Toà Giám mục Nha Trang 22 Trần Phú - HT 42 - Tp. Nha Trang - Khánh Hoà - Đt. (84) 58.3523842 - Fax (84) 58.3522494
Rss Feed

Các cha thừa sai quản xứ Dinh Thuỷ (Tấn Tài)

Linh mục thừa sai tiên khởi thành lập Giáo xứ Dinh Thuỷ (Tấn Tài) là Cha Marie-Louis-de-Gonzague Villaume (Cố Đề), (QX:1882-1900) tiếp theo là Cha L. Nezeys (QX 1900-1903), Cha Al. Boivin, Cố Nhã (QX 1903-1907), Cha Jules Labiausse, Cố Sáng (QX 1907-1920), Cha Guillaume David, Cố Yên (1920-1924), Cha Marcel Piquet, Cố Lợi, nguyên giám mục Nha Trang sau này, (QX 1924-1928), Cha Pierre le Darré, Cố Châu (QX 1928-1945), Cha Emile Laborrier, Cố Hào (QX:1947-1948), Cha Paul Valour, Cố Lực (QX 1948-1951) Marc Lefebvre, Cố Kim
1.-Cha Marie-Louis-de-Gonzague Villaume (Cố Đề)
(15/2/1858-6/9/1900)
Cha quản xứ tiên khởi Dinh Thuỷ (Tấn Tài) 1882-1900
 
VILLAUME, Marie-Louis-de-Gonzague, (Cố Đề) sinh ngày 15 tháng Hai 1858 tại Giáo xứ Belmont-sur-Buttant, thị xã Vervezelle (Vosges), cha theo tu học tại một trong các tiểu chủng viện và đại chủng viện của giáo phận Saint-Dié. Cha được thụ phong linh mục ngày 12 tháng ba 1881. Cha lên đường truyền giáo tại miền Đông Nam kỳ (Qui nhơn) vào ngày 4 tháng Năm năm sau. Năm 1882, cha đến Phan Rang và thành lập giáo xứ Tấn Tài (Dinh Thuỷ), bao gồm toàn bộ tỉnh Bình Thuận, nơi đây chưa có bất cứ nhà truyền giáo nào cư ngụ. Tấn Tài là một xóm đạo hình thành khoảng năm 1664 do những binh lính công giáo gốc Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên trong đội quân Nam tiến chống quân Champa.

Do phong trào Bình tây sát tả năm 1885, cha buộc phải chạy trốn cùng với các giáo dân qua những khu rừng nằm giữa Bình Thuận và vùng Bà Rịa với muôn vàn gian lao khổ cực; cha có viết một câu chuyện bổ ích về chuyến đi này. Un souvenir de la persécution dans la mission de Cochinchine orientale.- Nhà in Gustave Picquoin,51, đường phố Lille, Paris,1889, khổ-8,61 tr.)
 
Quay lại giáo xứ sau khi cơn bách hại chấm dứt, cha quan tâm săn sóc cho quyền lợi tinh thần và vật chất của dân cư trong vùng. Cha cho xây lại nhà xứ, nhà thờ Tấn Tài. Nhà thờ được khánh thành vào năm 1900 để dâng kính Đức Mẹ Mân Côi.

Năm 1887, cha cho khôi phục lại con mương cũ (Mương ông Cố hiện nay), nhằm gia tăng công việc dẫn nước cho vùng thung lũng gần đó ; năm 1889, cha khôi phục đập và con mương Rừng Cấm (Lâm Cấm); và năm 1890, cha thay thế đập chắn cũ của Nha Trinh.

Ngoài ra, cha còn lập nên cả một vùng ruộng lúa với kết quả thành công đến nỗi một viên thanh tra nông nghiệp trong bản báo cáo chính thức gọi tác giả của nó là “nhà khai khẩn cừ khôi của xứ Annam". Với sự cộng tác của một người Pháp, cha bắt đầu thực hiện một công trình dẫn thuỷ mới, quy mô và khó khăn hơn những công trình trước kia, nhằm làm màu mỡ cho vùng cao của thung lũng sông Cái (sông Phan Rang)(1)

Công trình vừa kết thúc, thì vào ngày 6 tháng Chín năm 1900, nhà truyền giáo 42 tuổi đã bị nước cuốn và chết đuối trong khi đi khảo sát đập Nha-Trinh.

Việc ra đi của ngài là một tổn thất lớn lao đối với toàn xứ sở và đối với công cuộc truyền giáo. Thi hài của ngài được an nghỉ trong nhà thờ Dinh Thuỷ (ở phía tay trái trước bàn thờ Thánh Tâm).
 
