Toà Giám mục Nha Trang 22 Trần Phú - HT 42 - Tp. Nha Trang - Khánh Hoà - Đt. (84) 58.3523842 - Fax (84) 58.3522494
Rss Feed

Đời sống mới trong Đức Kitô - Bài 13. Các nhân đức tự nhiên và các nhân đức , bài 14. Đức tin và bài 15. Đức cậy.

Sau khi bàn đến 4 nhân đức trụ, truyền thống Kitô giáo nói đến 3 nhân đức đối thần: đức tin, đức cậy, đức mến. Bốn và ba, cộng lại là bảy, con số biểu tượng cho sự hoàn hảo, tròn đầy. Từ rất lâu, số 4 đã được nhìn như con số diễn tả thế giới: 4 phương trời. Số 3 là con số thần linh: Thiên Chúa Ba Ngôi.
HIỂU SÁCH GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
Phần III: ĐỜI SỐNG MỚI TRONG ĐỨC KITÔ

 
Bài 13. CÁC NHÂN ĐỨC TỰ NHIÊN VÀ CÁC NHÂN ĐỨC SIÊU NHIÊN
 
Sau khi bàn đến 4 nhân đức trụ, truyền thống Kitô giáo nói đến 3 nhân đức đối thần: đức tin, đức cậy, đức mến. Bốn và ba, cộng lại là bảy, con số biểu tượng cho sự hoàn hảo, tròn đầy. Từ rất lâu, số 4 đã được nhìn như con số diễn tả thế giới: 4 phương trời. Số 3 là con số thần linh: Thiên Chúa Ba Ngôi. Trong kiến trúc Tây phương, các ngôi nhà thờ chính tòa thường được xây dựng theo mô thức này: 4 và 3, để diễn tả chân lý này là trời và đất, Thiên Chúa và con người gặp gỡ nhau ở đây, nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên-Chúa-làm-người.
 
Tương tự như thế, những thái độ căn bản của con người được phân chia thành 4 thái độ tự nhiên do con người tập luyện và 3 thái độ siêu nhiên do Thiên Chúa ban. Sự phân chia này phù hợp với kinh nghiệm nhân sinh được trải nghiệm theo thời gian.
 
Cũng như bất cứ kỹ năng nào khác, nhân đức cần phải được học tập. Giáo dục có mục đích là xây dựng con người và tính cách.Có một cách nhìn sai lệch về ý nghĩa của nhân đức. Cách riêng từ thế kỷ 19, nhân đức được nhìn như sự đối nghịch với khoái lạc và niềm vui, như những bổn phận và bó buộc đi ngược khuynh hướng tự nhiên của con người. Cách nhìn này hoàn toàn khác với cách nhìn của các bậc thầy trong Kitô giáo. Với các ngài, nhân đức đáp ứng khuynh hướng đích thực và sâu xa nơi con người, và vì thế, thực hành nhân đức là một niềm vui (GLHTCG số 1810). Nền tảng của cái nhìn tích cực này là ở đây: ước vọng sâu xa nhất của con người là Sự Thiện, vì con người được sinh ra từ Đấng Tạo Hóa tốt lành và được tạo dựng để hưởng hạnh phúc.
 
Dĩ nhiên luân lý Kitô giáo biết rằng con người mang thương tích vì tội (số 1811). Chính vì thế, để làm điều lành, phải cố gắng rất nhiều. Cũng vì thế, toàn bộ đời sống con người là một nỗ lực liên lỉ, nhất là trong những quyết định nhỏ bé hằng ngày, làm sao để ước vọng Sự Thiện vượt thắng những cám dỗ và thử thách trong đời sống thường ngày. Cũng vì thế, chúng ta cần đến sự trợ giúp từ trên – là ân sủng – nâng đỡ và thêm sức cho ta, bảo vệ và thúc đẩy ta. Do đó luân lý Kitô giáo xác tín rằng không ai có thể thành công mà không cần đến sự trợ giúp của ân sủng, không có ân sủng thì sức riêng của chúng ta quá yếu đuối đang khi cám dỗ lại quá mạnh.
 
Tuy nhiên đây không phải là lý do duy nhất khiến chúng ta cần đến ân sủng. Chúng ta không được tạo dựng chỉ với mục đích đạt được cuộc sống thành công nơi trần thế. Đời sống con người chỉ trọn vẹn khi được tham dự hoàn toàn vào sự sống của Thiên Chúa. Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến được gọi là các nhân đức “đối thần” vì qua những nhân đức này, sự sống thần linh được ban xuống và cắm rễ trong linh hồn chúng ta (số 1813). Những nhân đức đó không do chúng ta làm nên nhưng chỉ đón nhận, dĩ nhiên không phải là đón nhận cách hoàn toàn thụ động, mà là đón tiếp và làm cho nó phát triển. Chỉ nhờ đức tin, đức cậy, đức mến mà đời sống con người mới thật sự trở thành “đời sống Kitô hữu”, “đời sống trong Đức Kitô”.
 
