Toà Giám mục Nha Trang 22 Trần Phú - HT 42 - Tp. Nha Trang - Khánh Hoà - Đt. (84) 58.3523842 - Fax (84) 58.3522494
Rss Feed

Một Bài Cảm Nghiệm Về Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận

Khi chập chững biết về ngài và chỉ có dịp gặp ngài một lần duy nhất lúc ngài còn sống, tôi ao ước có được những tài năng và đức tính nơi ngài.

(Một Bài Cảm Nghiệm Về Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận )
của Nguyễn H. Bảo

Tôi biết đến ngài qua một quyển sách một người tặng cho tôi cách tình cờ, lời lẽ trong sách thật đơn sơ, chân tình, nhưng chứa đựng giáo huấn và cảm nghiệm sâu xa, thâm thúy, sắc bén. Khi đọc, tất cả con người tôi như cuộn vào trong thần khí của quyển sách và giọng nói cùng chân dung tác giả như vang vọng hữu hình bên tôi. Ngài là Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

Ai đã từng biết ngài, trực hay gián tiếp, giới Công Giáo, Phật Giáo, Cao Đài, quốc gia, cộng sản, ngoại quốc, đều công nhận rằng ngài là một người có tài – một nhân tài của Việt Nam cũng như trên bình diện quốc tế. Tôi đọc sách về ngài và cảm phục những thành công phi thường cùng khả năng xuất chúng của ngài. Khi còn là một linh mục trẻ, ngài được Đức Giám Mục địa phương tuyển chọn trong một con số ít để gửi đi du học Roma. Khi vừa mới 31 tuổi ngài đậu bằng Tiến Sĩ Giáo Luật hạng Summa Cum Laude (Tối Ưu) trong khóa của ngài. Trở về nước ngài được bổ nhiệm làm Cha Giám Đốc tiểu chủng viện, rồi Cha Tổng Đại Diện tổng giáo phận. Ngài nói và viết lưu loát ít nhất tám ngôn ngữ khác nhau. Lúc 39 tuổi ngài được Đức Thánh Cha bổ nhiệm làm giám mục Việt Nam tiên khởi Giáo Phận Nha Trang, một trong những giám mục trẻ nhất thế giới lúc bấy giờ. Như Thánh Phanxicô Salêsiô, ngài có một khả năng chinh phục lạ thường. Với tài giảng thuyết nhẹ nhàng, dí dỏm, nhưng chiều kích sâu rộng, hầu như không ai đã từng nghe ngài giảng lại không bị lôi cuốn và đánh động. Ai từng tiếp xúc với ngài đều giữ lại nơi mình một ấn tượng dễ mến. Là bậc Chủ Chiên Nha Trang, ngài phát triển giáo phận mau chóng trong nhiều lãnh vực đạo đời, từ con số chủng sinh, tu sĩ nam nữ, tông đồ giáo dân cho đến các ban ngành giáo dục, kinh tế, xã hội. Trong một thời gian ngắn, kết quả mục vụ của ngài vượt mực. Nhiều giáo phận khác trong nước đã nhìn vào Nha Trang như là mẫu gương phát triển toàn diện cho chính mình. Cùng thời điểm đó, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chọn ngài làm Chủ Tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình, Chủ Tịch Ủy Ban Truyền Thông Xã Hội, Chủ Tịch Ủy Ban Phát Triển Việt Nam. Danh tiếng cá nhân ngài bắt đầu nổi bật trong Hội Đồng Giám Mục Á Châu và quốc tế. Tuy trong cương vị là một nhà lãnh đạo được xem là thành công vang vẻ, nơi ngài vẫn tỏa ra một tâm tình đơn sơ, giản dị, và không xem nặng quyền cao chức trọng cho bằng chu toàn bổn phận Chúa trao. Trong lòng chiếc nhẫn giám mục của ngài có khắc: “Todo pasa”, trích lời của Thánh Têrêsa Avila, “Todo pasa, solo Dios basta” (mọi sự sẽ qua đi, chỉ duy Thiên Chúa là đủ). Năm 47 tuổi, Đức Thánh Cha Phaolô VI bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám Mục phó với quyền kế vị tổng giáo phận Sài Gòn. Do tình thế thời chiến cấp bách, ngài được sắc lệnh di chuyển nhận giáo phận mới tức thời, không có dịp nói lời tạm biệt với giáo dân, giáo phận thân thương. Một đêm ngài đã khóc nhiều là đêm đó. Tuy có phần lưu luyến, ngài đi trong bình an tuyệt đối vì ngài vâng lời Đấng Kế Vị Thánh Phêrô. Ngài đã bị bắt giam mấy chục ngày sau đó. Mười ba năm kế tiếp (chín năm biệt giam) nhà thờ Chính Tòa của ngài là ngục tối, giáo dân của ngài là những người bạn tù đầy uất hận và những người cai tù được huấn luyện xếp ngài vào hạng xấu xa, tội lỗi – nguy hiểm đề cao.

