Toà Giám mục Nha Trang 22 Trần Phú - HT 42 - Tp. Nha Trang - Khánh Hoà - Đt. (84) 58.3523842 - Fax (84) 58.3522494
Rss Feed

....Từ Dòng Máu Tử Đạo...Giáo Phận Nha Trang Đã Ra Đời

Nếu nói rằng Hội Thánh Kitô phát sinh từ Cạnh Sườn Đức Kitô an giấc trên Thập giá thì cũng có thể khẳng định Giáo Phận Nha Trang ra đời Từ Dòng Máu Tử Đạo.
...Từ Dòng Máu Tử Đạo...
Giáo phận Nha Trang đã ra đời

 
Hôm nay chúng ta đến dự lễ khấn Dòng của mấy Chị Em. Ngày mai chúng ta lại mừng lễ Tạ ơn của một Tân Linh Mục. Làm sao chúng ta không nhớ rằng trước đây hơn hai mươi năm một bé gái... trước đây gần ba chục năm một bé trai đã được bồng đến thánh đường để lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Tiếp xúc đầu tiên của chủ tế đối với em bé là ghi dấu Thánh Giá trên trán bé.
Mừng 50 năm Giáo Phận Nha Trang, chúng ta cũng không thể không nhắc tới cử chỉ đầu tiên Chúa ghi trên trán Cô Bé Giáo Phận Sơ Sinh chính là Dấu Thánh Giá bằng máu hồng Tử Đạo.
 
Những hàng đầu ký sự truyền giáo ghi về vùng đất này, khi còn đang thuộc vương quốc Champa, có thể còn nhạt nhoà dấu vết tử đạo.
Năm 1550, thừa sai Gaspar de Santa Cruz lập tu viện Đa Minh đầu tiên ở Malacca. Tám năm sau, 1558, thừa sai Lopez và Azevedo tới loan báo Tin Mừng cho vùng địa đầu Chân Lạp và Champa, mà 10 năm sau mới bị trục xuất. Hai vị ở đâu, làm gì để có thể qua suốt mười năm... nếu không có những người theo Đạo. Ai dám khẳng định trong số đó không có di dân người Việt vào xâm canh trên đất và chài lưới trên sông biển Champa và Chân Lạp. Ai có thể ngây thơ cho rằng thừa sai bị trục xuất, mà tín hữu nông ngư dân hoàn toàn an cư lạc nghiệp!
Hơn hai chục năm sau, chính xác là năm 1580, tu viện lại phái giáo sĩ Gregoire de la Motte và Luis de Fonseca đi giảng ở vùng này. Lm. Nguyễn Hồng
[1] tin rằng hai vị giảng tới Quảng Nam. Chiến tranh biên giới làm hai vị thiệt mạng 6 năm sau tại Xiêm.
Giữa những hàng ký sự đó, độc giả cảm nhận được có bao nhiêu người giáo dân đã hy sinh?
Sau khi bị trục xuất khỏi Nhật, Cha Buzomi và vài vị khác mới được Dòng Tên phái vào Cửa Hàn năm 1615. Ba tháng sau, dịp Phục Sinh, các Ngài rửa tội 10 người. Vậy mà
“cuối năm, các ngài đã cất hai nhà thờ tại Hải Phố và Quảng Nam cho trên 300 giáo dân... Tới năm 1665, Nam Hà đã có trên 50.000 giáo dân” [2].
Những bước tiến đẹp và những con số tròn đó, làm sao năm bảy vị thừa sai thực hiện được, nếu không có hàng chục hàng trăm ngàn tín hữu vô danh tham dự và hy sinh!
 
