Toà Giám mục Nha Trang 22 Trần Phú - HT 42 - Tp. Nha Trang - Khánh Hoà - Đt. (84) 58.3523842 - Fax (84) 58.3522494
Rss Feed

Giáo phận Nha Trang hình thành và phát triển trong 60 năm qua

LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN NHA TRANG
 
Lịch sử xuôi theo dòng thời gian nhưng luôn để lại những dấu vết chuyển tải thông điệp cho thế hệ tương lai. Lần theo những dấu vết ấy, chúng ta có thể nhận ra muôn ngàn hồng ân mà Thiên Chúa đã tuôn đổ trên mảnh đất của giáo phận Nha Trang thân yêu hôm qua cũng như hôm nay. Đọc lại những chứng cứ đức tin xưa và nay với tâm tình cảm tạ - tri ân Thiên Chúa, chính là phương thức giúp mỗi người chúng ta nhìn lại căn tính Kitô hữu của mình, một giá trị vô cùng quí báu đã được gieo trồng, vun xới và giữ gìn bằng chính dòng máu tử đạo cũng như đức tin kiên trung của các bậc tiền nhân xuyên suốt gần 400 năm qua.

I. Tiền Tông tòa: Thời kỳ chuẩn bị với những dấu ấn đức tin

Với cuộc chiến thắng của Hiền vương Nguyễn Phúc Tần năm 1653, bờ cõi của Đàng Trong được mở rộng thêm từ đèo Cù Mông (Phú Yên) đến tận phía Bắc sông Phan Rang. Phủ Thái Khang và Diên Ninh (tỉnh Khánh Hòa ngày nay) đã được thiết lập sau chiến thắng này. Từ đó, một số giáo dân Công giáo gốc Nam sông Gianh, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định đã di chuyển đến lập nghiệp, sinh sống rải rác tại một số nơi thuộc vùng đất của giáo phận Nha Trang sau này, như Nha Ru - Gò Muồng (Ninh Hòa), Lâm Tuyền (Chợ Mới, trước năm 1671), Dinh Thủy (Tấn Tài, 1664) … Họ nằm trong số di dân được chúa Nguyễn đưa đi khai khẩn và trấn giữ những vùng đất mới. Những tín hữu này phải sống đạo cách âm thầm, kín đáo, vì thời kỳ này có rất ít thừa sai Dòng Tên tại Đàng Trong nhưng lại có nhiều cuộc bắt đạo của Hiền vương. Tuy không được các thừa sai thăm viếng và chăm sóc thường xuyên nhưng trong âm thầm họ vẫn trung kiên với đời sống đức tin nơi gia đình, làng xóm. Đây có thể là một điểm lịch sử rất đặc thù của giáo phận Nha Trang. Có lẽ một vài thừa sai Dòng Tên trong thời gian truyền giáo tại Hội An, Nước Mặn đã viếng thăm vùng đất Khánh Hòa và cha Hainques - Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris (MEP) - năm 1665 có ghé qua vùng Ninh Thuận và Khánh Hòa trên đường ra Huế, nhưng chính những người Kitô hữu địa phương đã mang hạt giống đức tin gieo rắc trên vùng đất mới.

Đây là thời kỳ di dân, khai khẩn nên rất khó để xác định chính xác những mốc thời gian và con số giáo dân đã đặt chân đến vùng đất của giáo phận Nha Trang. Theo Cha Philipphê Bỉnh, tính đến năm 1676 có khoảng 100.000 giáo dân tại Đàng Trong và vương quốc Champa. Năm 1700 con số này đã lên đến 150.000 tín hữu. Nhưng theo ước tính của Đức cha Pérez và Linh mục Labbé vào năm 1693 thì có khoảng từ 30 đến 40 ngàn người Công giáo tại Đàng Trong.

II. Thời kỳ Tông tòa: 300 năm đặt nền móng và bảo vệ đức tin

Qua Sắc chỉ Super Cathedram ban hành ngày 09.09.1659, Đức Thánh Cha Alexandre VII bổ nhiệm Cha Phêrô Lambert de la Motte làm Giám mục Hiệu tòa Beryte cai quản giáo phận Đàng Trong và Cha Phanxicô Pallu, Giám mục Hiệu tòa Hélipolis cai quản giáo phận Đàng Ngoài. Kể từ giây phút này, Giáo hội Việt Nam đã có hai vị giám mục của riêng mình, mặc dù phải chờ thêm nhiều năm sau các vị ấy mới có thể vào được quê hương của chúng ta.