Biết thêm về ngài qua nhiều trao đổi với các vị từng sống và làm việc với ngài, tôi nhận thấy nơi ngài là một con người cầu nguyện, suy tư. Vâng, ngài đam mê hoạt động nhưng tất cả những hoạt động đó phát xuất vì ngài cầu nguyện. “Thứ nhất cầu nguyện, thứ hai hy sinh, thứ ba mới đến hoạt động” (ĐHV #119). Như Thánh Phanxicô Xaviê, vị quan thầy của ngài, ngài đẩy mạnh mọi hoạt động, mọi lãnh vực, mong phát triển toàn diện mục vụ trong bổn phận ngài. Nhưng ngọn lửa hăng say mục vụ đó đã được thắp lên phừng phực trong các giờ ngài gắn liền chiêm niệm với Đức Kitô Thánh Thể. Trong thời gian biệt giam dài thăm thẳm, ngài đã trải qua những tra tấn hình phạt tưởng như thể lý và tinh thần con người không cam nổi. Sức chịu đựng trong ngoài thân xác, cùng ý chí của một nhà lãnh đạo tầm cỡ ngày nào như sụp đổ gãy vụn hoàn toàn. Có lần ngài không còn nhớ nỗi câu kinh Lạy ChaKính Mừng“Ave Maria” là hai từ ngữ duy nhất ngài còn biết và có thể thốt lên để dâng hết tất cả cho người Mẹ Thánh của Đấng vô tội chịu đóng đinh vì nhân thế.

Tôi ái mộ ngài còn vì ngài có tầm hy sinh cao độ, tuy không đồng hình đồng dạng nhưng cũng cùng mực như Cha Thánh Đamien đảo Molokai. Sinh trưởng trong một gia đình hít thở không khí chính trị hằng ngày, ngài thường bị hiểu lầm và công kích từ nhiều phía với các nỗ lực thành công của ngài. Và sau này, vì lợi ích chung cho các tín hữu và trung thành với Hội Thánh ngài đã hy sinh chấp nhận tù tội lưu đày. Lòng vị tha của ngài đã cảm hóa nhiều người từng hiểu lầm ngài và những ai bách hại ngài. Lòng yêu thương của ngài múc nguồn từ Đức Giêsu Chí Thánh và từ giáo huấn Công Đồng Vatican II đã là lý do xóa tan sự chia rẽ tôn giáo trong quá khứ, và mang thiện cảm gương mặt Hội Thánh Công Giáo đến nhiều người. Và cũng như Cha Thánh Đamien lúc trẻ, ngài là một vị giám mục trẻ đẹp trai, trìu mến.