Dân tộc Nam Tiến, gốc Giáo phận hình thành.
Cái nhìn đơn giản thường cho cảm nhận rằng tín hữu là nạn nhân của cường quyền áp chế hoặc chiến tranh tàn khốc. Nhưng “Thiên Chúa làm cho mọi sự sinh ích lợi cho những người yêu mến Chúa” (Rm 8,28).
Thập niên đầu thế kỷ XVII, Nguyễn Hoàng mới vào trấn Thuận Hoá, biên giới Việt Chăm. Thế mà tới năm 1665, giáo hội Nam sông Gianh gồm 50.000 tín hữu đã trải ba lần cấm Đạo:

  • Do Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên năm 1625.
  • Do Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan từ 1639-1644.
  • Do Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần 1663-1665.
Cũng chính trong thời gian hậu bán thế kỷ XVII này, những mầm Tin Mừng được bứng và cấy vào trong những vùng đất lạ, sẽ trổ sinh những giáo xứ làm gốc cho giáo phận Nha Trang.
Lịch sử giáo xứ Tấn Tài, Phan Rang ghi nhẹ nhàng:

“ Khoảng năm 1664, một nhóm quân nhân có Đạo, gốc Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, tòng quân Nam Triều chinh phục đất Chiêm. Xong, họ lưu lại Ninh Thuận, lập thành một xóm giáo tại Dinh Thuỷ...”[3]
Thế là quá sớm, vì mãi năm 1697 Nguyễn Phúc Chu mới đặt phủ Bình Thuận, lấy đất Phan Rang và Phan Rí đổi làm hai huyện An Phước và Hoà Đa.[4]
Trên đường Nam tiến của dân tộc Việt Nam, dầu là lính, hay trước đó là ngư dân, nông dân, chắc chắn đến vùng Ninh Hoà, Nha Trang trước khi vào Phan Rang.
Thôn Ba Tháp và Mỹ Nhơn thuộc vùng Du Long (Ninh Thuận) còn là cột mốc dừng chân đàm phán của hai dân tộc Việt Chăm một thời gian.
Năm 1668, hai Linh Mục Việt Nam tiên khởi – cha Giuse Trang và Luca Bền – còn là người bên kia Đèo Cả.
Hiền Vương chỉ mới chính thức chiếm đất Khánh Hoà của người Champa năm 1653. Vùng Vạn Ninh, Ninh Hoà còn dính liền với Diên Khánh, gọi là Phủ Mới.
Nhưng, đêm 01.9.1671 - dầu giữa thời Hiền Vương cấm đạo – khi phái đoàn Đức Cha Lambert de la Motte ghé Chợ Mới Nha Trang, ở đây đã có một ông quan theo Đạo, 2 Thầy giảng hướng dẫn chừng 800 tín hữu đến gặp Đức Cha. Dịp này Ngài cũng cử hành Bí Tích Thêm Sức cho khoảng 200 người.
Nếu không có Mầm Tin Mừng gieo âm thầm trước, thì thời gian từ 1653 tới 1671 sao có thể hình thành Giáo Đoàn linh hoạt như thế!
Lướt qua Nha Trang, Chợ Mới, Bình Cang và Phủ Mới - hẳn là giáo dân địa bàn giáo xứ Hà Dừa - Đất Sét ngày nay – phái đoàn thừa sai ra tới vùng cực bắc Giáo phận Nha Trang hôm nay, vùng Ninh Hoà Vạn Ninh.
Thừa sai Vachet trong phái đoàn giải thích:

Phải ghé Nha Ru để an ủi tín hữu, vì nếu tới thăm Phủ Mới mà không thăm họ thì họ phiền trách [5].
Chúng ta biết rằng phái đoàn ghé thăm tín hữu một vùng, mà trung diểm hôm ấy chính là giáo xứ Gò Muồng (hoặc Mỹ Phước) hôm nay.
Khi tiếp tục hành trình, Đại Diện Tông Toà trao lại vùng Nam Đèo Cả này cho thừa sai Mahot và một Linh Mục Việt Nam chăm sóc mục vụ. Các Ngài rất tận tâm, nên
“năm 1676, giáo xứ (Gò Muồng) đã có một viện mồ côi và dưỡng lão, mà sở ruộng nhà chung ngày nay vẫn còn gọi là ‘ruộng mồ côi’ tại làng Phú Điền”. [6]
 
Dòng máu tử đạo tiếp chảy, Giáo phận phát triển thêm
“Năm 1700, người em gái cha Lorenzo là bà Anna chịu tử tù vì đạo Chúa. Cũng năm ấy, ông Inhaxiô Lư, bà Agatha Cư và ông Phêrô Tam đã chịu chết vì đạo.