Sau 9 năm chờ đợi tại Ayutthaya - Thái Lan, ngày 01.09.1671 Đức cha Lambert de la Motte với sự tháp tùng của bốn linh mục là Cha Vachet, Cha Mahot, Cha Giuse Trang và Cha Luca Bền, đã đặt chân đến vùng đất của sứ vụ mà ngài được ủy thác, và điểm đến đầu tiên chính là địa sở Chợ Mới (Lâm Tuyền) nằm bên bờ sông Cái, Nha Trang. Theo sử gia Françoise Fauconnet-Buzelin, Đức cha Lambert đã đến đây vào ban đêm. Nhờ sự tổ chức của các Kitô hữu địa phương, ngài được giấu trong lưới đánh cá và cáng bằng võng đến một ngôi nhà nơi đang có các giáo dân quy tụ. Hơn 800 giáo dân lần lượt đến chào ngài và cũng trong dịp này, ngài đã ban phép Thêm sức cho khoảng 200  trẻ em cùng vài người lớn. Sau đó, Đức cha Lambert đã đi thăm và dâng thánh lễ cho khoảng 100 giáo dân vùng Ninh Hòa (Nha Ru) trước khi ngài lên đường đi Nước Mặn và Hội An. Như thế, vào thời điểm cuộc viếng thăm đầu tiên của vị giám mục tiên khởi Đàng Trong, tại Khánh Hòa đã có những cộng đoàn Kitô hữu tại Lâm Tuyền (Chợ Mới), Nha Ru - Gò Muồng (Ninh Hòa) và tại vùng Phan Rang giáp ranh phủ Thái Khang.

Kể từ năm 1672, tại vùng đất Khánh Hòa ngày nay đã có hai linh mục là Cha Mahot (MEP) và Cha Luca Bền đặc trách công việc mục vụ, chăm lo đời sống tinh thần cho bà con giáo dân. Khoảng thời gian 1673-1674, đời sống đạo khá yên ổn, các cuộc bách hại tạm dừng, nên số người đón nhận Bí tích Rửa tội gia tăng đáng kể, đến độ các cha không đủ sức để lo cho họ. Vì thế, sau khi hoàn tất cuộc kinh lý lần thứ hai và rời Nha Trang ngày 22.04.1674 Đức cha Lambert đã tăng cường cho giáo phận Đàng Trong ba linh mục: Cha Gabriel Bouchard, Cha Jean Courtaulin - thừa sai người Pháp - và Cha Manuel Bổn, người Việt. Năm 1676, vâng lời Đức cha Lambert, Cha chính Courtaulin đã thành lập cộng đoàn Mến Thánh Giá tại Lâm Tuyền (Chợ Mới), sau đó mở thêm nhà thương tại Hà Dừa, nhà mồ côi và dưỡng lão tại Gò Muồng. Nhưng không lâu sau đó, vào những năm 1700 - 1704 (thời chúa Nguyễn Phúc Chu) đã xảy ra một cuộc bách hại nặng nề làm cho nhiều nhà thờ và cơ sở Công giáo bị tàn phá, các thừa sai và một số giáo dân bị bắt giam, bỏ đói, chết rũ tù. Lịch sử Công giáo vùng Nha Trang và Ninh Hòa còn lưu lại tên tuổi của một số chứng nhân đức tin, đã chết vì danh Chúa, như: ông Lôrensô Hoan, ông Antôn An, ông Inhaxiô Lữ, ông Phêrô Tam,  bà Anê Bưởi và bà Agata Cư ...

Trong vùng Khánh Hòa thì Chợ Mới (Lâm Tuyền) là nơi đón tiếp nhiều vị thừa sai trong đó có các giám mục như Đức cha Mahot và Đức cha Labbé (1709). Đến thời Đức cha Armand Lefèbre (1741 - 1760), Chợ Mới, Bình Cang và Hà Dừa trở thành những cơ sở hoạt động mục vụ của các giám mục và thừa sai.

Theo thống kê của thừa sai Rivoal gửi cho Hội Thừa sai Hải ngoại Paris năm 1747 (thời Đức cha Armand Lefèbre) vùng Nha Trang có 9 nhà thờ và giáo họ với tổng số 815 giáo dân; vùng Ninh Hòa có 6 nhà thờ và giáo họ với tổng số 583 giáo dân; vùng Phan Rang có 140 giáo dân. Ghi chép của Đức cha Lefèbvre còn cho biết vào năm 1738, ngài đã thành lập một cộng đoàn hơn 50 người tại địa sở Mo Van (có lẽ là Đầm Nại mà ngày xưa gọi là cửa biển Ma Văn), cách Phan Rang chừng 15 km.

