại đến chứng của Gioan Tẩy Giả, đến những việc của Cha mà Ngài thực hiện. Bây giờ Ngài quả quyết là chứng từ của Ngài đáng tin cậy vì Ngài là Thiên Chúa.
Trong đoạn Ga 5,31 Ngài nói: ‘Nếu tôi làm chứng về mình, thì chứng của tôi không chân thật’. Còn ở đây Ngài nói ngược lại: ‘Cho dầu tôi làm chứng về tôi, chứng của tôi vẫn chân thật, vì tôi biết tôi từ đâu đến và đi về đâu’ (14). Trong trường hợp thứ nhất Đức Giêsu nói về chứng từ nhân loại của Ngài, còn trong trường hợp thứ hai Ngài nại đến bản tính thần linh của Ngài. Các biệt phái hoàn toàn không biết căn tính của Đức Giêsu và nguồn gốc thần linh của Ngài vì họ xét đoán theo cách xác thịt, khác biệt với Chúa Con sống hiệp thông với Cha là đấng đã sai Ngài đến thế gian. Đức Giêsu đầy tràn chân lý, không chỉ là mạc khải sống động về Cha, nhưng với sự xét đoán của Ngài, Ngài tỏ cho thấy thực trạng của con người nữa. Lý do của tính chân thực của Đức Kitô là do sự kết hợp thân tình với Cha. Như thế, Ngài tôn trọng luật Môsê đòi buộc phải có hai người làm chứng, Ngài không đơn độc nhưng Cha luôn ở với Ngài.
Đức Giêsu tuyên bố không ai có thể đến được với Cha mà không qua Ngài vì Ngài là đường là sự thật và là sự sống; muốn biết Cha cần phải biết Con; thấy Con là thấy Cha, vì Cha với Con là một.
 


Thứ ba Tuần V mùa Chay
 
Lễ Trọng Kính Thánh Giuse Bạn Trăm Năm Đức Maria
 
Đoạn tin mừng hôm nay trích từ chương 1 Matthêô, phần nói về việc thụ thai, việc sinh hạ và thời thơ ấu của Đức Giêsu. Trung tâm điểm của bài trình thuật là chính con người của Đức Giêsu, xoay quanh ngài là những biến cố và những nhân vật được nhắc đến. Cần biết rằng tin mừng cho thấy nền thần học về sử tính của Đức Giêsu, nên khi tiếp cận với lời Thiên Chúa, chúng ta cần phải nắm lấy sứ điệp ẩn giấu dưới những lớp phủ của chuyện kể.
Đoạn văn này liên kết với gia phả của Đức Giêsu, mà Matthêô có ý đặt để nhấn mạnh sự kế tục dòng Đavít của Đức Giêsu, đấng cứu độ toàn dân (Mt 1,21); ‘Giuse, con vua Đavít’ (Mt 1,20). Theo kinh thánh và quan niệm do thái, tính cách làm cha theo luật pháp đủ để ban cho mọi quyền lợi dòng tộc (Đnl 25,5). Ngay khởi đầu gia phả, Đức Giêsu được nêu danh như là ‘Đức Kitô Con Vua Đavít’ (Mt,1,1) nghĩa là đấng được xức dầu của Chúa, Con Đavít, nơi Ngài mọi lời hứa của Thiên Chúa cho Đavít sẽ được thực hiện (2 Sam 7,1-16; Sal 89,30). Nên Mt thêm vào tường thuật gia phả và việc thụ thai của Đức Giêsu lời sứ ngôn Isaia: ‘Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ…’ (Mt 1,21-23).
Dừng lại trên sự kiện nhận làm con, chúng ta có thể nói rằng dân tuyển chọn có ‘vinh quang, giao ước, lề luật, nền phụng tự và các lời hứa bởi vì những người dân Israel đã được Thiên Chúa nhận làm con’ (Rm 9,4). Ngay cả chúng ta, dân mới của Thiên Chúa trong Đức Kitô, chúng ta cũng được nhận làm con bởi lẽ ‘khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới lề luật, để chuộc những ai sống dưới lề luật, hầu chúng ta được nhận được ơn làm nghĩa tử’ (Gl 4,4-5). Đó là ơn cứu độ mà Đức Giêsu mang đến cho ta. Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội (Mt 1,21) vì Ngài là Thiên Chúa ở cùng chúng ta (Mt 1,23) đấng làm cho ta nên dưỡng tử của thiên Chúa. Một điều mà Kinh thánh thường nhắc đến đó là giấc mơ là ‘nơi thích hợp’ mà Thiên Chúa tỏ bày cho biết những dự tính và chương trình của Ngài. Thiên thần Chúa hiện ra với Giuse trong giấc mơ (Mt 1,20) để tỏ cho ông biết ý định của Thiên Chúa.
 