Năm 1750, do sắc luật cấm đạo Đàng Trong [7], nhà thờ và các cơ sở công giáo Ninh Hoà bị phá bình địa, giáo dân bị chết rũ tù “.[8]
Gần 20 năm sau, chính xác là 1774, nhà Tây Sơn đã làm chủ từ Hải Vân vào Bình Thuận.
Cho rằng gia đình Tây Sơn này là tín hữu họ Hồ từ Nghệ Tĩnh theo Chúa Nguyễn vào Nam, cho rằng với tư cách cá nhân, Nguyễn Lữ từng dự thánh lễ tại Gia Định, nhưng Nguyễn Nhạc
[9] đã có 2 sắc chỉ cấm đạo vào các năm 1779 và 1785; Nguyễn Quang Toản [10] cấm đạo tới 4 lần vào 07.01.1795, 24.01.1795, 1798 và 1799. Đối lại, cạnh Đức cha Bá Đa Lộc tích cực xây dựng cho nhà Nguyễn Phúc, các thừa sai khác không hề công khai ủng hộ Tây Sơn. Dầu sao, trong chiến loạn thì sắc lệnh Tây Sơn cấm đạo không có hiệu quả nào tàn khốc.
Thời Nguyễn Phúc với 22 dụ cấm đạo và phong trào “sĩ phu cấm đạo” gọi là Văn Thân và Cần Vương “Bình Tây Sát Tả” mới thật khốc liệt, tàn sát hàng trăm ngàn tín hữu chỉ vì “tội không phản đạo”.
Các Chị Mến Thánh Giá là một tổ chức cung cấp biết bao nhân lực cho việc xây dựng Giáo Hội Việt Nam và các giáo phận. Chưa một chị nào được tuyên Thánh hoặc Chân Phước, nhưng Tổ Chức Nhà Phước là tổ chức đã được phúc tử vì Đạo nhiều nhất tại Việt Nam.

“Nhà phước Mến Thánh Giá đầu tiên ở Ninh Thuận thành lập tại Láng Mun [11] do bà Nhất Khiết điều khiển, có hai bà được phước tử đạo tại Phan Rí năm 1862 là bà Anna Trí và Anê Soạn. Bà nhứt Madalêna Lộc bị chôn sống năm 1864”.[12]
Năm 1864 thì cả Giáo phận Nha Trang ngày nay còn thuộc Giáo phận Qui Nhơn, đã bị chìm vào cuộc hiểu lầm Văn Thân rồi! Năm sau, Nhà Mến Thánh Giá Dinh Thuỷ cất lại trong khuôn viên nhà thờ, gần lẫm lúa. Chuyện hy sinh lại xảy ra. Trong Thông Tin Giáo phận Qui Nhơn 1907, Đức Giám mục Grangeon thuật lại:
“ Khi bắt đạo, bà nhất và 2 bà về quê ở Khánh Hoà, rồi vào Saigon tị nạn, 6 người khác chạy trốn ở nhà người Chàm, 6 bà còn lại bị bắt thả xuống giếng nhà phước lấp lại. Trong số này có bà Ơn quê ở Khánh Hoà. Có một bà sống hoi hóp hai ngày, bị ngộp và khát nước, xin cứu. Một người lương đi qua, chửi mắng làm sỉ nhục, bà nói với ông ta ‘tôi có 3 đồng bạc mang trong áo, kéo tôi lên tôi sẽ cho’,
Vì lòng tham, ông kéo lên, sau khi lấy hết tiền, xô bà vào đống lửa, đây là đống cây chuẩn bị cất nhà thờ tương lai, thấy bà đang giãy giụa, ông ta lấy cây đập nát đầu bà...” [13]
Tới dụ cấm đạo lần thứ ba của Minh Mạng [14], năm 1830 chừng ba chục gia đình tín hữu Quảng Nam, Quảng Nghĩa chạy vào Rừng Lai, bên kia Đèo Cậu của Ninh Thuận để trốn người và sống trung thành với Chúa. Họ là thế hệ đầu của các xứ Phước Thiện, Phước An. Khi Văn Thân hoành hành, họ phải chạy vào tận Sài Gòn và chỉ trở lại cạnh Rừng Lai khi hết Cần Vương.
Tự Đức cấm đạo lần thứ hai năm 1851
[15], một nhà thờ gần thành Diên Khánh bị đốt. Nhưng từ đó, Giáo phận Nha Trang ngày nay có giáo xứ Hà Dừa và Cây Vông.
Tháng 7.1885 Hịch Cần Vương mang máu lửa vào Quảng Bình, một nhóm tín hữu nghề biển chạy vào Ninh Chữ, lập nền móng cho xứ Bình Chính của giáo hạt Ninh Thuận.
 