Trong bối cảnh của Đàng Trong những năm 1750 - 1771, vùng Khánh Hòa gặp nhiều khó khăn trong đời sống đạo, vì các thừa sai bị trục xuất nên không có các sinh hoạt mục vụ. Năm 1750, Đức cha Bennetat khi đi kinh lý vùng này cho biết Nha Trang và Nha Ru đã có 14 nhà thờ do các thầy giảng coi sóc. Dù thiếu các vị chủ chăn, bà con giáo dân vẫn kiên trì giữ vững đức tin bằng kinh nguyện trong gia đình. Trong thời kỳ bách hại này, tại vùng Nha Ru - Ninh Hòa, các cơ sở Công giáo bị tàn phá, giáo dân bị phân tán và một số chết rũ tù.

Vào thời Tây Sơn của những năm 1771 - 1777, tại vùng Khánh Hòa và Ninh Thuận đạo Công giáo không phát triển nhiều; một phần vì chiến tranh, phần khác vì thiếu nhân sự cho việc rao giảng Tin Mừng. Trong suốt thời kỳ này, chỉ có một mình Cha Martinô Phiên chăm sóc giáo dân cả hai tỉnh mà thôi. Có lẽ vì vậy mà người ta không thấy những cộng đoàn, giáo xứ mới được thành lập vào thời kỳ này. Giai đoạn cuối triều Tây Sơn (1783-1799) cũng không mấy sáng sủa đối với địa phận Đàng Trong. Giữa năm 1786, nhiều nhà thờ tại vùng Nha Trang và Bình Thuận bị tàn phá nhưng vài năm sau đó, bà con giáo dân đã lần hồi xây dựng lại. Trong thư đề ngày 06.01.1791 Đức cha Labartette đã thổ lộ rằng: “Trong những năm gần đây, có rất ít người lớn theo đạo và năm nay chúng tôi thấy con số giáo dân giảm đi một phần ba so với mấy năm trước đây”. Xuyên suốt thế kỷ 18, đạo Công giáo ở vùng Khánh Hòa – Ninh Thuận gánh chịu cùng một số phận với toàn địa phận Đàng Trong: bị cấm cách, bắt bớ, chiến tranh loạn lạc nên người Kitô hữu phải chịu nhiều cuộc ly tán và sống trong âm thầm.

Vào những năm dưới triều vua Gia Long (1802-1820), đạo Công giáo trong cả nước tuy hưởng được sự bình yên nhưng không có sự biệt đãi nào như người ta từng mong đợi. Các nhà thờ bị đổ nát chỉ được phép trùng tu khi có phép của quan tỉnh, nhà thờ mới hầu như không được phép xây cất. Từ năm 1806 - 1821 dân số Công giáo chỉ tăng 13.000 người ở Đàng Trong. Điều này cho thấy số giáo dân vùng Khánh Hòa – Ninh Thuận cũng không tăng lên bao nhiêu.

Thời vua Minh Mạng (1820 - 1841), giáo dân chịu nhiều bách hại; đặc biệt với chỉ dụ cấm đạo 06.01.1833, đã nảy sinh nhiều cuộc truy bắt người Công giáo và tàn khốc nhất là vào 3 năm cuối đời của vị vua này. Nhằm thoát khỏi những cuộc bách hại đó, cuối năm 1830, có khoảng 30 gia đình từ Quảng Nam và Quảng Ngãi đã chạy vào Rừng Lai sinh sống, đặt nền móng cho giáo xứ Phước Thiện sau này. Đến triều vua Tự Đức (1847 - 1883), Giáo hội Công giáo cả nước phải đối diện với nhiều cuộc bắt bớ, tàn phá kinh hoàng. Tại địa phận Nha Trang vốn thuộc Đông Đàng Trong, giáo dân cùng chung số phận với những cuộc lưu đày, phân tháp, sách nhiễu nặng nề. Theo bảng tổng kết hoạt động của Chủng viện Thừa sai Hải ngoại Paris, tại Khánh Hòa 54% giáo dân bị tàn sát, số người chạy thoát được tàu Đức đem vào Sài Gòn và vào năm 1888 đã có 1318 tín hữu trở về. Cũng từ biến cố này, một số giáo dân gốc Quảng Bình đã chạy vào vùng Phan Rang và lập nên giáo xứ Bình Chính ngày nay. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau biến cố đau thương này, giáo dân tại chỗ cùng nhiều người mới trở về đã cộng tác tái thiết các nhà thờ đổ nát, từng bước mở ra nhiều giáo xứ và họ đạo mới. Từ đó đến hết nửa đầu thế kỷ 20 là thời gian mở mang, kiến thiết và xây dựng lại các nhà thờ tại Láng Mun (Tân Hội ngày nay), Phước Thiện, Cây Vông, Đại Điền, Mỹ Hoán, Thạch Định, Vạn Giã… Đồng thời, khi con số giáo dân ngày càng tăng nhanh, nhiều giáo xứ mới đã được hình thành như Hộ Diêm, Gò Đền, Thanh Điền, Hòa Tân… Sau khi Hiệp định Genève được ký kết (20.07.1954), hàng chục ngàn giáo dân từ khắp nơi đã di cư đến Khánh Hòa, thêm nhiều giáo xứ mới được thành lập như Phước Hải, Thanh Hải, Bắc Thành, Ba Làng, Tân Bình, Phú Nhơn, Xuân Ninh… Có thể nói, 300 năm lịch sử đầy máu và nước mắt đã từng bước tạo nên nền móng vững chắc cho sự ra đời của giáo phận Nha Trang ngày nay.
 

