Toà Giám mục Nha Trang 22 Trần Phú - HT 42 - Tp. Nha Trang - Khánh Hoà - Đt. (84) 58.3523842 - Fax (84) 58.3522494
Rss Feed

Suy Niệm Thánh Vịnh 33 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh theo mẫu tự, mỗi câu mở đầu bằng một mẫu tự Do Thái. Thánh vịnh nói về ai? Ai là người được mời để chúc tụng Chúa? Những người nghèo, “Xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên”.Vâng, kẻ bần cùng, người khiêm cung, những tấm lòng tan vỡ được tuyên bố là những người hạnh phúc, trong khi kẻ giàu sang phải bần cùng đói khổ.

Suy Niệm Thánh Vịnh 77 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Công trình dài nhắc nhớ lịch sử này không mang lại niềm thất vọng, như vẻ bề ngoài của nó. Bởi lẽ với những tội lỗi không ngừng tái phạm, Thiên Chúa luôn đáp trả bằng sự tha thứ và những ân phúc mới. Dù bao bất trung, bất tín, Thiên Chúa vẫn luôn trung thành với Giao ước của Ngài. Thánh vịnh kết thúc với một viễn ảnh đầy hy vọng: người ta mong chờ một Đavít, vua mục tử hoàn hảo, khôn ngoan, chăn dắt dân. Và Đức Giêsu đã tự ví mình như vị ‘mục tử’ ấy, ngài đến để hiến mạng sống cứu dân Ngài (Ga 10).

Suy Niệm Thánh Vịnh 144 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là một Thánh Vịnh theo mẫu tự ABC, mỗi câu bắt đầu bằng một chữ cái, diễn tả ước muốn ca tụng Giao Ước một cách toàn vẹn… Người Do Thái đọc Thánh vịnh này mỗi ngày vào giờ kinh sáng: ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa… Đức Giêsu chắc cũng đã đọc Thánh vịnh này hàng nghìn lần. Từ ngữ diễn tả tâm tình ca tụng thật súc tích: tán dương, chúc tụng, ca ngợi, ca tụng, tuyên bố, kể lại rằng, xưng tụng… Tác giả Thánh vịnh không thể không chúc tụng vinh quang đức vua của ông, chính là Thiên Chúa. Ông kể ra vinh quang của Ngài, vinh hiển, kỳ công, uy quyền…

Suy Niệm Thánh Vịnh 22 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 22 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh nói lên kinh nghiệm sống thân tình với Thiên Chúa, sử dụng hai hình ảnh rất được ưa chuộng: đồng cỏ…bữa tiệc…(Người chăn chiên….và Người chủ nhà…) Ở những nơi mà đời sống còn rất bình dị tự nhiên, loại ngôn ngữ này mang tính thi vị. Chủ đề “mục tử” được Kinh Thánh đề cập nhiều. Dân Do thái sống trong một nền văn minh nông nghiệp và du mục. Đối với người dân, đàn chiên là tài sản chính, cả cuộc sống nhằm lo lắng cho đàn chiên: tìm đồng cỏ xanh tươi, dẫn chiên đến dòng nước trong, cho chiên nằm nghỉ nơi bóng mát, biết dẫn chiên đi trong những lối đường an toàn tránh xa những nẻo đường nguy hiểm, với gậy trong tay bảo vệ chúng khi có thú dữ tấn công.

Suy Niệm Thánh Vịnh 84 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Một động từ được lập lại 5 lần: dẫn về! Thánh vịnh này hoàn toàn được ghi dấu bằng chủ đề ‘đưa về, dẫn về’. Rõ ràng tình cảnh làm phát sinh lời cầu nguyện này chính là việc những người lưu đày được trở về từ Babylon. Người ta dựa trên một biến cố lịch sử, được xem như một hành động tha thứ của Thiên Chúa, để cầu xin Ngài một ân huệ mới. Sau niềm hân hoan của việc đoàn người tù nhân đầu tiên được giải thoát trở về, người ta lại nhanh chóng rơi vào nỗi thất vọng của cái ‘thường ngày’: việc tái thiết Đền Thờ bị trì hoãn và các địch thù không ngừng quấy phá những người mới hồi hương (Es 4,4).