Bài 14. ĐỨC TIN
Đức tin là cửa ngõ dẫn vào sự sống thần linh. “Không có đức tin, không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa” (Dt 11,6), vì đức tin kết hợp linh hồn với Thiên Chúa, tạo tình thông hiệp với Ngài. Người tin là người “chạm đến” Thiên Chúa. Vì chúng ta không thể sống và đạt đến sự sống đời đời mà không có Chúa, nên đức tin cần thiết để được cứu độ, nghĩa là được sống (x. Mt 16,16).
Thế nhưng đức tin là gì? Phải chăng đức tin ở mức độ kém hơn so với sự hiểu biết? Phải chăng đức tin chỉ là một ý kiến chứ không phải là sự hiểu biết chắc chắn? Con người ngày nay sống trong một thế giới nặng tính kỹ thuật, đòi hỏi phải có sự hiểu biết rõ ràng, cho nên rất khó chấp nhận đức tin vì nó không rõ ràng. Tuy nhiên nhà thần học Joseph Ratzinger (sau này là Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI) đã chứng minh rằng chính thế giới kỹ thuật cao này lại đòi hỏi niềm tin nhiều hơn. Bạn có nắm chắc những tính toán chính xác của tòa nhà cao ốc bạn đang làm việc không? Bạn có nắm chắc vận hành của thang máy đang dùng không? Bạn có hiểu rõ những thứ thuốc bác sĩ kê ra trong toa thuốc không? Hóa ra chúng ta thường xuyên cậy dựa vào những kỹ năng và hiểu biết của những người khác, những người hiểu rõ vấn đề trong lĩnh vực chuyên môn, và chúng ta tín nhiệm, tin tưởng nơi họ. Một xã hội không có sự tin tưởng nhau thì không thể sống nổi. Niềm tin “tự nhiên” là cách diễn tả sự tin tưởng lẫn nhau mà nếu không có, chúng ta không thể sống chung, không thể hòa với thế giới được.
Đức tin siêu nhiên là sự chắc chắn, có nền tảng vững vàng, thường xuyên được kiên cường bằng những kinh nghiệm của chính chúng ta và của người khác: chúng ta có thể hoàn toàn và tuyệt đối tin tưởng vào Thiên Chúa. Nếu trong đời sống thường ngày, chúng ta không ngừng tin tưởng vào những kỹ năng và hiểu biết của người khác (các chuyên viên), thì lại càng có lý hơn khi tin tưởng và cậy dựa vào Đấng toàn năng và toàn tri, Đấng tạo dựng trời và đất, Đấng nắm giữ mọi sự trong tay Ngài. “Nhờ đức tin, con người tự hiến toàn thân cho Thiên Chúa” (GLHTCG số 1814); “Bằng đức tin, con người đem trí khôn và ý chí của mình quy phục Thiên Chúa cách trọn vẹn” (số 143). Đây không phải là sự vâng phục mù quáng, nhưng đúng hơn, là sự tín nhiệm đầy yêu thương nơi Đấng đáng tin hơn bất cứ thụ tạo nào.
Tự sức mình, chúng ta không thể có được sự quy phục mặc khải và thánh ý Thiên Chúa. “Đức tin là một hồng ân…”, ân sủng Thiên Chúa ban cách tự do (số 153). Dù vậy, hồng ân này cần được chăm sóc. Đức tin có thể phát triển mà cũng có thể lụi tàn, tùy vào việc chúng ta có “giữ đức tin” hay không (số 1816) hay là đánh mất (số 162). Để đức tin mạnh mẽ, cần có hành động (số 1815), nghĩa là một đời sống bằng đức tin và làm chứng cho đức tin (số 1816).
Đức tin không đồng nghĩa với “kinh nghiệm”. Nhiều vị thánh đã làm chứng rằng các ngài phải trải qua “đêm tăm tối của đức tin” (số 165), trong đó, cảm nghiệm và cảm xúc hầu như hoàn toàn vắng bóng, chỉ còn sự tín thác đầy yêu thương. Nhưng chính trong những giờ phút tăm tối đó mà đức tin chiếu sáng, bởi lẽ sự vững vàng của đức tin phát xuất từ sự trung tín của Thiên Chúa.