III. Thành lập Giáo phận Tông tòa và Chính tòa Nha Trang: 60 năm phát triển

Với Sắc chỉ Crescit Laetissimo ký ngày 05.07.1957, Đức Giáo hoàng Piô XII đã ấn định lấy 3 tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận (thuộc giáo phận Qui Nhơn) và Bình Thuận (thuộc giáo phận Sài Gòn) để thành lập giáo phận Tông tòa Nha Trang. Tân giáo phận được cắt đặt dưới sự cai quản của Đức cha Marcel Piquet Lợi, nguyên Giám mục giáo phận Qui Nhơn từ năm 1943. Lễ Chúa Lên Trời, 15.05.1958, Đức ông Giuse Caprio, Nhiếp chính Khâm sứ Tòa thánh đã chủ sự nghi thức thành lập giáo phận Tông tòa theo luật định. Đến ngày 15.09 cùng năm, Đức cha Piquet chính thức chuyển về cơ sở 22 Duy Tân, Nha Trang, nơi được chọn làm Tòa Giám mục; và cũng trong ngày đó, Đức cha khai giảng niên khóa đầu tiên của Tiểu Chủng viện Sao Biển, tại Thanh Hải (Đồng Đế). Song song với việc chuẩn bị nhân sự cho giáo phận non trẻ của mình, Đức cha Piquet còn thao thức khai mở và phát triển đời sống thánh hiến. Ngài sáng lập Dòng Khiết Tâm Đức Mẹ và chính thức mở lớp thanh tuyển đầu tiên vào ngày 15.09.1958. Tiếp đến, ngày 16.10.1959 Đức cha chủ sự nghi thức thánh hiến tu viện Dòng Chúa Cứu Thế tại Nha Trang. Cuối tháng 09.1960, Đan viện Cát Minh được thành lập với các nữ đan sĩ người Việt Nam và Pháp từ Đan viện Carmel Moulins (Pháp) trở về. Ngoài ra, còn có một số hội dòng đã hiện diện và hoạt động trong giáo phận từ nhiều năm trước, như các dòng nữ: Mến Thánh Giá Tân Bình (Nha Trang), Thánh Phaolô thành Chartres, Đức Bà Truyền Giáo, Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn; và các dòng nam: Thánh Giuse, Phanxicô, La San, Đan viện Xitô Mỹ Ca … 

Ngày 24.11.1960, Hàng Giáo phẩm Việt Nam được thành lập. Giáo phận Tông tòa Nha Trang trở thành giáo phận Chính tòa. Do đó, ngày 23.06.1961 Đức cha Piquet nhận Tòa tại nhà thờ Chính Tòa Kitô Vua, Nha Trang.

Trong hoàn cảnh của một giáo phận non trẻ, vị giám mục cùng với linh mục đoàn đã không mệt mỏi bắt tay vào công việc kiến thiết các cơ sở tôn giáo, cộng đoàn giáo xứ và các hoạt động xã hội, đặc biệt là giáo dục. Các giáo xứ di cư dần dần đi vào ổn định, đời sống đức tin được củng cố dẫu rằng những phương tiện vật chất còn rất đơn sơ và khiêm tốn. Sau 9 năm với cương vị mục tử giáo phận Nha Trang, Đức cha Piquet đã được Chúa gọi về ngày 11.07.1966 trong sự quý mến và tiếc thương của đoàn chiên trong giáo phận. Ngài được an táng ngày 18.07.1966 bên sườn đồi nhà thờ Chính Tòa Nha Trang. 