Suy Niệm Thánh Vịnh 122 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 122 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là thánh vịnh hành hương, hoặc thánh vịnh lên đền. Bài thơ này là một viên ngọc văn học nhỏ, trong đó nhịp điệu câu được cắt tỉa bằng lối điệp ngữ hết sức ý nghĩa: mắt, tay hướng về…xót thương, khinh miệt…Dân Israel ý thức mình là một dân bé nhỏ, nghèo hèn, bị đàn áp, bị khinh miệt. Tất cả những điều đó cô đọng trong từ do thái ‘anawim’ mà ta dịch là nghèo, hoặc là khiêm nhu. Thay vì bị đè bẹp bởi tình trạng đó, người do thái tựa vào đó để quay về với Thiên Chúa mà thôi: không có lấy một chút quyền lực chính trị hay quân sự, họ ‘hướng mắt nhìn lên trời cao’.

Suy Niệm Thánh Vịnh 29 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 29 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là một thánh vịnh tạ ơn. Động từ tạ ơn được sử dụng ba lần và cũng là từ cuối của thánh vịnh. Từ vựng diễn tả niềm vui thật phong phú: ‘lễ, tán dương, hò reo, vũ điệu’… Trong loại hình văn chương Midrash này, tình trạng cụ thể được gợi lên: một người đau bệnh sắp chết đã được chữa lành…giống như trải nghiệm của Israel, sau cơn hấp hối của thời lưu đày, đã tìm lại niềm vui để ca tụng Thiên Chúa. Dân Israel đã cảm nghiệm sự giải thoát này như một ‘hồi sinh’: tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống.

Suy Niệm Thánh Vịnh 70 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Như ta vẫn thường lưu ý, chủ từ ‘tôi’ được sử dụng ở đây là để chỉ Israel. Lời kinh nguyện này bên ngoài xem ra hết sức cá nhân trong cung giọng thân tình, thực chất lại là một ‘midrash’, một loại ‘dụ ngôn’, một thể văn: dân Israel được trình bày như một cụ già (tình yêu của Thiên Chúa đi trước), đã được chọn ngay từ thuở mới sinh, đã cố gắng để sống trung thành cho tới lúc ‘tóc bạc’…một cụ già không còn sức lực và bị quân thù bao quanh, cả dám khẩn xin Thiên Chúa không phải cho kéo dài cuộc đời đáng thương nhưng là một sức sống mới, một tuổi xuân mới, một sự hồi sinh: như thế Israel sẽ không ngừng cất lời ca tụng và niềm vui.

Suy Niệm Thánh Vịnh 106 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Dàn bài của thánh vịnh Tạ Ơn này thật rõ ràng. Ta thấy cách cụ thể một cảnh sống động đang diễn ra. Vào ngày đại lễ, tại Giêrusalem, có nhiều khách hành hương, tất cả đều mong muốn tạ ơn Thiên Chúa về một lời mà họ đã hứa với Ngài khi họ đang ở trong một tình trạng nguy hiểm. Đám đông đứng quanh bàn thờ, nơi đó tế vật làm hy lễ Tạ ơn đã chuẩn bị sẵn. Các tư tế mời bốn nhóm tín hữu quy tụ với nhau để thực hiện một hy lễ chung. Đó là điều đã xảy ra cho thánh Phaolô, đã dâng hy lễ trong Đền Thờ ‘với bốn người khác’ (Cv 21,24).