(1) QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN viết:
Tháng 11 năm Kỷ Sửu (1889) triều đình : "Thưởng Linh mục Đề ở xứ Ninh Thuận một đồng kim tiền hạng lớn. Lúc đầu Linh mục Đề đắp đập Nha Trinh (ở địa phận thôn Mỹ Thạnh, dài 260 thước Tây, rộng 10 thước Tây, chân đập rộng 15 thước Tây, cao hơn 4 thước Tây, mất 45000 ngày công, trải qua 4 tháng thì đắp xong, tưới nước cho hơn 5600 mẫu ruộng), vì có công bảo vệ nghề nông, nên chuẩn chiểu lệ năm Đồng Khánh thứ 3 thưởng cho (tháng 9 năm ấy Linh mục lại đắp đập Lâm Cấm, chuẩn thưởng cho một đồng kim tiền Triệu dân lại chi hạng lớn). Lại những người có lòng giúp đỡ (Chánh tổng Nguyễn Như, Trưởng đập Bùi văn Lược, thưởng hàm chánh cửu phẩm, Bang tá Thường Hậu thưởng hàm tòng cửu phẩm, đều là bá hộ) cũng được thưởng theo thứ bậc khác nhau"
(Đại Nam thực lục chính biên đệ lục kỷ phụ biên, Cao Tự Thanh dịch, trang 103)
 
 
2.-NÉZEYS, Louis-Alexandre-Ferdinand,
(1861- 1906)
 
Cha chào đời tại Yssingeaux (Haute-Loire) ngày 11 tháng Giêng 1861.. Cha vào chủng viện Thừa sai hải ngoại ngày 2 tháng mười 1883, được thụ phong linh mục ngày 24 tháng chín 1887, và lên đường truyền giáo ngày 14 tháng mười hai tại giáo phận Đông Đàng Trong. Sau hai năm (1888-1890) phục vụ tại Tấn Tài (Phan Rang), (Ninh Thuận), với chức vụ phụ tá cho cha Villaume, cha được gọi ra Làng Sông tháng sáu 1890, và làm việc vài tháng để lo cho vụ án phong chân phước cho cha Cuenot. Vào tháng chín, cha được bổ nhiệm làm cha sở Đồng Quả ; cha thành lập ở đây nhiều giáo điểm với những nhà nguyện khiêm tốn và đưa nhiều người trở lại đạo, vì từ 320 số người công giáo tăng nhanh đến 1200 người.
 
Được bổ nhiệm làm quản lý của giáo phận truyền giáo vào tháng sáu 1894, cha phục vụ cho đến tháng ba 1898 ; sau đó cha được gửi đến giáo xứ Tấn Tài một lần nữa để phụ tá cho cha Villaume, rất bận công tác thuỷ lợi và sau đó thay thế cha Villaume sau khi cha bị tai nạn từ trần. Năm 1903, cha trở thành giáo sư Tiểu chủng viện Làng Sông. Vì bệnh rất nặng, cha trở về Pháp năm 1905, và mất tại Loches (Indre-et-Loire) ngày 19 tháng năm 1906.
 
3.-Alexis, François BOIVIN, Cố Nhã
(1870- 1923)
 
Cha sinh ngày 13 tháng hai 1870, tại làng Chateauneuf, thị xã Saint-Sauves, giáo phận Clermont, tỉnh du Puy-de-Dome.
 
Ngày 16 tháng mười 1889, cha vào chủng viện Thừa sai hải ngoại. Cha được thụ phong linh mục ngày 02 tháng bảy 1893, nhận bài sai truyền giáo tại giáo phận Đông Đàng Trong (Qui Nhơn) ; cha rời Paris ngày 19 tháng mười hai 1893 để sang Việt Nam.
 
Đến Qui Nhơn ngày 24 tháng Giêng 1894, cha được gửi đến Kim Châu để học tiếng Việt. Lễ Noel 1894, cha trở thành giáo sư Tiểu chủng viện. Tháng Giêng 1896, cha được bổ nhiệm làm cha phó Phan Thiết, cha cư ngụ thường xuyên tại giáo điểm Cù My, nơi cha bị nhiễm bệnh sốt rét. Năm 1899, sau khi nghỉ dưỡng tại Hồng Kông trở về, cha trở thành quản xứ Đồng Quả, rồi tháng Giêng 1904, quản xứ Tấn Tài. Tháng mười một 1907, cha quay lại Đồng Quả. Tháng Giêng năm 1912, cha trở về Pháp. Khi quay về giáo phận vào tháng tư 1914, cha được bổ nhiệm làm cha quản xứ Cù Và, nhiệm sở cha đã giữ cho đến khi từ trần.
 
Cha Boivin là một người hết sức khiêm tốn đến mức từ chối những sự phân biệt đối xử và trách nhiệm quan trọng. khi linh tính trở thành Bề trên của Đại chủng viện, cha yêu cầu huỷ bỏ việc bổ nhiệm; cha chấp nhận một cách khó khăn tham gia vào một Ủy ban của Giáo phận.
 