Đúng một năm sau, vào ngày 10.07.1967, Đức Tân Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã đến với giáo phận Nha Trang, mang theo một bầu không khí trẻ trung, năng động như chính khẩu hiệu giám mục Vui Mừng và Hy Vọng của ngài. Tiếp nối đường hướng của vị tiền nhiệm, Đức cha Phanxicô Xaviê đã liên tục mở rộng công việc đào tạo nhân sự. Các Tiểu Chủng viện Sao Biển, Chúa Chiên Lành, Tinh Hoa, Lâm Bích lần lượt đón nhận các ứng sinh, từ con số 200 lên đến 500 và các đại chủng sinh được gửi đi học các nơi cũng tăng nhanh, từ 42 lên 147. Các hội dòng cũng được ngài khuyến khích gửi nhân sự đi tu học nhiều nơi trên thế giới. Đồng thời ngài cũng quan tâm đặc biệt đến hoạt động tông đồ giáo dân qua việc tổ chức các khóa huấn luyện Ban Hành giáo, Cursillos, Công lý và Hòa bình, Phong trào Focolare.

Những đoàn di dân từ Huế, Đà Nẵng đổ dồn về Nha Trang sau hai biến cố năm 1968 và năm 1972 đã làm cho số giáo dân trong giáo phận tăng lên đáng kể. Do đó, nhiều công việc mục vụ cấp bách được đặt ra như cứu trợ, tìm đất lập nghiệp và chăm lo đời sống tinh thần cho bà con... Nhiều giáo xứ mới được hình thành như Vinh Trang, Hòa Yên, Hòa Nghĩa, Vĩnh An, Vĩnh Bình, Song Mỹ, Quảng Thuận …

Tất cả những hoạt động vừa nêu trên cho thấy rằng, giáo phận Nha Trang đang từng bước trưởng thành để sẵn sàng gánh vác sứ vụ xây dựng và phát triển đức tin trên quê hương của mình, đồng thời chuẩn bị sinh ra cho Giáo hội thêm một giáo phận mới là Phan Thiết sau này.

Song song với những thay đổi của xã hội vào năm 1975, giáo phận Nha Trang cũng có nhiều đổi thay đặc biệt. Ngày 30.01.1975 Tòa Thánh tách hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy để thành lập giáo phận Phan Thiết với vị Tân Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa. Kể từ đó, địa bàn của giáo phận Nha Trang chỉ cỏn lại hai tỉnh Ninh Thuận và Khánh Hòa với tổng số giáo dân là 101.768 tín hữu. Nhưng chỉ vài tháng sau đó, vào ngày 24.04 Tòa Thánh có quyết định thuyên chuyển Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa làm Giám mục chính tòa Giáo phận Nha Trang và bổ nhiệm Đức cha Phanxicô Xaviê làm Tổng Giám mục phó giáo phận Sài Gòn. Trong khi chiến tranh đã kết thúc mà trật tự xã hội còn chưa ổn định thì vào ngày 07.05.1975, giáo phận phải ngậm ngùi chia tay Đức cha Phanxicô Xaviê và âm thầm chào đón Đức Tân Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa. 

Vào những năm 1975-1986, hoạt động tôn giáo gặp nhiều hạn chế. Đại Chủng viện Sao Biển bị đóng cửa và trưng dụng bởi chính quyền vào tháng 06.1979, các dòng tu không được phép thu nhận ứng sinh. Đức cha Phaolô trong Tinh thần và Chân lý đã cùng với các linh mục âm thầm và kiên nhẫn lèo lái con thuyền của giáo phận vượt qua những sóng gió khó khăn của giai đoạn lịch sử này. Bước sang những năm 1990, đời sống đạo dần dần khởi sắc. Đức cha được thăm viếng và ban phép Thêm sức tại các giáo xứ, các linh mục được hoán chuyển nhiệm sở, một số nhà thờ được sửa chữa hoặc xây mới. Vào cuối tháng 12.1991 Đại Chủng viện Sao Biển tái hoạt động trên cở sở mới tại 60 Lý Nam Đế, thành phố Nha Trang, nhằm đào tạo các ứng sinh linh mục của ba giáo phận Nam Trung bộ là Qui Nhơn, Ban Mê Thuột và Nha Trang. Các dòng tu cũng từng bước phục hồi sức sống và lớn mạnh theo năm tháng. Số tu sĩ ngày càng nhiều và hăng say dấn thân phục vụ trong một số hoạt động mục vụ giáo xứ cũng như xã hội.