Bài 15. ĐỨC CẬY
Năm 1985, khi Đức hồng y Ratzinger xuất bản cuốn The Ratzinger Report (thực hiện dưới hình thức phỏng vấn về nhiều vấn đề quan trọng của Giáo Hội), cả một cơn bão phản đối và phê bình nổi lên. Ngài bị tố cáo là người bi quan vì đã mô tả tình hình đức tin bằng khung màu xám. Để trả lời cho những phê bình này, Đức hồng y đã trình bày sự khác biệt giữa hai cặp từ ngữ “bi quan – lạc quan”, và “hi vọng – thất vọng”.
Có những người có tính lạc quan. Họ vui vẻ, tự tin, không dễ chán nản, đang khi đó lại có những người tính khí bi quan, thường nhìn vào mặt tối của sự vật. Chúng ta không hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính khí của mình, dù có thể tác động lên nó cách nào đó.
Hi vọng là điều gì đó hoàn toàn khác với sự lạc quan. Với niềm tin tưởng, hi vọng hướng đến những gì sẽ đến và những gì chưa có trong hiện tại. Hi vọng trước hết là một thái độ của con người mà nếu không có, không thể nói đến cuộc sống làm người: bệnh nhân hi vọng hồi phục; người đang yêu hi vọng người yêu quay lại; những ai đau khổ vì chiến tranh hi vọng hòa bình. Cuộc sống con người ít nhiều được dệt bằng hi vọng. Không thể sống mà không có hi vọng. Phải chăng chết cũng có nghĩa là dập tắt mọi hi vọng? Nếu sự chết là tiếng nói cuối cùng, nếu cuộc sống trần thế này là “cơ may cuối cùng” trước hư vô, thì nói cho cùng, cũng chẳng có hi vọng đích thực. Khi đó, hi vọng một ngày Chúa nhật đẹp trời để trượt tuyết cũng chỉ là một ảo tưởng, bởi lẽ nó che giấu sự tuyệt vọng vì cái chết không thể tránh vẫn đang chực chờ.
Trong cách nhìn của Kitô giáo, hi vọng luôn luôn là niềm hi vọng vượt trên sự chết. Thánh Phaolô diễn tả về Tổ phụ Abraham: “Dù tuyệt vọng, ông vẫn một niềm hi vọng” (Rm 4,18). Không có dấu hiệu cụ thể nào ủng hộ ông cả: bản thân ông đã già, bà Sara vợ ông cũng thế. Nhưng Abraham vẫn tin vào lời hứa của Thiên Chúa rằng ông sẽ có con nối dõi. Dù bên ngoài là thực tế đầy thất vọng, Abraham vẫn tín thác vào Đấng sẽ ban cho ông đứa con, và ông còn sẵn sàng hiến tế đứa con ấy cho Ngài.
Đức Cậy (Hi vọng) không nhất thiết phải lạc quan. Đức Cậy nhận diện những khó khăn và tìm hiểu tình hình. Đức Cậy không tin, cũng chẳng mong chờ sự tiến bộ kỹ thuật sẽ tạo nên thiên đàng trần gian và loại trừ mọi khổ đau khỏi cuộc sống trần thế này. Đức Cậy dựa vào chính Thiên Chúa, cắm rễ nơi Đức Giêsu Kitô (Dt 6,19-20), và vững mạnh nhờ Thánh Thần. Nói như thánh Bonaventura: Đức Cậy “hi vọng Thiên Chúa và từ Thiên Chúa”.
Thiên Chúa là lý do và đối tượng chính yếu của Đức Cậy. Đức Cậy không bi quan. Đức Cậy vượt lên trên cái nhìn bi quan về những thực tại trần thế, vì nhờ đức tin, Đức Cậy bám chặt vào Thiên Chúa, Đấng đã phục sinh Chúa Giêsu từ cõi chết, Ngài sẽ chiến thắng sự chết và quyền lực của nó. Do đó Đức Cậy ban tặng niềm vui ngay giữa những thử thách: “Hãy vui mừng trong hi vọng, kiên nhẫn khi gặp gian truân” (Rm 12,12). Vì Đức Cậy hướng đến hạnh phúc bất diệt trên trời, cho nên “bảo vệ chúng ta khỏi sự nản chí, nâng đỡ khi bị bỏ rơi, mở rộng trái tim bằng sự mong đợi vinh phúc vĩnh cửu, gìn giữ chúng ta khỏi tính ích kỷ và đưa chúng ta đến với vinh phúc của đức mến” (GLHTCG số 1818). Đức Cậy làm cho chúng ta “không phải thất vọng” (Rm 5,5).

 ( Còn tiếp )
 
ĐHY Christoph Schönborn
Nguồn: hdgmvietnam.com
 
Từ khóa:

con số