 
Thứ Tư Tuần V mùa Chay
 
Gắn bó với Chúa
 
Liệu có Thiên Chúa nào cứu được các ngươi khỏi tay ta chăng? Một thách đố mỉa mai cho ba chàng trai do thái buộc họ phải chọn lựa giữa việc trung thành với Thiên Chúa và mạng sống mình. Một thách đố luôn hiện thực cho mọi người thuộc mọi thời đại. Ngẫu tượng thay đổi, nhưng lời chiêu dụ quỳ gối trước các ngẫu tượng vẫn tiếp tục len lõi khắp nơi một cách ngọt ngào. Cách này hay cách khác chúng ta tất cả đều phải đối mặt với chúng và cần phải có lập trường riêng. Là những lúc mà niềm tin đòi hỏi được xác minh rồi sau đó mới được thanh luyện và vững mạnh. Tin rằng Thiên Chúa có thể can thiệp và giải thoát khỏi những bế tắc, có thể mang lại sức mạnh để tiến bước, bằng cách bám chặt vào đức tin. Ba chàng trai cho thấy một điều hơn thế: họ không chỉ có niềm tín thác hoàn toàn vào tình yêu quan phòng và quyền năng của Thiên Chúa, Đấng kéo họ ra khỏi sự chết, nhưng còn gắn bó hoàn toàn vào Ngài, mà họ đặt cao hơn chính mạng sống của họ. Niềm tin của họ không cần phải có phép lạ để nâng đỡ: Thiên Chúa không phải là nơi trú ẩn an toàn đối với họ. Nên ngay cả khi chẳng có can thiệp lạ lùng nào, họ vẫn kiên vững gắn bó với Ngài. Đó chính là niềm tin trưởng thành, mà bây giờ hơn lúc nào, chúng ta đang cần. Là chứng từ của những ai trong những thăng trầm cuộc sống, vẫn vững tin.
Trong mùa chay, tôi cũng cần xác minh lòng tin của mình, tự hỏi xem phải chăng tôi đi tìm nơi trú ẩn an toàn hay là một gắn bó vô điều kiện vào Thiên Chúa.
Lạy Chúa, xin ban cho con một đức tin chân thật, có khả năng đối đầu với mọi nghịch cảnh cuộc đời.
 
Thứ năm Tuần V mùa Chay
 
Ápraham đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi.
 
Đây là một lời hân hoan nối kết Cựu Ước với Tin Mừng và gợi lại cuộc sống của tổ phụ Ápraham, cha của những kẻ tin. Ápraham đã hớn hở vì hy vọng thấy ngày của Đức Kitô, nghĩa là gì? Đó là ngày nào? Ta nên biết rằng lịch sử cuộc đời của Ápraham đều xoay quanh đức tin, trở thành người hy vọng khi mà chẳng có gì để hy vọng. Được kêu gọi rời bỏ quê hương xứ sở, những người thân thiết và truyền thống để theo tiếng gọi của Thiên Chúa. Sara, vợ ông, là người son sẻ, đã thụ thai con trai. Bàn tay uy quyền của Thiên Chúa dẫn dắt Ápraham trên mọi nẻo đường. Và ông tin rằng đó là những nẻo đường cứu độ. Ông cũng tin như thế khi mà Thiên Chúa yêu cầu ông dâng hiến đứa con trai Isaác, đứa con duy nhất, đứa con của lời hứa. Ông đã chấp nhận. Trong đêm tối của niềm tin ông tiếp tục tin rằng lời hứa sẽ được thực hiện, đứa con trai của ông sẽ không phải giao nộp cho sự chết đến muôn đời. Như đã viết trong thư Do Thái: ‘Isáac trở nên biểu trưng’, biểu trưng của Đức Kitô sống lại. Như thế Đức Giêsu có thể nói đến chiến thắng của niềm hy vọng nơi Ápraham, người nhìn thấy, một cách nào đó, ngày Ngài sống lại; niềm vui chiến thắng trên sự chết.
Hãy để cho Lời Chúa hôm nay bén rễ sâu trong lòng ta: ‘Thật, tôi bảo thật các ông: ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết’. Tin và hy vọng có nghĩa là dựa hoàn toàn vào sự chết và sống lại của Đức Giêsu để không tự giam mình trong nỗi sợ hãi của cái chết riêng mình.
Lạy Chúa Giêsu, sắp bước vào tuần thánh cử hành trọng thể các mầu nhiệm thánh về cái chết và sự sống lại của Chúa, xin làm cho chúng con biết dìm mình vào đó từ bây giờ cùng với niềm tin và hy vọng. Con tin chắc rằng nếu con sống tin mừng của Chúa, cái chết của con sẽ là cửa mở vào sự sống mang lại cho con niềm vui không bao giờ phai tàn.
 