Ngày 18.06.1997, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nho, một người con ưu tú của giáo phận và nguyên là giám đốc Đại Chủng viện Sao Biển, được tấn phong giám mục để cùng cộng tác gánh vác công việc lãnh đạo giáo phận với Đức cha Phaolô. Sau 6 năm tận tụy phục vụ giáo phận trong vai trò của một vị giám mục phó hiền lành và khiêm nhường, Đức cha Phêrô đã được Chúa gọi về ngày 21.05.2003 trước sự ngỡ ngàng và tiếc thương của giáo phận.

Hai năm sau, ngày 08.11.2005, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, đã bổ nhiệm Cha Tổng đại diện giáo phận Đà Lạt Giuse Võ Đức Minh làm Giám mục phó giáo phận Nha Trang. Vị Tân Giám mục được tấn phong ngày 15.12.2005 tại Nhà thờ chính tòa Đà Lạt và chính thức thi hành sứ vụ mục tử với cộng đoàn dân Chúa giáo phận Nha Trang ngày 30.12.2005.  Đến ngày 04.12.2009 ngài trở thành Giám mục Chính tòa thứ 4 của giáo phận khi Đức cha Phaolô được Tòa Thánh chuẩn thuận cho nghỉ hưu sau gần 35 năm phục vụ giáo phận Nha Trang.

Suốt những năm vừa qua, trong sứ vụ mục tử của mình, Đức cha Giuse đã dành tất cả tâm huyết để phát triển nhân sự và hoàn thiện cơ sở vật chất của giáo phận. Số linh mục và tu sĩ gia tăng đáng kể. Trung tâm Mục vụ khang trang với hội trường, nơi tĩnh tâm, một số văn phòng mục vụ để đáp ứng các nhu cầu của giáo phận. Đồng thời, Chủng viện Lâm Bích được xây dựng trong khuôn viên Trung tâm Mục vụ. Đại Chủng viện Sao Biển cũng được xây dựng, mở rộng thêm Phân khoa Triết học để có thể đón nhận và đào tạo khoảng 300 đại chủng sinh. Bên cạnh đó, Nhà nghỉ dưỡng Linh mục - một dấu chỉ thể hiện đạo hiếu của giáo phận đối với các linh mục cao niên - cũng được xây mới và khánh thành vào dịp lễ kính thánh Giuse 19.03.2013. Sau đó, nhân dịp khai mở Năm Thánh Lòng Thương Xót Chúa, Đền Thánh Mẹ Nhân Lành Khánh Vĩnh được cung hiến ngày 14.12.2015 tại thị trấn huyện miền núi Khánh Vĩnh và trở thành nơi hành hương cho mọi người trong cũng như ngoài giáo phận.

Mừng Ngọc khánh 1957-2017, giáo phận Nha Trang đã xây dựng và phát triển được 106 giáo xứ độc lập với những ngôi thánh đường, nhà xứ khang trang và được các vị mục tử chăm sóc, phục vụ. Nhiều giáo xứ còn có sự hiện diện của các cộng đoàn tu sĩ nam nữ để nâng đỡ đời sống thiêng liêng, tông đồ, phụ giúp giảng dạy giáo lý cũng như đóng góp nhiều hoạt động ích lợi cho đời sống xã hội. 

Giáo hội của Đức Giêsu Kitô là một mầu nhiệm mà tất cả chúng ta được mời gọi khám phá qua những sự kiện lịch sử hôm qua và hôm nay. Qua đó, chúng ta tìm về với cội nguồn của mình, nơi chúng ta được sinh ra trong đức tin và đón nhận muôn ngàn hồng ân từ Thiên Chúa.

Như viên ngọc quý cần trải qua thời gian dài mài giũa, giáo phận Nha Trang sau hành trình 60 năm đầy gian lao, thử thách và hôm nay đang tỏa sáng về đời sống đức tin, sẵn sàng lên đường làm chứng cho Tin Mừng của Lòng Thương Xót mà Thiên Chúa đã và đang trao ban cho nhân loại. 
Tác giả bài viết: BTT Giáo phận

Những tin mới hơn