Khi được trả tự do sau mười ba năm không tuyên hay kết án, nhà cầm quyền trục xuất ngài khỏi quê hương yêu dấu. Thế giới tự do và Tòa Thánh mở rộng cánh tay đón tiếp ngài. Là một giám mục không tòa, ngài đi đây đó minh chứng tình yêu Thiên Chúa chinh phục tất cả, và một hy vọng không bao giờ chết. Không nhắc về quá khứ đau thương hay tạo cơ hội cho thù hận nảy nở, ngài rao giảng tha thứ, hòa giải, yêu thương. Yêu thương cho đến hiệp nhất giữa mọi người. Từ đó ngài trở nên một chứng nhân hy vọng của sự yêu thương tuyệt đối hùng hồn, trong một thế giới rã rời, buông xuôi. Người tù nhân ngày trước được bổ nhiệm vào chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình vào năm 1998. Quả thật hy vọng không chết! Vị giám mục tiên khởi Giáo Phận Nha Trang trở thành vị hồng y thứ tư của Việt Nam. Và khi giới chuyên môn làm một khảo cứu xem hồng y nào có cơ hội đắc cử Giáo Hoàng cao nhất phòng khi Đức Thánh Cha đương kim cao niên băng hà, tên của ngài qua nhiều lần thẩm định đứng vào số thứ hai trong danh sách hơn 120 vị hồng y toàn cầu.

Tôi thụ ơn ngài vì ngài đã dạy cho tôi rất nhiều về Hội Thánh, và dạy cho tôi mến yêu Hội Thánh – một Hột Thánh Chúa tồn tại hơn hai ngàn năm và sẽ đến tận cùng. Những gì tôi biết về Hội Thánh, các giáo huấn, Thánh Kinh, các thánh, các chứng nhân, các công đồng, và đặc biệt là Công Đồng Vatican II, là do ngài dạy tôi gián tiếp qua các tập sách Hy Vọng. Như chị nữ tu đời Ange Hattei, tôi hạnh phúc biết mình thuộc về Hội Thánh rộng lớn toàn cầu bao gồm tất cả thánh nhân cùng tội nhân, nhưng trên hết vì đó là Hội Thánh do chính Ngôi Hai Thiên Chúa sáng lập. Tôi hạnh phúc bênh vực như chị nữ tu và như cuộc sống của ngài: “Hội Thánh là tôi.” Nhờ ngài tôi tự hào mình thuộc về một tổ chức con người có một phương pháp điều hành rất tiên tri, phẩm trật, và tôn trọng.

Khi chập chững biết về ngài và chỉ có dịp gặp ngài một lần duy nhất lúc ngài còn sống, tôi ao ước có được những tài năng và đức tính nơi ngài. Tôi say mê, mơ tưởng, hy vọng, thực hành trở nên giống ngài: một học giả xuất sắc, một lãnh đạo tài ba, một thuyết gia phi thường, một trí tuệ khôn ngoan, một giám mục trung thành, một tín đồ chính thống, một công dân ái quốc, một con người dễ mến. Ngài lôi cuốn giới trí thức, ngài đối thoại với lương dân, ngài phát triển mọi phương diện, ngài sống phút hiện tại, ngài chinh phục như tất cả những ai xem ngài là kẻ thù. Ngài cảm hóa những gì không phát xuất từ yêu thương. Ôi còn nhiều và nhiều nữa. Nhưng sau này, qua sự trưởng thành trong cuộc sống đạo đời, trên những thành công của ngài, trên những khả năng hay biệt tài, tôi yêu mến và hy vọng được phản ảnh ngài trên hết những gì đã nêu trên vì ngài là … một vị thánh.*

* Nước Việt Nam có 117 Thánh Tử Đạo, một vị Chân Phước Tử Đạo Andrê Phú Yên, nhưng chưa có một vị thánh hiển tu nào (thánh không tử đạo). Án phong Chân Phước cho Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã được mở vào ngày 16 tháng 9 năm 2007, năm năm sau khi ngài qua đời (thời gian ngắn nhất có thể mở sau khi ứng viên chết). Theo ý Chúa, nếu ngài được phong Chân Phước, song phong Thánh, ngài chẳng những là vị thánh hiển tu đầu tiên của nước Việt Nam, nhưng còn trên toàn cõi Đông Nam Á, và chỉ là vị thứ hai của khắp Á Châu, sau Thánh Alphonsa Muttathupadathu, vị nữ tu người Ấn Độ được Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI công bố ngày 12 tháng 10 năm 2008.
 

Nguồn tin: nguyenvanthuan.com

Từ khóa:

n/a