Cha có lòng từ thiện không có giới hạn, sẵn sàng mở hầu bao cho người thiếu thốn, trái tim cha càng rộng mở hơn. Cha không do dự làm trung gian để xoa dịu sự bất hoà hoặc đánh tan sự hiểu lầm. Cha rất am tường những phong tục tập quán của người Việt Nam, cha biết ngăn ngừa và làm dịu nhiều cuộc tranh chấp để làm hoà cả hai phía. Cha rất thích thơ ca, nhưng chỉ có một ít người có đặc ân biết đến các bài thơ của cha.
 
Ngày 19 tháng sáu 1923, các cha Poyet và Laborier Emile đến thăm cha Boivin. Các ngài thấy cha bị mắc bệnh năng; bản thân cha quen với những cơn sốt rét, và chứng đau thần kinh hông, nên cha không mấy lo lắng. Các ngài thông báo cho bác sĩ, và bác sĩ liền cho di chuyển cha đến bệnh viện ở Quảng Ngãi. Đó là ngày thứ năm 21 tháng sáu.

Ngày hôm sau, ý thức về tình trạng sức khoẻ của mình, cha gửi một bức điện tín sau cho Đức giám mục của ngài đang ở Sài Gòn: Nếu như con ra đi mà không gặp lại Đức Cha, xin tha thứ mọi tội lỗi của con ; con trải qua cơn sốt nặng ảnh hưởng đến tất cả các cơ quan. Được nhập viện từ nhiều ngày, Bác sĩ không chận đứng căn bệnh được. Cầu nguyện cho con. Vĩnh biệt."
 
Tình trạng của bệnh nhân không được cải thiện, bác sĩ quyết định chuyển cha về bệnh viện Qui Nhơn. Ngày 26 tháng sáu, cha được chuyển về Qui Nhơn vào lúc rạng đông. Từ khi về đến Qui Nhơn, cha Boivin bắt đầu mê sảng liên tục. Bác sĩ chẩn đoán cha mắc chứng sốt thương hàn.
 
Ngày 27 tháng sáu 1923, khoảng ba giờ sáng, y tá nhận thấy mạch của cha xuống rất thấp, liền tiêm cho cha một mũi tiêm dầu long não. Sau mũi tiêm, cha Boivin thở ra hai hoặc ba lần và thở hơi cuối cùng.
 
Sau lễ cầu hồn ở nhà thờ Qui Nhơn, linh cửu cha được chuyển về Làng Sông. Việc an táng diễn ra vào sáng hôm sau với sự hiện diện của các chủng sinh của Chủng viện, các nữ tu sĩ, đông đảo giáo dân và 26 linh mục thừa sai và linh mục Việt Nam.
 
4.-LABIAUSSE Jules, Cố Sáng
(1874-1941)
 
Cha chào đời ngày 26 tháng tư 1874 ở Fourmies (Nord), được nhận vào chủng viện Thừa sai hải ngoại ngày 16 tháng chín 1893, Cha được thụ phong linh mục ngày 27 tháng sáu 1897. Cha lên đường truyền giáo tại giáo phận đông Đàng Trong ngày 28 tháng bảy 1897.

Cha được gửi đến Sông Cái để học tiếng Việt rồi được bổ nhiệm làm cha sở Kỳ Tương năm 1898. Năm 1899, cha được gửi đến Phan Thiết, nơi đây cha thành lập cộng đoàn Kitô hữu Phú Hải. Năm 1907, cha được bổ nhiệm làm cha sở Tấn Tài (Phan Rang) ; cha xây dựng một nhà thờ gần Tấn Tài trong Giáo họ mới Láng Mun.

Năm 1920, cha được giao phụ trách giáo điểm Kim Châu. Năm 1927, cha được bổ nhiệm làm tổng đại diện và cư ngụ tại Làng Sông. Năm 1931, cha trở thành cha sở Qui Nhơn, nơi cha mất ngày 15 tháng sáu 1941.
.
 
5.-DAVID Guillaume (Cố Yên)
(1881-1957)
 
Cha sinh ngày 20 tháng mười một 1881 ở Pompignan (T.-et-G.), được nhận vào chủng viện thừa sai hải ngoại năm 1900, thụ phong linh mục ngày 29 tháng sáu 1905 và nhận bài sai truyền giáo tại Đông Đàng Trong.

Sau khi học tiếng Việt, ngài coi sóc giáo điểm Phú Thượng, cho đến khi động viên năm 1916. Khi trở về phục vụ trong hội truyền giáo năm 1922, ngài trông coi giáo xứ Tấn Tài (Dinh Thuỷ), rồi năm 1926, ngài được bổ nhiệm làm bề trên ĐCV Qui Nhơn. Năm 1948, ngài trở thành cha tuyên uý các Soeurs dòng MTG Gò Thị, và năm 1953, tuyên uý các tiểu đệ thánh Giuse.
Từ năm 1956, ngài về hưu dưỡng tại nhà Cuénot, ở Nha Trang, nơi ngài mất ngày 19 tháng sáu năm 1957. Cha được an táng tại nghĩa trang Giáo xứ Bình Cang.

(còn tiếp)
 
Nguyễn Kim Ngân chuyển ngữ

Từ khóa:

n/a