Trung tuần thế kỷ XX, con đường vẫn thế
Vẫn theo Lời Chúa và vì chủ quan muốn trung thành sống Đạo, khách quan có những nguyên nhân nào không kể, người di dân lập nghiệp vẫn rỉ rả theo đường Nam tiến. Mùa Hè Thu năm 1954, người di cư đã ồ ạt tràn vào phía Nam Đèo Cả, đông đúc đủ để mang theo cả tập quán và cung cách sống đạo Miền Bắc, nên sau nửa thế kỷ vẫn còn rõ ràng là những giáo xứ di cư từ miền Bắc, dầu họ đã trộn chung hàng chục tỉnh quê hương! Vùng Nha Trang gồm đa số xứ đạo và tín hữu. Hạt Cam Ranh gồm toàn phía nam Cửu Lợi. Trong giáo hạt Phan Rang, thành phần di cư đa số hoà vào các cộng đoàn sẵn có từ di cư thời Nguyễn. Từ “mùa hè đỏ lửa” (1972), giáo dân di cư làm nên các xứ vùng Quảng Thuận (Phan Rang) và Vĩnh Linh (Cam Ranh).
Nhìn vào số linh mục, tu sĩ, chủng sinh, và tông đồ giáo dân của giáo phận, không ai không nhận thấy cha ông hoặc đa số họ là di dân của dòng máu tuyên tín thế kỷ XX. Họ cùng với những anh chị em thế hệ di dân trước trở nên một trong mấy thành tố linh hoạt nhất của Giáo phận.
Kịp khi cánh cửa hành chánh vừa hé mở vì luồng gió toàn cầu hoá, họ cũng là phần tử chính trong lớp tông đồ Giáo phận đi phục vụ các giáo đoàn trong nước và hải ngoại.
Nếu nói rằng Hội Thánh Kitô phát sinh từ Cạnh Sườn Đức Kitô an giấc trên Thập giá thì cũng có thể khẳng định Giáo Phận Nha Trang ra đời Từ Dòng Máu Tử Đạo.
 



[1] Lịch Sử Truyền giáo ở VN. Q.1.Ch. 1.IV
[2] Tài liệu học hỏi. Đức Ông Đạo chủ biên. Roma 1988. Đề tài 2.I.
[3] Kỷ Yếu Địa phận Nha Trang. 1971. tr.86
[4] Đào Duy Anh “Đất nước VN. qua các đời”. Huế 1994.tr.234
[5] Launay: Histoire génerale de l’Eglise Cochinchine.
[6] Kỷ yếu ĐPNT. Giáo xứ Gò Muồng. tr. 39
[7] 1700 Quốc chúa Nguyễn phúc Chu cấm đạo. Võ Vương Nguyễn phúc Khoát cấm đạo năm 1750
[8] Kỷ yếu Địa phận 1971…xứ Gò Muồng.
[9] Làm vua 1778-1793
[10] Cảnh Thịnh 1793-1801
[11] Ngày nay gọi “Giáo xứ Tân Hội”.
[12] Kỷ Yếu ĐPNT. 1971. tr.31
[13] Kỷ yếu ĐP. Nha Trang 1971.tr.31
[14] Minh Mạ ng có 7 du cấm Đạo vào các năm 1825, 26, 1830, 33,34,36,38.
[15] Tự Đức là người nhiều sắc chỉ cấm đạo nhất: 14, vào các năm 1848,1851,1855, 1857 (4), 1859 (3), 1860 (4)

Tác giả bài viết: VP TGM
Từ khóa:

n/a