 
Thứ sáu Tuần V mùa Chay
 
Chúa hằng ở bên con
 
Tiếng kêu tuyệt vọng và cần khẩn của Giêrêmia nhắc nhớ tình cảnh Đức Giêsu phải đối mặt ngay trước cuộc thương khó. Vị ngôn sứ mời gọi ca tụng Thiên Chúa: ‘Hãy ca tụng Đức Chúa, hãy ngợi khen Đức Chúa, vì Người đã giải thoát kẻ cơ bần khỏi tay phường hung bạo’. Trong cơn thử thách, người công chính đau khổ nói lên niềm tin của mình: ‘Đức Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng. Vì thế những kẻ từng hại con sẽ thất điên bát đảo, sẽ không thắng nổi con’. Khi cuộc sống thường ngày trở nên khó khăn, người tín hữu cậy dựa vào Thiên Chúa, vì Ngài cho biết đau khổ có giá trị cứu thoát. Đau khổ biến thành lời kinh nguyện: ‘Trong cơn hoạn nạn con cầu khẩn Chúa: Lạy Chúa, xin cứu con’.
Trong tin mừng Gioan, sự chống đối của những người do thái không dập tắt. Họ chỉ trích những việc làm của Đức Giêsu và nhất là lời tuyên bố Ngài là Con Thiên Chúa: là lời phạm thượng đáng bị ném đá. Mọi cố gắng lý luận đều vô ích. Sau cùng Đức Giêsu quay về nguồn sứ vụ của Ngài: ‘Ngài sang bên kia sông Giođan, đến chỗ trước kia ông Gioan đã làm phép rửa, và Ngài ở lại đó’. Tại nơi đó, Ngài đã gọi những môn đệ đầu tiên, ‘ở đó nhiều người tin vào Đức Giêsu’. Trở về nguồn nghĩa là hồi phục lại lòng hăng say thưở ban đầu và cảm thấy mới mẻ sứ điệp sám hối và niềm tin mà Gioan Tẩy Giả và chính Đức Giêsu đã loan báo.
 
 
Thứ bảy Tuần V mùa Chay
 
Các thủ lãnh do thái quyết định giết Chúa
 
Đã gần đến dịp lễ Vượt Qua, nhiều người do thái lên Giêrusalem trước lễ để được thanh tẩy. Họ tìm Đức Giêsu và đứng trong đền thờ bán tán với nhau: ‘Có thể ông ấy sẽ không lên dự lễ, các ông có nghĩ thế không?’ Thật lạ lùng: phép lạ Đức Giêsu làm lẽ ra giúp người ta tin vào Ngài như đấng được Chúa Cha sai đến, đàng này ngược lại trở nên kích thích sự đố kỵ và trả thù nơi các địch thủ của Ngài. Nhiều lần Đức Giêsu đã quở trách người do thái về ý xấu, muốn nhắm mắt để khỏi nhìn thấy. Thật vậy chính vì phép lạ (cho Lagiarô sống lại) mà sự chia rẽ giữa họ lại càng sâu đậm. Nhưng nhiều người tin vào Ngài.
Họ đã triệu tập hội đồng công tọa. Không ai trong các địch thủ của Đức Giêsu có thể khước từ sự kiện phép lạ. Nhưng thay vì rút ra kết luận hợp lý, và nhìn nhận Ngài như đấng được Cha sai đến, họ e sợ việc loan truyền những giáo huấn của Ngài sẽ mang lại tai họa cho dân tộc. Caipha, thượng tế năm ấy, biết phải làm gì. Gợi ý của ông xuất phát từ bình diện chính trị: một người chết thay cho dân. Không biết Đức Giêsu phạm tội gì và ông cũng chẳng muốn biết, vị thượng tế, với quyết định ác ý của ông, lại trở nên công cụ cho mạc khải của Thiên Chúa. Thiên Chúa không để cho một đứa con nào của Ngài phải hư mất, dù người đời cho là thua thiệt.
 

 
Tác giả bài viết: Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Từ khóa:

n/a