Suy niệm Lời Chúa hằng ngày tuần XI TN B - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy niệm Lời Chúa hằng ngày tuần XI TN B - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Trong bài đọc 1 ta thấy rõ ràng tính khí của thánh Phaolô, một tính khí thích đối nghịch, vì ngài là con người chiến đấu và siêu nhạy cảm. Thường thường các thư của Ngài khó hiểu chính bởi vì khía cạnh đối nghịch này, nhưng lại giúp làm nổi bật bộ mặt ‘gây vấn nạn’ của mầu nhiệm Đức Kitô và ngay cả của cuộc đời vị Tông Đồ. Gợi lên những đối nghịch: ‘Bị coi là bịp bợm, nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi được mọi người biết đến; bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống…

Suy Niệm Thánh Vịnh 91 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh này là bài tụng ca giống với Thánh vịnh 1. Một người đạo đức hát lên hạnh phúc của mình vì nhận biết tình yêu trung tín của Thiên Chúa không ngừng tuôn đổ cho mình. Ngược lại, ông cũng nhận ra sự chóng qua của kẻ gian ác, những thành công của họ chỉ như gió thoảng…trong khi người lành bám rễ vững chắc nơi Chúa. Sách Gióp đã góp phần đào sâu những suy tư này bằng việc nhận thức thực tế rằng kẻ dữ có vẻ như được thành đạt ngay đời này còn người lành thì thất bại. Đây là vấn đề thời sự. Sách Khôn Ngoan (Kn 3, 1-9) được trích đọc trong lễ các Thánh Tử đạo, đã đưa ra câu trả lời dứt khoát: Linh hồn những người công chính ở trong tay Thiên Chúa.

Suy Niệm Thánh Vịnh 129 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 129 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh cầu khẩn được Israel sử dụng trong những nghi thức sám hối cộng đồng, đặc biệt vào dịp lễ Xá Tội: trước khi tái lập lại Giao Ước, người ta dâng các lễ vật xá tội đền bù tội lỗi. Điều đáng lưu ý là tiếng kêu của tội nhân không nhằm trước tiên thú nhận tội lỗi mình với những hoàn cảnh, chi tiết: người ta không biết rõ đây là tội gì. Thánh vịnh này trước tiên là một tiếng kêu trông cậy, bài hát hy vọng là bài hát đẹp nhất vì xuất phát từ trái tim con người.

Suy Niệm Thánh Vịnh 115 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 115 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Hội Thánh đề nghị chúng ta hát Thánh vịnh 115 vào dịp lễ Thứ Năm Tuần Thánh, nên chúng ta cần suy niệm cách đặc biệt. Chúng ta biết rằng theo sách Lễ Nghi Do Thái, đây là Thánh vịnh thứ tư của bài Tụng ca, nghĩa là bài ca tụng được hát sau bữa ăn vượt qua. Lập bí tích Thánh Thể trong bữa ăn cuối cùng, Đức Giêsu cũng đã cầu nguyện và hát Thánh vịnh này.

Suy Niệm Thánh Vịnh 32 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 32 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Mời gọi ca tụng: hãy reo hò, tạ ơn Chúa, gieo vạn tiếng đàn, hãy dâng Chúa khúc tân ca, rập tiếng hoan hô… +Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng: -Trái đất. Tình thương Chúa đã dựng nên mặt đất, bằng lời sáng tạo, bằng hơi thở thần linh. –Biển cả…tất cả đều tuân phục Ngài +Thiên Chúa Đấng Quan Phòng, chủ tể lịch sử, một vị Thiên Chúa can thiệp, phá tan ý định xấu… Ngài đang thực hiện chương trình của riêng ngài, nhờ dân tuyển chọn, Ngài không lãng quên bất cứ một cư dân nào trên địa cầu, tất cả đều do Ngài tạo dựng, Ngài biết tất cả…

Suy Niệm Thánh Vịnh 103 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 103 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Tác giả Thánh vịnh đã mượn bài tụng ca thần mặt trời của Ai cập, Aton-Râ, do Aménophis IV soạn, nhưng đã được thanh luyện khỏi việc thờ ngẫu tượng. Ông đã rập theo khuôn của sách Sáng thế về sáu ngày tạo dựng, đưa vào tinh thần lạc quan khi đứng trước thiên nhiên… và cảnh giác trước sự dữ mà con người với sự tự do của mình có thể rơi vào.

Suy Niệm Thánh Vịnh 46 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 46 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Một trong những ngày của Đại Lễ Lều, Giêrusalem chúc mừng Đức Vua, Thiên Chúa. Người ta khởi hành từ dưới suối Gihon trong thung lũng Xêdron và đoàn rước lên dần đến đồi Sion, nơi có đền thờ Giêrusalem. Chẳng khác nào những cử điệu trong một vở kịch câm, họ đang cử hành nghi lễ phong vương cho Thiên Chúa, Đấng ngự trên tòa uy linh cao cả. Nghi lễ này thật ra chẳng mang lại vương quyền cho Thiên Chúa, vì từ ngàn đời Đức Chúa là vua, nhưng nó lại hiện tại hóa vương quyền đó, để toàn dân càng nhìn nhận hơn Thiên Chúa là vua của họ.

Suy Niệm Thánh Vịnh 97 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 97 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đừng bao giờ quên rằng các Thánh vịnh chính là khát vọng và lời nguyện cầu của dân Israel. Đây là một Thánh vịnh vương quyền: mỗi năm một lần, vào dịp Lễ Lều (nhắc nhớ 40 năm hành trình trong sa mạc), tại Giêrusalem, người ta tổ chức Lễ hội trọng thể, không chỉ nơi Đền Thờ nhưng còn cả thành phố, vì người ta kết các ‘lều’ khắp nơi bằng những nhánh cây… Giêrusalem mừng Vua của mình. Điểm đặc biệt là Vị Vua không phải là một người nào đó trong dân, vì dòng tộc Đavít đã sụp đổ từ lâu, nhưng chính là Thiên Chúa.

Suy Niệm Thánh Vịnh 21 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 21 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Chính những từ cuối của Thánh vịnh mang lại ý nghĩa chính: đây là một Thánh vịnh tạ ơn, cho dù có vẻ nghịch lý. Tác giả Thánh vịnh hát lên lời tạ ơn của Israel được hồi sinh sau khi lưu đày trở về. Nhưng điều làm cho chúng ta kinh ngạc là tác giả diễn tả sự giải phóng dân tộc bằng hình ảnh của một người bị đóng đinh, nay phục hồi sự sống.

Suy Niệm Thánh Vịnh 117 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh này đã được sử dụng lần đầu tiên vào năm 444 trước Công Nguyên vào dịp Lễ Lều (Nkm 8,13-18). Ngày nay Thánh vịnh này vẫn luôn là thành phần nghi thức của Lễ Lều. Theo Ô. M.Mannati, chuyên viên nghiên cứu Thánh Vịnh, đây là cuộc thoại giữa những thành phần khác nhau của cuộc lễ: Các Thầy Lêvi… Đức Vua…Dân chúng. Ta có thể nghĩ đến niềm vui của cả cộng đồng òa vỡ trong bài ca với nhiều giọng khác nhau. Lễ Lều là một lễ rất bình dân: sân dành cho phụ nữ (Đền Thờ) được thắp sáng suốt đêm… người ta tổ chức cuộc rước kiệu kín ‘nước hằng sống’ nơi hồ Siloe…

Suy Niệm Thánh Vịnh 4 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh này là lời kinh nguyện của một tín hữu (trung thành), một người đạo đức trong dân Israel, nhận biết mình được Thiên Chúa yêu. Đó chính là ý nghĩa của từ ‘hassid’: người trung tín đối với Giao ước của Thiên Chúa. Con người này hoàn toàn hiến dâng tất cả vì niềm tin, không giữ lại gì cho riêng mình: lời kinh của ông hơi gấp rút lúc đầu…để nói rằng ông đang cầu nguyện, ông dám nói rằng ‘mình kêu lên Thiên Chúa’. Nỗi ngặt nghèo của ông chính là đang bị nghẹt thở vì bị dân ngoại bao quanh: chủ nghĩa ngoại giáo, chủ nghĩa vật chất như ngày nay ta thường nói, thật thu hút ngay cả đối với một người đạo đức.

Các tin khác

1, 2, 3 ... 15, 16, 17  Trang sau